|
19.9.2005
Hồ Bạch Thảo
Sắc dụ của Minh Thành Tổ thiết lập guồng máy cai trị tại nước ta
Đất nước ta từng bị các triều đại Trung-Quốc và cả Pháp đô hộ; thông thường nhà nước thống trị ủy nhiệm cho viên Thái-thú hoặc Toàn-quyền thu xếp mọi việc cai trị. Riêng vua Thành Tổ nhà Minh thì khác hẳn, nhà vua đích thân chỉ đạo mọi việc lớn nhỏ, vạch kế hoạch sâu sát từng chi tiết. Từ kinh đô Bắc-Kinh xa xôi, vua Thành Tổ đã dựng nên một guồng máy đô hộ nước ta và cẩn thận ghi trong sắc dụ chính thức tuyên bố cai trị nước ta vào ngày 1 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [1407]. Công trình này không đơn giản, ắt phải điều động nhiều người và thời gian mới soạn thảo xong, nội dung gồm những nét chính sau đây:
- Lập danh sách quan cai trị cấp trung ương (tam ty); riêng các phủ, châu, huyện có văn thư gửi kèm.
- Chia nước ta thành 15 phủ; nêu tên từng phủ cùng các châu, huyện trực thuộc.
Lập 21 bến cảng cho thuyền bè đậu.
- Lập các kho tàng, các ty chuyên môn như các ty đặc trách về y học, Tăng đạo, Nho học.
- Đặt 67 ty tuần kiểm tại các yếu điểm (Sensitive area).
- Lập 5 sở chuyển vận, các trạm dịch cho ngựa.
Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu lịch sử, địa lý, cùng các nhà biên soạn địa phương chí. Bởi vậy, sau khi phiên dịch nguyên văn sắc dụ, chúng tôi lập thêm một bảng liệt kê để tóm tắt, nhằm giúp bạn đọc hình dung sự việc một cách cụ thể.
Ngày 1 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [1407]
Sắc dụ quan Tổng-binh Chinh Di Tướng-quân Tân-Thành-hầu Trương Phụ, Tả Phó-Tướng-quân Tây-Bình-hầu Mộc Thạnh, Tả Tham-tướng Phong-Thành-hầu Lý Bân, Hữu Tham-tướng Vân-Dương-bá Trần Húc, cùng các tiểu tướng hiệu:
Giặc họ Lê giết vua cướp nước, tiếm hiệu xưng kỷ nguyên, tàn bạo bất nhân, làm đau khổ cả một nước; lại xâm phạm lân bang, kháng cự triều mệnh, không làm tròn chức cống. Trẫm bất đắc dĩ sai các ngươi mang quân phạt tội. Nhờ trời đất tổ tông phù hộ, tướng sĩ hết sức liều mình, binh uy tới mọi nơi đều được tiễu bình; bắt sống cha con nghịch tặc Lê Quí Ly, cùng bọn ngụy quan; chiêu tập dân lương thiện, dung nạp kẻ hàng; không mảy may xâm phạm của dân, chợ búa vẫn bình yên hội họp. Tin chiến thắng đưa về, hết sức mừng vui, ban trọng thưởng. Trước đây dưới thời Tống, Nguyên; An-Nam nghịch mệnh, mang quân đi đánh đều không lập được thành tích. Việc làm hôm nay thực hơn hẳn người xưa, danh thơm vĩ đại truyền mãi trăm đời. Nay đặc sai sứ mang sắc văn ủy lạo, nhân trời viêm nhiệt hãy chọn nơi cao ráo thoáng mát đóng quân để dưỡng người và ngựa, đợi lúc thời tiết trong mát cho ban sư trở về nước.
Lại ban sắc dụ bọn Phụ: Ngươi trước đây đã gửi trình biểu văn của bọn kỳ lão Mạc Thúy. Biểu văn xưng rằng con cháu nhà Trần bị giặc họ Lê sát lục, không còn người kế thừa; nên xin theo chế độ xưa, lập quận huyện để cai trị. Bèn ra lệnh các ngươi lưu ý tìm thêm, lại nhận được lời tâu họ Trần quả đã tuyệt tự, quận huyện không thể không lập, vậy xin thiết lập tam ty [1] để cai trị quân dân.
