trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
15.12.2005
Andrew Lam
Không gian phá cách châu Á – Thành phố phá cách thế giới
 

Giới thiệu

Bài viết này nhằm vạch sân chơi cho các không gian nghệ thuật do nghệ sĩ điều hành (artist-run spaces) và sự thích dụng của những không gian ấy trong việc cấu trúc nên châu Á và căn tính châu Á.

Lề lối mới của Á châu

Những không gian độc lập hay phá cách nói chung thường được coi là thuộc tầng thứ 3 trong hệ thống thứ bậc theo định chế, tuy nhiên, chính những không gian ấy lại có xu hướng cật vấn cái trật tự cũ và tự chọn một thế đứng đầy khiêu khích. “Liên hoan của sức thấu thị: Berlin-HongKong (2000)” [Festival of Vision: Berlin-Hongkong (2000)] là một trong những sự kiện tiêu biểu cho thấy làm thế nào một tổ chức phá cách như Zuni Icosahedrons (Hồng Kông) có thể dự phần vào một cuộc đối thoại về quan điểm chính trị liên văn hóa. Trong năm 2001, các “không gian nghệ thuật phá cách” (alternative art spaces) đã trở nên một chủ đề then chốt cho hội thảo quốc tế được tổ chức bởi “Xưởng làm việc mành tre” (Bamboo Curtain Studio) tại Đài Bắc, Laspace, không gian nghệ thuật Para/Site tại Hồng Kông, và cuộc trình diễn vòng quanh châu Á được tuyển lựa bởi Museum of Site (MOST) tại Hồng Kông.

Những hệ thống bảo trợ chính thống hoặc tài trợ của chính phủ địa phương cho các hoạt động nói trên [với cái gọi là “chính sách dang rộng vòng tay” (arms- length policy)] đã làm phức tạp thêm mối tương quan quyền lực hiện có giữa nghệ sĩ, chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. [1]

Sự cộng sinh

Tại Gwangju Biennale 2002, quan hệ ký sinh giữa những không gian phá cách và hệ thống bảo tàng mang một màu sắc châm biếm. Những tấm gương phản chiếu quan điểm chính trị văn hóa như kiểu liên hoan này phản ánh sự phức tạp và tính mỉa mai trong chủ nghĩa hậu hiện đại, nhất là những mối quan tâm về hiện thực, sự tạo chế, và sự sáng tạo trong tiến trình lưu trữ lịch sử.

Nhìn từ cả hai góc độ lý thuyết và thực hành, một hệ thống nghệ thuật luôn được hình thành bởi một khối kết bao gồm các không gian phá cách, xưởng làm việc, thư viện, làng nghệ thuật (Art Village), trường nghệ thuật, bảo tàng và gallery, v.v… Phép chẩn bệnh cho các chủ đề thị dân và đô thị, khi được thao tác bởi các không gian phá cách trong trường hợp của “Ngôi nhà các mệnh phụ già (Old Ladies House)” tại Ma Cao, “Câu lạc bộ vùng ven” (Fring Club), Zuni, MOST, laspace (Hồng Kông), “Quận nghệ thuật Whashang” (Whashang Art District) tại Đài Bắc đã giúp mài sắc tầm nhìn của chúng ta và biện minh cho những hành động cần thiết. Ta có thể hình dung những hoạt động kiểu này như thể là “Khâu cúc vào tấm vải, chứ không phải là may nguyên một cái váy mới”. Sẽ không thể có chuyện một khu vực này hoàn toàn gạt bỏ hoặc thế chỗ những khu vực khác trong hệ thống nghệ thuật.

Chúng hiện diện ở đây và cho hiện tại

Với một tầm nhìn xa rộng, các không gian phá cách mang thông tin, niềm vui thích và lạc thú tới cho thành phố. Nó biện minh cho việc sản tạo ra các dự án nghệ thuật trên toàn thế giới. Giờ đây, với các không gian phá cách, có một nỗi thôi thúc cần phải phản ánh mối liên hệ giữa chương trình hành động và chính sự hiện tồn của nó trong tương quan với cộng đồng địa phương. Ví dụ, trong khẩu hiệu “Hãy tham gia vào sự tưởng tượng của chúng tôi” (Be part of our vision) của Plastique Kinetic Worms, một không gian phá cách tại Singapore. Khi những thái độ tích cực như thế trở nên sống động, các không gian phá cách sẽ hiện hữu và có ích cho hiện tại. Tham gia vào hệ thống cộng đồng, các không gian phá cách hướng tới việc đáp ứng những vấn đề cụ thể. Những không gian phá cách như “Xưởng làm việc mành tre” tại Đài Bắc, MOST tại Hồng Kông, một cách thận trọng, đã làm việc cùng các cộng đồng khác nhau. Quận nghệ thuật Whashang (Đài Bắc) và “Cattle deport art village” tại Hồng Kông chính là kết quả tốt đẹp của những điều đình chính trị lâu dài, “Đường xoáy ốc” (Loop), “Không gian nghệ thuật Insa” (Insa Art space) tại Seoul, “Trường Cattle Zuni” (Cattle zuni college), “laspace”, “Không gian nghệ thuật Para/ Site“ (Hong Kong), “Nghệ thuật châm chích hay Shin Leh Yuan” (Sly art or Shin Leh Yuan), “Mặt tiền” (Front), “Công viên IT” (ITPark), “Cà phê nghệ thuật chó heo” (Dog Pig Art Cafe, Cao Hùng), “Nhà kho DDM” (DDM Warehouse) tại Thượng Hải, “GÁC XÉP” (LOFT) tại Bắc Kinh và “Vây quanh bởi nước” (Surrounding by Water) tại Manila là những không gian nghệ thuật dành cho các nghệ sĩ trẻ và mới nổi. Cả hai không gian phá cách “Nhà nghệ thuật Cemeti” (Cemeti Art House) tại Yogyakarta và “Ngôi nhà những mệnh phụ già” (Old Ladies House, Ma Cao) thì lại dành cho các nghệ sĩ nữ. Đối với các không gian nghệ thuật này, mọi phản ứng đều đồng quy về các tình huống văn hóa của thành phố hơn là về các dạng nghệ thuật truyền thống hay lịch sử của cộng đồng. Chúng hiện diện ở đây chỉ cho hiện tại. [2]

