Đào Mai Trang
Cho đến hôm nay, mỹ thuật đương đại Việt Nam tuy vẫn mang tính chất thử nghiệm nhiều hơn chuyên nghiệp nhưng đã bắt đầu nói lên tiếng nói riêng mình. Không ít nghệ sĩ mỹ thuật đương đại Việt Nam đã được mời tham gia một số triển lãm quốc tế lớn như Busan Biennale, Gwangju Biennale (Hàn Quốc), Brisbane Triennale (Australia),… Tuy nhiên, chưa từng một lần, các nghệ sĩ của chúng ta, cả trong Nam, ngoài Bắc và miền Trung, được cùng nhau trình diện công chúng mỹ thuật Việt Nam, ngoại trừ những triển lãm cá nhân rải rác.
Trong bối cảnh ấy, ý niệm về một Biennale cho mỹ thuật đương đại Việt Nam và quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh do một cá nhân – bà Ðỗ Thị Tuyết Mai – khởi động từ năm 1999, sớm được chú ý. Bà đã phát triển nó thành một dự án và nhận được tài trợ ban đầu của Quỹ Ford để triển khai thành hiện thực.
Khái niệm Biennale (hoặc Triennale)
Biennale (hoặc triennale) có nguyên nghĩa tiếng Anh là định kỳ hai năm (hoặc ba năm). Thành phố Venice (Italia) khởi động triển lãm Venice Biennale từ cuối thế kỷ XIX, với mong muốn đây sẽ là triển lãm mỹ thuật đương đại được định kỳ hai năm. Do quy mô và tính chất của triển lãm dạng này: không bó hẹp trong một quốc gia, không giới hạn phương thức thể hiện, thu hút đại chúng và dần dà, công chúng trở thành một thành phần tham gia tác phẩm, đóng góp trực tiếp sự sáng tạo của mình cho triển lãm, một Biennale đã vượt tầm chú ý ra khỏi biên giới một quốc gia. Venice Biennale giờ đây đã thực sự là một sự kiện mỹ thuật đương đại được trông chờ nhất trên toàn thế giới. Như vậy, hiệu ứng của một Biennale về mặt du lịch đã được nhìn thấy, không cần phải bàn cãi. Từ du lịch, hiệu ứng kinh tế được xác lập và tất nhiên, hiệu ứng giáo dục đồng thời được thừa nhận. Một vài con số từ Venice Biennale lần thứ 51, diễn ra từ 12 tháng 6 đến ngày 6 tháng 12 năm 2005 minh chứng cho điều này: 916.000 khách đã tới xem triển lãm (các Biennale tại Venice bao giờ cũng có bán vé), trong đó có 15.355 người mua vé theo chương trình vé trọn gói cho cả gia đình; 2.577 học sinh mẫu giáo và tiểu học; 16.518 sinh viên tham dự các chương trình giáo dục trong triển lãm; 4.662 nhà báo từ 57 quốc gia đã đến tham quan và viết bài về triển lãm; cuốn catalogue dày ba tập của triển lãm đã trở thành sách bán chạy nhất và được in lại tới ba lần… Biennale từ Venice lan sang Thụy Sĩ, Brazil, Hàn Quốc, Trung Quốc,… bên cạnh các Triennale ở Australia hay triển lãm định kỳ 5 năm Documenta uy tín của CHLB Ðức. Và đến nay, Biennale (hoặc Triennale) đã trở thành một thuật ngữ của mỹ thuật đương đại: chỉ một triển lãm quốc tế định kỳ.