Nay chấp nhận theo lời xin; cho lập Giao-Chỉ Đô-Chỉ-huy Sứ Ty, sai Đô-đốc Lữ Nghị cai quản, Hoàng Trung giữ chức Phó, tuyển thêm 2 Đô-Chỉ-huy có năng lực cùng lãnh chức Phó. Cử Thượng-thư Hoàng Phúc kiêm nhiệm chức Bố-Chánh-ty và Án-Sát-ty. Nguyên Thị-lang bộ Công Trương Hiển Tông, Bố-chính-ty Phúc-Kiến Tả-Tham-chính Vương Bình lãnh chức Tả, Hữu Bố-Chánh-sứ. Nguyên Bố-Chánh-ty Hà-Nam Tả Tham-Chính-ty Lưu Bản, Hữu Tham-chính Lưu Dục giữ chức Tả, Hữu Tham-chính. Nguyên Án-sát-ty Giang-Tây Chu Quan Chính, người An-Nam qui phụ, tên Bùi Bá Kỳ, giữ chức Tả, Hữu Tham-chính. Nguyên Án-Sát-ty Hà-Nam Nguyễn Hữu Chương, Án-Sát Phó-sứ Dương Trực giữ chức Án-Sát Phó-sứ. Nguyên Tri-phủ Thái-Bình Lưu Hữu Niên giữ chức Án-sát Thiêm-sự. Lại riêng tuyển các quan cho điều đi, lãnh nguyên chức vụ tại các phủ, châu, huyện; nếu danh sách không đủ số sẽ ra lệnh bộ Lại thuyên chuyển đến. Nay gửi ấn tín ban cấp cho các ngươi.
Đổi tên các địa danh sau đây của Giao-Chỉ:
- Đổi phủ Long-Hưng thành phủ Trấn-Man.
- Đổi phủ Kiến-Hưng thành phủ Kiến-Bình.
- Đổi phủ Thiên-Trường thành phủ Phụng-Hóa.
- Đổi phủ Tân-Hưng thành phủ Tân-An.
- Đổi châu Quốc-Oai thành châu Oai-Man.
- Đổi châu Tuyên-Quang thành châu Tuyên-Hóa.
- Đổi châu Thượng-Phúc thành châu Phúc-Yên.
- Đổi châu An-Bang thành châu Thanh [Tĩnh]-An. [2]
- Đổi châu Nhật-Nam thành châu Nam-Tĩnh.
- Đổi châu Bố-chính thành châu Chính-Bình.
- Đổi châu Minh-Linh thành châu Nam-Linh.
- Đổi huyện Long-Nhãn thành huyện Thanh-Viễn.
- Đổi huyện Yên-Thế thành huyện Thanh-An.
- Đổi huyện Ứng-Thiên thành huyện Ứng-Bình.
- Đổi huyện Sơn-Minh thành huyện Sơn-Định.
- Đổi huyện Thượng-Phúc thành huyện Bảo-Phúc.
- Đổi huyện Long-Đàm thành huyện Thanh-Đàm.
- Đổi huyện Đan-Dương thành huyện Đan-Sơn.
- Đổi huyện Long-Bạt thành huyện Lũng-Bạt.
- Đổi huyện Thiên-Thi thành huyện Thi-Hóa.
- Đổi huyện Cổ-Chiến thành huyện Cổ-Bình.
- Đổi huyện Thống-Binh thành huyện Thống-Ninh.
- Đổi huyện Phật-Thệ thành huyện Thiện-Thệ.
- Đổi huyện Thiên-Bản thành huyện An-Bản.
- Đổi huyện Độc-Lập thành huyện Bình-Lập.
- Đổi huyện Lê-Gia thành huyện Lê-Bình.