Châu Á mới

Những bình luận gia và phê bình gia văn hóa giờ đây đặt „Sự hài hoà Á châu“ vào một nền tảng ý niệm mới mẻ. Triết lý ẩn tàng phía sau mĩ học châu Á không là một sự phục hồi của trào lưu Venice hoặc Rococo. Thay vì tô điểm bản thân bẳng một vẻ rởm hoài cổ, nền mĩ học ấy bắt nguồn sâu sắc trong thuyết động lực đô thị. Khu đường phố nam Sai Yeung Choi (Hồng Kông) Art – gu, Dongdaemun – Gu (Seoul), Dong Mun (Shenzhen), Lan Kwei Fong (Ma Cao), Sin Tian Di (Thượng Hải), San Li Tun (Bắc Kinh), Si Mun Ding (Khu vực gần cửa Tây, Đài Bắc), Boat Quay, Robertson Quay, Clark Quay (Singapore), Khu vực mở quanh toà tháp đôi Petronas (Kuala Lumpur) giờ đây là nơi quần cư của các quầy hàng hóa, cửa hàng D-I-Y, cà phê Internet, Bar Karaoke và sàn nhẩy, các nhà hàng đặc sản quốc tế, các trà quán cũng như những địa điểm đa dạng khác, chính những nơi này đã tháo gỡ mọi rào chắn vật lý của các đô thị, mở ra các chức năng cho mọi thế hệ. Nền mĩ học của các đô thị tương lai rồi sẽ kết hợp các tính chất cởi mở, loãng động, rậm đặc, đa dạng, đối thoại, ồn ã, tự phát, v.v… „Nền công nghiệp sáng tạo“ trong vai trò là một thể thống nhất (tuy nhiên có tính chất thứ yếu) của ngành du lịch sẽ trở nên tối quan trọng đối với sự phát triển bền vững của môi trường đô thị. Đây sẽ là chủ đề rất thích hợp cho những cuộc tranh luận trong tương lai gần.

Ý niệm về những không gian phá cách thuộc một thành phố mới lạ là những động lực thúc đẩy sự chuyển hóa các sản phẩm văn hóa. Tính vị động và tính đa dạng của các không gian phá cách có lẽ sẽ thay thế cho các hệ thống hiện hành. Như là hậu quả của quá trình giải thực dân hóa, các đô thị Á châu phải đối mặt với những thách thức vô tiền khoáng hậu dưới áp lực toàn cầu hóa. Khởi hoạt trong vai trò những kẻ tiên phong cho các diễn ngôn phá cách, các không gian phá cách Á châu vẫn là một thực thể bắt nguồn trên nền tảng địa phương và cộng đồng. Sẽ rất thú vị khi phân biệt các thị năng thuộc ý niệm và các thực hành của những không gian phá cách rồi đối chiếu chúng với vô số bảo tàng và galleries công cộng. Hiệu ứng Boomerang của các không gian phá cách châu Á sẽ phơi bầy ra giả thiết về một mô hình phá cách tại châu Á. Bắt nguồn từ đô thị mới và từ ý niệm phát triển, bản chất phá cách của châu Á sẽ được bao hàm bởi chính những khác biệt văn hóa.

Sự khác biệt văn hóa và Á bán cầu

Đứng trước nguy cơ đồng hóa của „một nền văn hóa toàn cầu”, có hai vấn đề mà các thành phố châu Á phải đương đầu. Một mặt, những thành phố này hoàn toàn khác nhau. Sự căng thẳng không thể giải quyết giữa di sản địa phương và các cộng đồng khiến những những khác biệt về văn hóa và xã hội càng thêm sâu sắc. Mặt khác, các thành phố châu Á lại chia sẻ một số vấn đề chung. Về kinh tế, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 đã tác động đến toàn bộ khu vực. Thảm kịch 11 tháng 9 khiến tình hình trầm trọng thêm. Công cuộc hiện đại hóa và cách tân hóa đô thị dẫn tới những phát triển về văn hóa và kết quả là ra đời một không gian mới, thúc đẩy những tiếp biến (acculturations) và đồng bộ hóa (synchronizations). Khi chủ nghĩa thực dân đang đến lúc cáo chung, các thành phố châu Á hiện đang phải đối mặt với một sự khủng hoảng căn tính vô tiền khoáng hậu.