Cơ sở xã hội cho một Biennale tại Việt Nam
Ở các Biennale bên ngoài Việt Nam, việc thành lập một ủy ban tổ chức sự kiện này đều do hội đồng thành phố địa phương đứng ra đảm trách, thậm chí có sự hậu thuẫn của chính phủ. Nhờ đó, hầu hết các vấn đề nền tảng dẫn tới một Biennale thành công đã được quyết định ngay từ ban đầu: kinh phí tổ chức, địa điểm tổ chức, sự liên kết chặt chẽ của các ban ngành từ bảo tàng đến gallery, từ du lịch đến giáo dục, và đặc biệt là giới truyền thông. Nếu tạm coi đó là hạ tầng cơ sở xã hội cho một Biennale thì rõ ràng, Việt Nam chưa có. Như vậy, lấy gì đảm bảo cho một Biennale được diễn ra tại Việt Nam? Ðặt ra một câu hỏi như vậy không có nghĩa là người viết không tin vào tính khả thi của một Biennale tại Việt Nam vì thực tế cho thấy, Việt Nam, mà cụ thể ở đây là thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều tiềm năng cho việc tổ chức thành công sự kiện mỹ thuật này.
Thứ nhất, thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố năng động và cởi mở, một thành phố trẻ. Tuy xuất hiện sau thủ đô Hà Nội, nhưng các trào lưu nghệ thuật đương đại ở thành phố đã sớm phát triển bề rộng và chiều sâu, hơn nữa, các nghệ sĩ đã có được những không gian công cộng lớn để trưng bày tác phẩm của mình, như khu du lịch Bình Quới, điều mà cho đến tận hôm nay, Hà Nội chưa có được. Việc tìm được không gian công cộng lớn như vậy cho nghệ thuật mới không chỉ chứng tỏ sự thực tâm và nỗ lực của những người làm tổ chức sự kiện muốn đưa mỹ thuật mới vào đời sống thành phố mà còn cho thấy tiếng nói ủng hộ từ phía giới chức văn hóa dành cho nghệ thuật mới.
Thứ hai, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có khá nhiều nhóm và cá nhân nghệ sĩ mỹ thuật mới nước ngoài hoặc Việt kiều ngụ cư, kiếm tìm việc làm để ổn định cuộc sống và cơ hội thể hiện nghệ thuật của mình. Tính chất mở và năng động của thành phố này tạo nhiều cơ hội cho những người mới đến khám phá và tìm sự thích ứng. Những nghệ sĩ như Jun Nguyễn Hatsushiba, Lê Quang Ðỉnh, Rich Streitmatter Trần (người Mỹ gốc Việt), Sue Hajdu (người Australia), nhóm Wonderful District, nhóm Oh Bala,… đã ít nhiều cảm thấy yên ổn với cuộc sống của họ tại thành phố này. Lê Quang Ðỉnh và Jun Nguyễn Hatsushiba đã được mời tham gia Venice Biennale lần thứ 51 – Biennale lâu đời nhất và được chờ đợi nhất toàn thế giới. Sự xuất hiện của những nhân tố đến từ nước ngoài này nhất định có ảnh hưởng đến nghệ sĩ và nghệ thuật mới tại thành phố, góp phần thúc đẩy sự hào hứng sáng tạo với nghệ thuật mới của nghệ sĩ sở tại. Bên cạnh đó, số lượng các nghệ sĩ thành phố tham gia nghệ thuật mới ngày càng đông đảo: Nguyễn Minh Phương, Ly Hoàng Ly, Châu Giang, Ngô Thái Uyên, Nguyễn Văn Tiến,… cũng với sự xê dịch của một số nghệ sĩ miền Trung như Lê Thừa Tiến, Bùi Công Khánh, nghệ sĩ miền Bắc như Nguyễn Minh Thành (thông qua hỗ trợ của Hội đồng Anh). Các nghệ sĩ thành phố năng động trong việc kiếm tìm những tiếng nói kết hợp với nghệ sĩ nước ngoài, thành các dự án nghệ thuật mới liên quốc gia. Việc làm này phù hợp với xu hướng của nghệ thuật mới trên thế giới là hình thành các chương trình, dự án khu vực – đa khu vực – đa quốc gia, thông qua những ví dụ sinh động từ hoạt động của Viện Goethe và Hội đồng Anh toàn cầu.