- Đổi huyện Ngự-Thiên thành huyện Tân-Hóa.
- Đổi huyện Phí-Gia thành huyện Cổ-Phí.
- Đổi huyện An-Bang thành huyện Đồng-An.
- Đổi huyện An-Hưng thành huyện An-Hòa.
- Đổi huyện Trà-Long thành huyện Trà-Huyện.
- Đổi huyện Đỗ-Gia thành huyện Cổ-Đỗ.
- Đổi huyện Thượng-Lộ thành huyện Lộ-Bình.
- Đổi huyện Thượng-Phúc thành huyện Phúc-Khang.
- Đổi huyện Bố-Chính thành huyện Chính-Hòa.
- Đổi huyện Đặng-Gia thành huyện Cổ-Đặng.
- Đổi huyện Tả-Bố thành huyện Tả-Bình.
- Đổi huyện Thế-Vinh thành huyện Sĩ-Vinh.
Những địa danh còn lại, được giữ y như cũ.
Đặt các phủ, châu, huyện thuộc Giao-Chỉ.
Tất cả gồm 15 phủ: Giao-Châu, Bắc-Giang, Lạng-Giang, Tam-Giang, Kiến-Bình, Tân-An, Kiến-Xương, Phụng-Hóa, Thanh-Hóa, Trấn-Man, Lạng-Sơn, Tân-Bình, Diễn-Châu, Nghệ-An, Thuận-Hóa.
- Phủ Giao-Châu gồm 5 châu: Oai-Man, Phúc-An, Tam-Đái, Từ-Liêm, Lợi-Nhân. Bản phủ trực tiếp lãnh 2 huyện: Đông-Quan, và Từ-Quảng. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:
- Châu Oai-Man lãnh 4 huyện: Sơn-Định, Thanh-Oai, Ứng-Bình, Đại-Đường.
- Châu Phúc-An lãnh 3 huyện: Bảo-Phúc, Phù-Lưu, Thanh-Đàm.
- Châu Tam-Đái lãnh 6 huyện: Phù-Long, An-Lãng, Phù-Ninh, An-Lạc, Lập-Thạch, Nguyệt-Tức.
- Châu Từ-Liêm lãnh 2 huyện: Đan-Sơn, Thạch-Thất.
- Châu Lợi-Nhân lãnh 6 huyện: Thanh-Liêm, Bình-Lục, Cổ-Bảng, Cổ-Lễ, Lợi-Nhân, [Cổ-Giả ]. [3]
- Phủ Bắc-Giang gồm 3 châu: Gia-Lâm, Vũ-Ninh, Bắc-Giang. Bản phủ trực tiếp lãnh 2 huyện: Siêu-Loại, và Gia-Lâm. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:
- Châu Gia-Lâm lãnh 3 huyện: An-Định, Tế-Giang, Thiện-Tài.
- Châu Vũ-Ninh lãnh 5 huyện: Tiên-Du, Vũ-Ninh, Đông-Ngạn-Ngàn, Từ-Sơn, An-Phong.
- Châu Bắc-Giang lãnh Kỳ-Phúc, Thiện-Thệ, An-Việt.
- Phủ Lạng-Giang gồm 3 châu: Lạng-Giang, Nam-Sách, Thượng-Hồng. Bản phủ trực tiếp lãnh 5 huyện: Thanh-Viễn, Cổ-Dõng, Phượng-Sơn, Na-Ngạn, Lục-Na. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:
- Châu Lạng-Giang lãnh 4 huyện: Thanh-An, An-Ninh, Cổ-Lũng, Bảo-Lộc.
- Châu Nam-Sách lãnh 3 huyện: Thanh-Lâm, Chí-Linh, Bình-Hà.
- Châu Thượng-Hồng lãnh 3 huyện: Đường-Hào, Đường-An, Đa-Cẩm.
- Phủ Tam-Giang gồm 3 châu: Thao-Giang, Tuyên-Giang, Thi-Giang [Đà-Giang].