Tuy nhiên, sự phát triển của các thành phố và thị trấn vệ tinh tại châu Á mang rất nhiều vẻ dạng. Những người lướt Internet có thể tiến hành những chuyến du lãm ảo tới mọi công trình văn hóa trên thế giới, do đó chẳng còn mấy nhu cầu du lãm các thư viện và bảo tàng trong đời thực, khiến các nơi đó biến thành những chốn thuần túy để „giải trí”. Một hệ thống nghệ thuật mới mẻ tại châu Á đang trỗi dậy. Giống như một khối kết bao gồm các kênh mạng và lực lượng lớn hơn, các khu làng nghệ thuật năng động, các quận và không gian văn hóa mở, các cửa hàng nghệ thuật và thiết kế, các galleries phá cách, các ngôi nhà thành phố xanh (city green houses), các khu kho tạm, các nhà xưởng công nghiệp tái tân trang, các workshop đa mục đích, các phòng uống trà, cà-fê nghệ thuật, các cửa hàng sách 24 giờ, các quán trọ ba lô (leisure inns), các kênh nghệ thuật trên TV, các không gian chiến tranh ảo trên mạng, các bảo tàng thuê mướn theo thời vụ (renting out museums), các ấn phẩm điện tử, các nhóm nghệ sĩ trên web (artist’s colonie on homepage) giờ đây đang hoạt động sôi nổi. Những hiện tượng này cho thấy sức mạnh định nghĩa lại [cái gọi là] „thành phố đồng căn” (generic city) [3] . Tất cả những sự phân biệt giữa trung tâm và ngoại biên, phần cứng và phần mềm, vững bền và phù du, lao động và nhàn rỗi, giờ đây bắt đầu sụp đổ. Sự đồng bộ hóa của các đô thị châu Á, do vậy, đã mở ra những không gian và chiều kích mới mẻ cho tất cả. [4]

Dưới lực ép của toàn cầu hóa, lịch sử dường như không thể quay ngược, bởi thế, nó kể một câu truyện không dứt trong một văn cảnh khu vực. Mô hình tiếp đoạt (appropriation) luôn luôn vận hành đồng thời với công cuộc hiện đại hóa. Dị bản beta kế tiếp của các „Đô thị phá cách thế giới” (World Alternative Cities) tại châu Á chính là các đô thị hoạt động 24 giờ „không ngưng nghỉ” (non-stop) trong thời gian thực.

Đặc tính chung của một châu Á mới là tính kiêm gộp (pluralism) và chiết trung (eclecticism) của nó. Quyền lực sáng tạo của các không gian phá cách được làm cho thích dụng với chiến thuật tiếp thị của các doanh nghiệp. Tới lượt mình, các tổ chức nghệ thuật chính thống buộc phải lập ra những liên minh mới với các nghệ sĩ và các không gian phá cách. Kiểu tiếp cận từ trên xuống sẽ bị khảo vấn tới nơi tới chốn, qua đó chuyển hóa toàn bộ quá trình hoạch định và lập ngân sách đồng bộ cho chính sách văn hóa. Bằng việc trao quyền lực cho cộng đồng, các chiến thuật và không gian sáng tạo sẽ trở thành cầu nối để những giá trị bị quên lãng và các lề lối mới đến được với nhau. Một khu vực mới của nhân loại đang được tạo dựng.

“Địa phương” tạo ảnh hưởng lên „Toàn cầu”

“Tư duy kiểu toàn cầu, hành động phù hợp với địa phương” (Think Globally, Act Locally) đang là một chiến thuật toàn cầu có thể ứng dụng mọi nơi và ở mọi cấp độ. Ví dụ rõ rệt của chiến thuật này, tại châu Á, chính là việc, bởi hành động phù hợp với địa phương, dường như châu Á đang tạo ảnh hưởng lên chính cái „Toàn cầu” dĩ Âu vi trung.