Thứ ba, thành phố Hồ Chí Minh đã có những gallery của người Việt hỗ trợ giới thiệu và trưng bày nghệ thuật mới bên cạnh việc kinh doanh mỹ thuật như gallery Không gian Xanh (khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố, phố Phó Ðức Chính), gallery Quỳnh (đường Lý Tự Trọng, Q1), Mai’s gallery (đường Nguyễn Huệ, Q1). Ðiều này khác hẳn thế giới gallery tại Hà Nội. Những gallery này đều ở mặt tiền các con phố lớn, các triển lãm rất dễ thu hút sự chú ý của công chúng cũng như sự chú ý của giới chức văn hóa, nên việc họ phải tuân thủ các quy định về kiểm duyệt và xin phép triển lãm là đương nhiên. Ðây là một cách làm góp phần khiến giới chức văn hóa thấy được tính chất đương nhiên cần được tồn tại và phát triển của nghệ thuật mới tại thành phố, để nghệ thuật mới dần trở thành “chính thống”. Nó tránh được sự phiền hà cho cả hai bên mà nhiều triển lãm nửa công khai nửa bí mật ở tại một số địa điểm ở Hà Nội từng gây ra. Những gallery này thực sự là depart rất tốt cho nghệ sĩ làm nghệ thuật mới.
Một số đặc điểm trên nếu được đẩy lên thành một hợp thể, sẽ trở thành nền tảng xã hội tốt cho việc tạo dựng một Biennale nghệ thuật mới của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, cả nước nói chung.
Saigon Biennale – Ý tưởng và hiện thực
Như đã nói trong phần đầu của bài viết, Saigon Biennale (SB) là ý tưởng của một cá nhân và nay là tên chính thức của công ty TNHH Saigon Biennale (số 78A, Ðồng Khởi, Q1), đơn vị thực hiện sự kiện nghệ thuật này.
Một Biennale với triển lãm trung tâm mang tên Saigon: Open City dự kiến sẽ được diễn ra từ cuối tháng 12.2006, kéo dài đến tháng 2.2007. Dẫn tới triển lãm trung tâm đó là hàng loạt các hoạt động: nghệ sĩ cư trú (gồm 3 nhóm nghệ sĩ đến từ các châu lục khác nhau kết hợp với nghệ sĩ trong nước), hội thảo, thảo luận giữa nghệ sĩ với curator, nghệ sĩ với công chúng, nghệ sĩ với nghệ sĩ,… SB đã chuẩn bị một hội đồng curator cho sự kiện này, chịu trách nhiệm chính là hai curator người Thái Lan: Gridthiya Jeab Gaweewong (phụ trách dự án mỹ thuật đương đại nổi tiếng của khu vực Project 304) và Rirkrit Tiravanija, bên cạnh một số nhân vật nổi tiếng của mỹ thuật Việt Nam đương đại như Trần Lương, Dương Tường, Lê Quang Ðỉnh,…
 |
| Gridthiya Jeab Gaweewong (1964) |
Hội đồng này mới được nhóm họp trong dịp cuối năm 2005 và tiến tới các chương trình lựa chọn nghệ sĩ trong và ngoài nước, tổ chức các nhóm làm việc, xem xét kế hoạch lưu trú và sáng tác của nghệ sĩ,… Ban lãnh đạo SB cũng đang kiếm tìm sự đồng thuận từ chính quyền thành phố, Sở VHTT và các ngành liên quan như giáo dục, du lịch. Nghĩa là cho đến thời điểm hiện tại, SB vẫn đang trong quá trình chuẩn bị nền tảng cho một sự kiện lớn mà chỉ sau 11 tháng nữa, theo dự kiến, sẽ được diễn ra. Thời gian như thế có phải là quá gấp rút? Theo dự kiến, một phần quan trọng các địa diểm diễn ra sự kiện nghệ thuật này là không gian công cộng: công viên Chi Lăng, đường Nguyễn Huệ, đường Ðồng Khởi, Công viên 23-9, khu vực đang thi công sân bay mới tại phi cảng Tân Sơn Nhất. Như thế, việc tìm được một thỏa hiệp với ngành giao thông công chính, công an, công viên cây xanh, người dân cư ngụ tại các đường phố nói trên,… quả là một kỳ công bởi rất nhiều ràng buộc của các văn bản quy định hành chính không dễ được cởi bỏ chỉ vì một sự kiện nghệ thuật.