- Châu Thao-Giang lãnh 4 huyện: Sơn-Vi, Ma-Khê, Thanh-Ba, Hạ-Hoa.
- Châu Tuyên-Giang lãnh 3 huyện: Đông-Lan, Tây-Lan, Hổ-Nham.
- Châu Đà-Giang lãnh 2 huyện: Lũng-Bạt, Cổ-Nông.
- Phủ Kiến-Bình gồm 1 châu: Trường-Yên. Bản phủ thân lãnh 5 huyện: Ý-Yên, Yên-Bản, Bình-Lập, Đại-Loan, Vọng-Doanh.
- Châu Trường-Yên lãnh 4 huyện: Uy-Viễn, Yên-Mô, An-Ninh, Lê-Bình.
- Phủ Tân-An gồm 3 châu: Đông-Triều, Tĩnh-An, Hạ-Hồng. Bản phủ thân lãnh 5 huyện: Hiệp-Sơn, Thái-Bình, Đa-Dực, A-Khôi, Tây-Quan. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:
- Châu Đông-Triều lãnh 4 huyện: Đông-Triều, An-Lão, Cổ-Phí, Thủy-Đường.
- Châu Tĩnh-An lãnh 8 huyện: Đồng-An, Chi-Phong, An-Lập, An-Tân, An-Đại, Độc, Vạn-Ninh, Vân-Đồn.
- Châu Hạ-Hồng lãnh 4 huyện: Trường-Tân, Tứ-Kỳ, Đồng-Lợi, Thanh-Miện.
- Phủ Kiến-Xương gồm Khoái-Châu. Bản phủ trực tiếp lãnh 4 huyện: Bổng-Điền, Kiến-Xương, Bố, Chân-Lợi.
- Châu Khoái lãnh 5 huyện: Lữ-Thi, Hóa, Đông-Kết, Phù-Dung, Vĩnh-Cô.
- Phủ Phụng-Hóa gồm 4 huyện: Mỹ-Lộc, Giao-Thủy, Tây-Chân, Thuận-Vi.
- Phủ Thanh-Hóa gồm 3 châu: Thanh-Hóa, Ái, Cửu-Chân. Bản phủ lãnh 7 huyện: Cổ-Đằng, Cổ-Hoằng, Đông-Sơn, Cổ-Lôi, Vĩnh-Ninh, An-Định, Lương-Giang.
- Châu Thanh-Hóa lãnh 4 huyện: Nga-Lạc, Tế-Giang, An-Lạc, Lỗi-Giang.
- Châu Ái lãnh 4 huyện: Hà-Trung, Thống-Ninh, Tống-Giang, Chi-Nga.
- Châu Cửu-Chân lãnh 4 huyện: Cổ-Bình, Kết-Duyệt, Duyên-Giác, Nông-Cống.
- Phủ Trấn-Man gồm 4 huyện: Tân-Hóa, Đình-Hà, Cổ-Lan, Thần-Khê.
- Phủ Lạng-Sơn gồm 7 châu: Thất-Nguyên, Thượng-Văn, Hạ-Văn, Vạn-Nhai, Quảng-Nguyên, Thượng-Tứ, Hạ-Tứ-Lang. Bản phủ trực tiếp lãnh 7 huyện: Tân-An, Như-Ngao, Đơn-Ba, Khâu-Ôn, Trấn-Di, Uyên, Đổng.
- Châu Thất-Nguyên gồm 6 huyện: Thủy-Lãng, Cầm, Thóat, Dung, Pha, Bình.
- Thượng-Văn lãnh 3 huyện: Bôi-Lan, Khánh-Viễn, Khố.
- Phủ Tân-Bình gồm 2 châu: Chính-Bình, Nam-Linh. Bản phủ trực tiếp lãnh 3 huyện: Phúc-Khang, Nha-Nga, Tri-Kiến.
- Châu Chính-Bình lãnh 3 huyện: Chính-Hòa, Cổ-Đặng, Tòng-Chí.