Hollywood, một thánh tượng của văn hóa thế giới, đã tác hợp với „cái nhìn phá cách” của điện ảnh Hồng Kông thông qua chủ nghĩa chiết trung [5] của nền điện ảnh ấy. Các liên hoan phim quốc tế được đánh giá cao tại Tokyo và Hồng Kông đã tạo ra hấp lực toàn cầu. Sau quãng thời gian trên hai chục năm tiếp nhận nền văn hóa pop Nhật Bản, các phim truyền hình Hàn Quốc gần đây đang gây cơn sốt hâm mộ mới tại Đài Bắc, Hồng Kông và thậm chí cả thế giới. Còn nói về việc hoàn thiện khả năng thông tin, Hàn Quốc đòi vươn lên vị trí hàng đầu, quyết liệt săn đuổi sự phát triển và tiến bộ công nghệ nhanh chóng. Theo một bài viết mới đây trên Thời báo New York, sự thâm nhập của dịch vụ Internet Hàn Quốc giờ đây thuộc hàng cao nhất thế giới và đã trở thành một phần quan trọng của văn hóa đương đại. Vào năm 2001, Trung Hoa được coi là quốc gia số một trên thế giới đạt mức nhẩy vọt kinh tế cao nhất. Trong chính sách được đưa ra mới đây bởi đặc khu trưởng Hồng Kông, mục tiêu của Hồng Kông là sẽ đạt tới căn tính „Thành phố thế giới tại châu Á”. Trong khi tại bờ bên kia biển Nam Trung Hoa, giám đốc hành chính hội đồng văn hóa Đài Bắc, Yuan, lại đặt mục đích biến thành phố của ông thành „Trung tâm truyền thông châu Á” cho dù tại thời điểm này có rất ít không gian phá cách dành riêng cho các dạng nghệ thuật truyền thông mới như trường hợp của không gian „GÁC XÉP” tại Bắc Kinh, hay không gian Videotage, Video Power tại Hồng Kông. Chẳng phải là ngoại lệ, Bộ Thông tin và Nghệ thuật Singapore tuyên bố Singapore là „một thành phố trung tâm của thế giới” (A hub City of the World), song lại lờ đi các điều khoản kiểm duyệt nhằm vào các không gian do nghệ sĩ điều hành như „Tiềm trạm” (Substation), „Những con giun động lực học bằng nhựa” (Plastique Kinetic Worms), hay „Bảo tàng nghệ thuật Singapore” (Singapore Art Museum). Vấn đề ở đây không phải liệu những cái nhãn rỗng tuếch dán vào các đô thị châu Á đó là có căn cứ hay không, mà là ở việc nếu các không gian phá cách châu Á hình thành được một mặt trận đoàn kết thì lề luật cũ của giới nghệ thuật có lẽ sẽ bị giải hóa chỉ trong một đêm!

Bắt đầu từ thập kỷ 80 và 90, các nghệ sĩ tại những không gian phá cách đã theo đuổi căn tính của họ thông qua việc tái khám phá di sản và cộng đồng. Họ nhận thức về tầm quan trọng của sự thuộc về qua việc tìm lại niềm hứng khởi đối với một khu vực từng bị lãng quên.

Khi hệ thống và cơ sở hạ tầng cùng hình thành với sự ủng hộ đầy đủ từ các định chế và các quỹ tư nhân tại chỗ, các không gian phá cách tại Hồng Kông, Đài Bắc, Seoul và Singapore sẽ củng cố ảnh hưởng của chúng.

Chủ nghĩa hiện đại: một lời hứa thất bại và mĩ học Á châu hậu hiện đại

Đối nghịch với các không gian nghệ thuật phá cách nhỏ, hệ thống phát triển ở châu Á đơn thuần là một „Đại bạch tượng” (Big White Elephant) duy trì chủ nghĩa hiện đại tại mọi ngóc ngách của châu Á. Một chủ nghĩa hiện đại, vốn hứa hẹn giải quyết các vấn đề xã hội và công nghệ, lại không thỏa mãn được lòng mong đợi của đại chúng, và lại đặt tính đặt hiệu quả lên trên giá trị xã hội cũng như các giá trị khác. Liệu các không gian phá cách vẫn có thể đảm nhiệm một vai trò năng sản trong kỷ nguyên hậu hiện đại hay không?

Vẻ ngoài của các không gian phá cách châu Á quá thường khi phản ánh những thay đổi của thành phố – ấy là chủ nghĩa kiêm gộp và tính lưỡng lai mang màu sắc hương xa – với mục đích làm cho sự phá cách của nó thích nghi với một thiết chế cũ. Chủ đề „Đình” (PAUSE), không nghi ngờ gì nữa, sẽ vẫn đảm nhận một vai trò tích cực trong việc tiếp tục nhiệm vụ của Gwangju Biennale là „hợp pháp hóa khu vực ngoài luồng” vào một hệ thống lớn hơn. Tình huống này giống với tình huống hội nhập của trung tâm P.S.1 (nguyên là một trung tâm nghệ thuật thử nghiệm tại New York – ND) với Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA) tại New York.

Đô thị tái xuất hiện

Các đô thị châu Á đang tiếp triển để trở thành một khu vực văn hóa phức tạp và đa dạng, với cái giá phải trả là căn tính văn hóa và di sản địa phương. Diễn ngôn của Ackbar Abbas về chủ đề „khuất dạng” (disappearance), không nghi ngờ gì nữa, chính là một kinh nghiệm chung được đồng thuận trong phạm vi những không gian phá cách tại châu Á. Các địa chỉ phá cách như „Trại sáng tác chung” (Workshop), „Xã hội một phần tư” (Quart Sociaty) tại Hồng Kông, SOCA tại Đài Bắc, „Con voi đuôi dài” (Long Tail Elephant) tại Quảng Châu, „Bao quanh bởi nước” (SBW, Manila), „Làng nghệ thuật” (Singapore), „Xưởng làm việc Shokudo” (Studio Shokudo), „Không gian triển lãm Sagacho” (Sagacho Exhibit Space), „P3 nghệ thuật + Môi trường” (P3 art + environment) tại Tokyo, đều tiến gần đến chỗ xóa bỏ nhiều lịch sử bị lãng quên. Tuy nhiên, châu Á vẫn rất giầu khả năng tiềm tàng cho sự tái xuất hiện của „quá khứ” hay những lịch sử “mới”. [6]

Độc lập đến như thế nào thì mới là các không gian nghệ thuật độc lập?