 |
| Rirkrit Tiravanija (1961) |
Nếu vậy, sẽ tạo ra một tiền lệ cho các sự kiện tiếp theo, có nghĩa dẫn đến một sự thay đổi lớn của các quan niệm quản lý trật tự đô thị công cộng. Một ví dụ tại Hà Nội, dự án Phố phường thứ 37 (tháng 10-2004) do Trung tâm Văn hóa Pháp khởi xướng, với ý định biến cả con phố Tràng Tiền và khu lân cận thành phố của nghệ thuật trong một thời gian nhất định đã không thể thành hiện thực vì rất nhiều vướng mắc với chính quyền và sở giao thông công chính thành phố.
Một câu hỏi khác đồng thời được đặt ra là hai curator chính của sự kiện lại là người nước ngoài, tức là họ cần có một thời gian nhất định thâm nhập vào cuộc sống xã hội và nghệ thuật ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung để tìm ra cơ sở tương ứng cho việc lựa chọn ý tưởng của triển lãm, nghệ sĩ tham gia triển lãm, địa điểm triển lãm và tạo dựng nên một tinh thần đồng thuận của tất cả các yếu tố con người – địa điểm – nghệ thuật trong một Biennale. Việc này không hề đơn giản vì tính chất thử nghiệm với nghệ thuật mới của nghệ sĩ Việt Nam vẫn chiếm ưu thế hơn tính chuyên nghiệp; đây là một bất lợi đối với curator chuyên nghiệp nước ngoài.
Con người và thời gian là hai yếu tố cơ bản cho sự thành bại của một công việc. Ý tưởng là quan trọng nhưng từ ý tưởng đến hiện thực là một khoảng cách lớn cần được phá bỏ bởi nỗ lực và cam kết làm việc của con người cũng như thời gian để con người làm được vậy. Nói đến đây, thấy dường như vẫn tồn tại một sự mơ hồ và quá sức trong việc thực hiện dự án SB; mơ hồ vì thời gian không còn nhiều nhưng vẫn chưa có một cái bắt tay cam kết cùng phối hợp cụ thể nào của các ban ngành liên quan, chưa có một đầu việc cụ thể nào được hoàn thành; quá sức vì một công ty TNHH không thể gánh vác công việc đáng ra là của chính quyền thành phố sở tại. Hơn nữa, có một quy trình ngược ở SB nếu so sánh nó với quy trình tổ chức các Biennale tại Venice hay Bắc Kinh và tất cả các Biennale (hay Triennale) trên thế giới: SB do tư nhân thành lập và sau đó vận động giới chức cùng các ban ngành liên quan đồng thuận tham gia. Còn ở Venice hay Bắc Kinh và các nơi khác, chính quyền sở tại quyết định sự kiện này rồi mới giao nó cho một ủy ban hay tổ chức cụ thể thực hiện. Như vậy, khó khăn cho SB là hiển nhiên.
SB có quá nhiều việc phải làm để tạo dựng được một sự kiện nghệ thuật mới có tính chất quốc tế đáng được chờ đợi. Có lẽ việc lượng sức mình trong trường hợp này là việc làm cần thiết đầu tiên. Thực sự, cho đến tận hôm nay, cả nước vẫn chưa hề có được một triển lãm nghệ thuật đương đại quy mô quốc gia nào, bên cạnh các triển lãm định kỳ của mỹ thuật hàn lâm: triển lãm mỹ thuật toàn quốc định kỳ 5 năm; triển lãm điêu khắc toàn quốc định kỳ 10 năm. Giá như depart cho SB là ít nhất một triển lãm mỹ thuật đương đại toàn quốc thì mọi sự đã đơn giản hơn biết bao… Cái khó sẽ là một thách đố lớn đồng thời là một cơ hội lớn. Có động cơ và động lực thì con người ta vẫn có thể làm được những việc tưởng quá sức mình, biến tiềm năng bên trong mình và xung quanh mình thành năng lượng thực sự để thành công. Nói vậy để thấy vẫn còn cơ sở hi vọng cho SB đầu tiên sẽ thành hiện thực trong năm nay.
© 2006 talawas