- Châu Nam-Linh lãnh 3 huyện: Đan-Duệ, Tả-Bình, Hậu-Độ.
- Phủ Diễn-Châu gồm 1 châu: Diễn-Châu. Bản phủ trực tiếp lãnh 4 huyện: Thiên-Đông, Phù-Dung, Phù-Lưu, Quỳnh-Lâm.
- Nghệ-An gồm 2 châu: Nam-Thanh [Tĩnh] [4] , Hoan. Bản phủ lãnh 8 huyện: Nha-Nghi, Phi-Lộc, Cổ-Đỗ, Chi-La, Chân-Phúc, Thổ-Do, Kệ-Giang, Thổ-Hoàng
- Châu Nam-Tĩnh lãnh 4 huyện; Hà-Hoàng, Nham-Thạch, Hà-Hoa, Kỳ-La.
- Châu Hoan lãnh 4 huyện: Thạch-Đường, Đông-Ngạn, Lộ-Bình, Sa-Nam.
- Phủ Thuận-Hóa gồm 2 châu: Thuận, Hóa.
- Châu Thuận lãnh 3 huyện: Ba-Lãng, Lợi-Điều, An-Nhân.
- Châu Hóa lãnh 7 huyện: Lợi-Phùng, Sĩ-Vinh, Sạ-Kim, Trà-Kệ, Tư-Dung, Bồ-Đài, Bồ-Lãng.
Đổi 5 trấn thành 5 châu:
Riêng 5 trấn cũ như Thái-Nguyên v.v… được đổi thành 5 châu: Thái-Nguyên, Tuyên-Hóa, Gia-hưng, Qui-Hóa, Quảng-Oai; tất cả trực thuộc vào ty Bố-Chính.
- Châu Thái-Nguyên lãnh 11 huyện: Phú-Lương, Ty-Nông, Vũ-Lễ, Động-Hỷ, Vĩnh-Thông, Tuyên-Hóa, Lộng-Thạch, Đại-Từ, An Định, Cảm-Hóa, Thái-Nguyên.
- Châu Tuyên-Hóa lãnh 9 huyện: Khoáng, Đương-Đạo, Văn-Yên, Bình-Nguyên, Để-Giang, Thu-Vật, Đại-Man, Dương, Nhất.
- Châu Gia-Hưng lãnh 3 huyện: Lung, Mông, Tứ-Mang.
- Châu Qui-Hóa lãnh 4 huyện: An-Lập, Văn-Bàn, Văn-Chấn, Thủy-Vĩ.
- Châu Quảng-Oai lãnh 3 huyện: Ma, Lung, Mỹ-Lương.
Lập các kho tàng; ty, cục thuế khóa:
- Lập kho Vĩnh Doanh tại ty Bố-chính Giao-Chỉ.
- Lập ty đặc trách về y học và tăng đạo tại phủ Giao-Châu.
- Xây trại nuôi ngựa trạm Phong Doanh và kho lúa Vĩnh Phong tại sông Lô.
- Lập kho Vĩnh Doanh, cùng kho lúa Thường Phong tại phủ Kiến-Bình.
- Lập kho lúa Phong Tế tại phủ Tam-Giang.
- Xây trường nho học tại châu Gia-Lâm.
- Lập ty thuế khóa tại 4 phủ: Giao-Châu, Bắc-Giang, Lạng-Giang, Kiến-Bình.
- Lập cục thuế khóa tại 8 châu: Phúc-An, Tam-Đái, Từ-Liêm, Lợi-Nhân, Hỷ [Gia]-Lâm, Vũ-Ninh, Bắc-Giang, Tuyên-Hóa.
- Lập cục thuế khóa tại 20 huyện: Ứng-Bình, Đại-Đường, Sơn-Định, Thanh-Oai, Ninh, Tế-Giang, Thiện-Tài, Vũ-Ninh, Đông-Ngàn, Thanh-Lâm, Chí-Linh, Bình-Hà, Cổ-Dõng, Thanh-An, Thái-Bình, Đa-Dực, Hà-Hiện, Tây-Quan, Trường-Tân, Đồng-Lợi.