Đây là một câu hỏi quan trọng. Liệu các không gian ấy vẫn là một phần bổ sung trọng yếu (mang tính phê phán?) đối với hệ thống cũ của thành phố? Làm thế nào chúng có thể trở thành công cụ thúc đẩy sự phát triển văn hóa nghệ thuật? Làm thế nào các không gian ấy có thể đặt nghi vấn về chứng đãng trí của chúng ta đối với một tính hiện đại nằm ngoài hệ thống bảo tàng và gallery? Một đánh giá về diễn ngôn sứ mệnh của các không gian phá cách châu Á có lẽ sẽ cho ta câu trả lời trong việc hoạch định lại một khung cảnh văn hóa mới cũng như lập bản đồ ý niệm về một chốn không tưởng mới.

Hiếm khi tìm được một không gian xã hội nằm ngoài các gallery và bảo tàng thương mại, như trong trường hợp của không gian „Cú táng mạnh” (BASH) tại Bắc Kinh, ở đó nghệ sĩ có thể tìm thấy những lý thuyết có tính dẫn đường cho hành động và chia sẻ. Không gian phá cách mang lại niềm hy vọng cho tính khắc nghiệt của thể chế, sự đối lập với tình trạng điều hành kém cỏi, điều kiện bất lợi của các địa điểm triển lãm cũng như sự thiếu thốn nguồn lực và phương tiện, vốn là những vấn đề mà các không gian ấy thường phải đối mặt.

Các chiến thuật mới nhằm đảo nghịch hệ thống nghệ thuật có lẽ đã được phản ánh thông qua chính việc làm nghệ thuật. Đối với một trong những không gian phá cách phi lợi nhuận kiểu này như không gian „Nghệ thuật châm chích hay Shin leh Yuan” ở Đài Bắc, sự phức tạp trong công việc sản tạo nghệ phẩm không phải là mối quan tâm chủ yếu. Thái độ phản vật thể (anti object) có nguồn gốc từ triết học Đông phương thể hiện rõ ràng trong các chiến thuật trưng bầy cũng như các hoạt động hằng ngày của địa chỉ ấy.

Những giới hạn áp đặt lên các không gian phá cách châu Á không chỉ làm lộ ra khía cạnh tiêu cực của chủ nghĩa hiện đại và toàn cầu hóa, mà sự tồn tại trong áp bức của các không gian phá cách ấy còn chứng thực cho cả tính kiêm gộp mà mọi thành phố tự nhận là cởi mở nên tỏ ra mình có. Đời sống dưới sự bùng nổ kinh tế được cho là ổn định, vui thú, hòa hợp và giầu có. Tuy nhiên, các không gian phá cách lại thu hình thành phố như một quang cảnh tiêu cực có tính lật đảo và phù phiếm. Thành phố kiểu đô thị đương đại hoàn hảo giờ đây được định nghĩa bởi Cái Khác (otherness) phá cách và bằng sự cạnh tranh khốc liệt. Ví dụ, các dự án triển lãm tại quận nghệ thuật Whashang, tuyển lựa bởi Huang Hai Ming, được tổ chức cùng thời gian với Biennale quốc tế Đài Bắc 2000 (Tai Pei Biennale 2000), và sự cộng tác của không gian „đường nối phương Đông” (East Link), nhà kho DDM, BizArt tại Thượng Hải với Biennale Thượng Hải 2000 (Shanghai Biennale 2000) đã chứng minh các chức năng tương tác và tương song của những không gian phá cách.

Sự chuyển hóa đô thị

Khi được xem xét trong văn cảnh rộng lớn hơn từ cả hai góc nhìn địa phương và toàn cầu, sự thay đổi cấu trúc của một hệ thống nghệ thuật luôn có liên hệ với sự thay đổi hệ tư tưởng của không gian bao quanh nó. Khi gặp thời, ý tưởng về các không gian phá cách sẽ được củng cố và nhận thức. Không còn bị coi là một cộng đồng thiểu số hay một sức mạnh ngoài luồng, các không gian phá cách tại châu Á sẽ bùng nổ khi được xã hội công nhận. Một ví dụ tốt cho việc này là dự án video được hoan nghênh mang tên „Cổng” (Port) do BizArt đồng tổ chức trong một công viên tại Thượng Hải vào năm 2001. Các không gian phá cách tại châu Á đang khởi hoạt bằng những bộ mã mới, các quy phạm mới và mô hình làm việc mới thể hiện được các vấn đề hoặc chủ đề của hệ thống. Chúng cũng lập nên những ví dụ cho thấy các định chế cần phải cởi mở hơn với cộng đồng. Chúng cũng có thể xác định những chủ đề gắn bó với khu vực và mở ra những không gian dành cho suy tưởng. Trái ngược hẳn với miêu tả của kiến trúc sư Rem Koolhaas về „Thành phố đồng căn” tại châu Á, các “không gian phá cách” ở khu vực này đã dịch chuyển rất xa cái khởi điểm hầu có thể phát hiện những khác biệt về văn hóa. Cuộc vận động để có được sự hỗ trợ và công nhận từ chính phủ do những tổ chức dân sự tại quận nghệ thuật Whashang, Làng nghệ thuật Singapore và „Làng nghệ thuật phố dầu” (Oil Street Art Village) khởi xướng đã chứng minh khả năng lãnh đạo nhìn xa trông rộng nhằm đạt tới một cách tiếp cận khác hẳn với các định chế văn hóa. [7]

Cuộc chiến du kích trong các không gian phá cách

Một vài không gian phá cách tại châu Á đơn thuần chỉ là những khu vực do chính phủ tài trợ, hoạt động để thu về danh tiếng quốc tế. Trong khi một vài không gian phá cách khác lại mang tính trang sức – chỉ là một quán hàng có trang trí vài tác phẩm sắp đặt hay video -, người ta chẳng thể chờ đợi bất kỳ một tác phẩm khiêu khích nào từ những không gian kiểu này.

Một vài không gian phá cách khác lại được thiết kế hoàn hảo, trần đẹp, tường trắng, sàn gỗ. Với những không gian này, nếu không để ý tới sự khác biệt ở chương trình hoạt động thì ngay cả chuyên gia cũng khó lòng phân biệt được nó khác với gallery thương mại ở chỗ nào. Nếu không gian phá cách tồn tại theo kiểu thương mại thì có khác gì với không gian thương mại đâu?

Đã nhiều năm nay, tại Đài Bắc, người ta vẫn không nhất trí với nhau về cách định dạng cho quận nghệ thuật Whashang. Việc tổ chức hai hội thảo quốc tế tương tự nhau trong cùng một tháng là bằng chứng cho thấy sự cạnh tranh gay gắt giữa laspace (Làng nghệ sĩ Cattle Depot) và không gian nghệ thuật Para/Site. Tương lai của châu Á phụ thuộc vào việc các thành phố khác nhau cùng với cơ sở hạ tầng của chúng cạnh tranh với nhau theo cách nào.

Phân loại đô thị mới

Những ngôi làng bao quanh thành phố

Các khu làng nghệ thuật được Chính phủ hỗ trợ, ví dụ Làng nghệ thuật Đài Bắc (Taipei Art Village) ở Đài Bắc, „Làng nghệ thuật quốc tế” (International Art Village) ở Nantou, hay „Làng nghệ sĩ Sanmien” (Sanmien Artist Village) ở Quảng Châu chính là những địa chỉ giống nhau như lột nhất người ta có thể tưởng tượng ra. Trái lại, các khu làng do nghệ sĩ điều hành như Làng nghệ sĩ ở Taidong, Tam-awan (Baguio), „Quận nghệ thuật Whashang”, „Cộng đồng nghệ sĩ Tongzhou” (Tongzhou Artist Community) tại Bắc Kinh, „Làng nghệ thuật Singapore” tại Singapore, “Trung tâm Làng Nghệ thuật Kobe” và „Làng nghệ thuật phố dầu” trước đây [nay là „Làng nghệ thuật Cattle Depot” (Cattle Depot Artist Village)], tất cả những địa chỉ này đã tạo sinh rất nhiều năng lượng trong cộng đồng mình và gây ra những cuộc tranh cãi sôi nổi trong giới nghệ sĩ. Động cơ họp làng của những nơi ấy không chỉ nhằm tổ chức được một không gian studio ổn định cho sự phát triển lâu dài, mà còn là để tranh giành cơ hội triển lãm và tài trợ. So với các khu làng nghệ thuật chính thống, các khu làng nghệ thuật do nghệ sĩ điều hành có thể dần dần được định chế hóa và biến thành một phần của trục văn hóa đô thị. [8]

Quán cà phê kèm showroom

Kết hợp với động lực thương mại là một chiến lược tồn tại của mọi thế hệ không gian phá cách tại châu Á. Những galleries mới đây như Song Ha Gallery tại Art Town (Pusan), “Câu lạc bộ 64” (Club 64), HOK7 (Hong Kong), “Tâm trí khoáng đạt” (Big sky mind) tại Manila, Café Pulilan (Bulacan), “Ly cà phê nghệ thuật” (Cup of Art Café Gallery) tại Bacolod, “Quán bar cọp chột” (Blind Tiger Bar) tại Quezon chính là những ví dụ rõ nét cho khả năng tồn tại trong thời điểm ngày nay. Sự xuất hiện của quán bar và restaurant là một dấu hiệu của văn hóa giải trí. “GÁC XÉP”, “Gallery tầng thượng” (Top Floor Gallery), “Gallery sân sau” (Courtyard Gallery) tại Trung Hoa cũng sử dụng các chiến lược có tính thương mại làm giá đỡ tài chính để có thể trưng bầy liên tục dạng nghệ thuật chính trị hóa. Thế hệ sau của không gian phá cách có thể sẽ chính là những những gallery kèm quán bar có dịch vụ internet (cyber café-bar cum galleries), ví dụ như Risiris Internet pub (Quezon), vốn cũng góp phần sản sinh ra nhiều cơ hội mới của thành phố.

Nhà kho bỏ hoang để tái thiết thành phố

Tiến trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đã biến kiến trúc thành một thứ hàng hóa tiêu dùng. Tiến trình này, một cách không tránh khỏi, đã giải hủy (?) chức năng nguyên thuỷ của cao ốc. Rất nhiều nhà kho bị bỏ hoang do không thỏa mãn được những khát vọng và tiêu chuẩn của đô thị, đã trở thành khu vực cho các nghệ sĩ tiến hành những dự án thực nghiệm. Ví dụ, ở Đài Loan là các không gian đô thị tân tạo chẳng hạn như quận nghệ thuật Whashang và “Rail Storehouse Reused Sheme”. Không gian cũ được các nghệ sĩ tu sửa lại thành các địa điểm hoàn toàn mới, như “Nhà kho Chiayi Rail” (Chiayi Rail Warehouse) tại Chaiyi và “Nhà kho Taichung 20” (Taichung 20 Warehouse) tại Taichung để rồi được dùng làm nơi triển lãm cũng như tổ chức workshop. Ở Trung Hoa lục địa cũng vậy, những địa chỉ như BASH, CAAW (Bắc Kinh), Nhà kho DDM và “Đường nối Đông phương” tại Thượng Hải đều là những nhà kho cũ đang được người ta quan sát sít sao do những hành vi nghệ thuật và chính trị của chúng. Tuy thế, bất chấp các chiến lược và hoạt động mang tính bảo thủ, các nhà kho cũ tân tạo đã tái hiện lịch sử và những câu chuyện bị lãng quên ẩn dưới công cuộc hiện đại hóa.

Các studio nghệ sĩ mở rộng

Nơi nào có nghệ sĩ, nơi ấy có không gian phá cách. Nghệ sĩ luôn sử dụng không gian xưởng làm việc của họ để thử nghiệm. Họ mở cửa xưởng và tổ chức các cuộc trưng bầy công cộng nhằm khơi gợi sự đồng tham gia và nhận thức thấu triệt [ở những người tham dự]. Địa chỉ “Phòng thí nghiệm nghệ thuật không gian thứ ba” (Third Space Arts Laboratory, cả trước đây và hiện tại), “Phong cách sống+thiết kế+nghệ thuật Lupon” (Lupon Art+Design+Lifestyle) tại Quezon, Kwok Studio, “Xưởng nhóm đột biến” (Happening Group Studio) tại “Không gian nghệ thuật đường phố Thượng Hải” (Shanghai Street Artspace), “Xưởng làm việc Kum Desmond” (Desmond Kum Studio), “Xưởng làm việc James Wong” (James Wong Studio), “Không gian nghệ thuật Para/Site”, “Workshop” tại Hong Kong, SOCA, và “Xưởng làm việc mành tre” tại Đài Bắc chính là những ví dụ mẫu mực cho triển lãm và trại sáng tác. Bên cạnh đó, những nghệ sĩ như Carlos Celdrans và Er Dong-Keung còn sử dụng chính căn hộ của họ cho các dự án công cộng.

Các trung tâm văn hóa thuộc sứ quán (Embassy – affiliated cultural centers) và các không gian (phá cách) trá hình

Có một số trung tâm văn hóa thuộc sứ quán, chẳng hạn như Viện Goethe, đóng vai trò lớn trong việc cổ vũ nghệ thuật đương đại và các trao đổi quốc tế. Sau Shanghai Biennale 2000, rất nhiều không gian phá cách đã đóng cửa. Song BizArt, được hỗ trợ hành chính mạnh mẽ từ viện Goethe, vẫn duy trì được hoạt động như không gian phá cách tích cực và nổi tiếng nhất tại miền Nam Trung Hoa. Dường như chiến lược cộng tác với các định chế thuộc sứ quán có thể bảo vệ được không gian phá cách thoát khỏi hệ thống kiểm duyệt và sự thiếu hụt tài chính.

Bảo tàng nghệ thuật Chang Mai (Chang Mai Museum of Art) tự nó là một không gian phá cách trá hình, mặc dù nó mang danh xưng “Bảo tàng”. Thỉnh thoảng, nó trưng bầy tác phẩm thử nghiệm của sinh viên. Nghiêm khắc mà nói, “Galeri Petronas” trong tháp đôi Petronas (Kuala Lumpur) và “Dimension Endowment Of Art” tại Đài Bắc không phải là không gian phá cách. Tuy nhiên, sự cung hiến của chúng cho giáo dục, nghiên cứu, xuất bản và trưng bầy nghệ thuật thử nghiệm đã làm chúng trở nên một dạng không gian phá cách bên cạnh các không gian phá cách thông thường khác. [9]

Sự kết lưới (của các) không gian (phá cách)

Với sự nở rộ của các không gian phá cách tại châu Á, một khoa địa-văn hóa mới đang hình thành. Các thành phố châu Á giờ đây được tái định nghĩa bởi các không gian phá cách với những tuyên cáo mới. Sự kết lưới liên khu vực mới mẻ này chính là một chiến lược toàn cầu và không phải là ngoại lệ với với các không gian nghệ thuật phá cách. Các không gian phá cách tại châu Á không còn hoạt động đơn lẻ tại viền biên của đấu trường văn hóa. Trong những năm gần đây, có một xu hướng xây dựng một mạng lưới hỗ trợ và nhìn nhận lẫn nhau với niềm hy vọng cải tổ lại lề luật toàn cầu. Mặt khác, tiến trình định chế hóa và thương mại hóa các không gian phá cách châu Á rốt cục có thể lại sẽ vô hiệu hóa khả năng thực thi một vài sứ mệnh nguyên thủy của các không gian ấy với tư cách lực phản biện với hệ thống cũ. Nếu cứ như vậy, một vài không gian phá cách cũng sẽ trở thành kẻ khởi đầu một hệ thống mới hay Quyền lực Thứ ba. Theo tôi, không gian nghệ thuật phá cách chỉ có thể bảo toàn phẩm tính của mình bằng cách duy trì phạm vi hoạt động nhỏ và gắn chặt hơn với cộng đồng địa phương. Nó phải nhìn xa trông rộng, biết rõ mình nên làm gì và không nên làm gì.

Andrew H. K. Lam là giám tuyển và giám đốc Museum of Site (MOST) tại Hồng Kông và là chủ tịch Cattle Deport Art Village.

Một số không gian phá cách tiêu biểu tại châu Á:

Para/site art space: http://www.para-site.org.hk

Museum of Site (MOST): http://www.geocities.com/Tokyo/Flats/3435/file.htm

Fringclub: http://www.hkfringe.com.hk

Old lady house art space: http://www.olhartspace.org.mo

Zuni: http://www.zuni.org.hk

Whashang Art District: http://www.art-district.org.tw

Plastique kinetic worms: http://www.pkworms.org.sg

Sly art or Shin Leh Yuan: http://www.etat.com/slyart/home_c.htm

bizArt: http://www.biz-art.com

Cemeti art house: http://www.cemetiarthouse.com

Taipei Art Village: http://www.tav.tcg.gov.tw

Artist village singapore: http://www.tav.org.sg

Courtyard gallery: http://www.courtyard-gallery.com

Taichung 20 Warehouse: http://www.stock20.com.tw

Substation: http://www.substation.org

Sagacho Exhibit Space: http://www.dnp.co.jp/museum/nmp/nmp_i/report/place125.html

P3 art + environment: http://p3.org

Workshop Hong kong: http://www.workshopsalons.com/?pagecode=workshophongkong

Carlos Celdrans: http://www.celdrantours.blogspot.com

Goethe Institute: http://www.goethe.de/

Dimension Endowment Of Art: http://www.deoa.org.tw

© 2005 talawas


[1]Vào đầu năm 2002, Quỹ Trung tâm Á châu tại Nhật Bản đã xuất bản một cuốn sách nhỏ: Phá cách; Các không gian nghệ thuật đương đại tại châu Á (Alternative: Contemporary Art Space in Asia). Cuốn sách đã rọi chiếu đôi chút ánh sáng vào những bảo tàng và không gian độc lập được lựa ra tại châu Á.

[2]Xem Eileen Legaspi–Ramirez, Không
gian phá cách: “Chúng ta ở đây cho hiện tại trong thời quá độ”
(We Are Here
for Now in Transit) Vol. 1, 10 – 12.trang 22 – 25.
[3]Generic City: tạm dịch là “Thành
phố đồng căn” hay “Thành phố hàng loạt”, là một khá niệm do kiến trúc sư Hà Lan
Rem Koolhas chế ra, hàm chỉ dạng thành phố phi lịch sử và mang tính bề mặt như
thể một trường quay khổng lồ với một tiến trình tự cấu trúc và tái tạo miên viễn.
Thành phố kiểu này được giải phóng khỏi nhà ngục của căn tính. Ở nơi đây, người
ta chứng kiến sự lặp lại vô tận của các mô hình cấu trúc giống nhau. “Thành phố
đồng căn” cũng mang tính đa chủng và đa văn hóa. Theo lời Reem Koolhas, dạng
“Thành phố đồng căn” chính là một trào lưu giải phóng toàn cầu chống lại quan
niệm về căn tính bền vững (ND).
[4]Xem Art Paper Mar/Apr 2001 Sp. Chủ đề về nghệ thuật ý niệm.
[5]Liên hoan Venice Biennale 49 đã chứng kiến sự nở rộng của một bản sao với kích thước lớn hơn bản gốc nổi tiếng tại California, Hollywood của Maurizio Cattelan tại Palermo, Sicily, và một dự án chính nằm ngoài Venice Biennale, tất cả các hoạt động này chứng minh cho một sự chuyển dời tầm ảnh hưởng mang tính toàn cầu.

[6]Tham khảo thêm “Hồng Kông và văn
hóa của sự khuất dạng” (Hồng Kông and the Culture of Disapearance), cuộc phỏng
vấn với Ackbar Abbas do Geert Lovink thực hiện tại Kassel, Documenta X, tháng
bảy, 1997 và Ackbar Abbas, “Hồng Kông, văn hóa và quan điểm chính trị về sự khuất
dạng” (Hong Kong, Culture and Politics of Disappearance), đại học Minesota xuất
bản, Minesota, 1997.
[7]Theo nghệ sĩ Koh Nguang How, Singapore
Art Village vẫn đang hoạt động mà không có sự tài trợ của hội đồng nghệ thuật
quốc gia cho khu vực cố định.

[8]Steven Pettifor, Nhà nghệ thuật
phía nam Thái Lan, Asian Art News, 2001, tháng chín – tháng mười, trang
62-65.

[9]Muốn biết thông tin xa hơn, xin
tham khảo: Bắc kinh của Xiaopin Lin: thành phố điêu tàn của Yin Xiuzhen,
tập 3, mùa thu 1999, trang 45-55.

 
© talawas 2026