- Lập cục thuế khóa tại 5 địa phương: Xứ Ma-Lãng huyện Đa-Cẩm. Xứ Hạ-Xương huyện Bảo-Lộc. Xứ Kim-Lũ huyện Đường-Hào. Xứ Tư-Vương huyện Đường-An. Xứ Giáp-Sơn huyện Giáp-Sơn.
Bến thuyền bè đậu gồm 21 nơi:
- Dọc trường giang từ phủ Bắc-Giang cho đến châu Tam-Đái.
- Tại Thượng-Cổ, châu Từ-Liêm.
- Tại Dưỡng-Ngoạn, châu Lợi-Nhân
- Vùng trường giang thuộc châu Tuyên-Hóa.
- Tại Binh-Thần, huyện Từ-Liêm.
- Tại Giang-Đàm thuộc huyện Đại-Đường.
- Tại Sơn-Định, huyện Sơn-Định.
- Tại Thanh-Oai, huyện Thanh-Oai.
- Tại Kinh-Thai, huyện Đường-An.
- Tại Ông-La, huyện Thanh-Viễn.
- Cửa biển Yên-Mô, huyện Yên-Mô.
- Tại Xa-Lật, huyện Đông-Kết.
- Tại Viên-Quang, huyện Giao-Thủy.
- Tại Phần-Trì, huyện Cổ-Dõng.
- Tại Đống-Mỹ, huyện Bình-Hà.
- Tại Cổ-Tề-Trường, huyện An-Lão.
- Xã A-Niếp, huyện Chi-Phong.
- Xã Tứ-Kỳ, huyện Tứ-Kỳ.
- Bến sông tại xã Cá-lũ
- Bến sông tại xã An-Định.
Đặt 67 ty tuần kiểm:
- Bà-Gia, thuộc huyện Từ-Liêm.
- Sông Tam-Nghị, huyện Ứng-Bình.
- Cửa sông Tam-Giang, cầu Trường-Tân, thuộc huyện Đại-Đường
- Cửa sông Hà-Lỗ, cầu Đường-Giang, thuộc huyện Phù-Dung.
- Trấn tại cửa sông, huyện Phù-Long.
- Trấn Viên-Sơn, huyện Phù-Ninh.
- Trấn Xa-Lang, huyện Lập-Thạch.
- Cửa sông Hát-Giang, huyện Đan-Sơn.
- Kinh-Thừ, huyện Thanh-Liêm.
- Sông Ninh-Giang, huyện Bình-Lục.
- Cầu Pháo, cửa sông Vĩnh-Giang, thuộc huyện Cổ-Bảng.
- Cửa sông Tam-Giang, Xá-Thượng, Cứu-Lan, thuộc huyện Gia-Lâm.
- Cửa sông Bình-Than, huyện Thanh-Lâm.
- Bến đò Cổ-Pháp, huyện Chí-Linh.
- Cửa biển Đa-Ngư, cửa Đôi, cửa sông An-Phố, thuộc huyện Bình-Hà.
- Cửa sông A-Lao, huyện Đa-Cẩm.
- Trần-Xá, huyện Sơn-Vi.
- Núi Hoa-Nguyên, huyện Ma-Khê.
- Đãng-Hôi, huyện Hạ-Hoa.
- Cửa sông Cổ-Lưu, huyện Đông-Lan.
- Hiên-Quan, huyện Tây-Lan.
- Cửa sông Tam-Kỳ, huyện Hổ-Nham.
- Phí-Xá, huyện Lũng-Bản.
- Sái-Xá, huyện Cổ-Nông.
- Sông Lộ-Bái huyện Ý-Yên.
- Cửa bể Đại-An, huyện Đại-Loan.
- Sông Sơn-Thủy, huyện An-Ninh.
- Núi Sinh-Dược, huyện Lê-Bình.
- Cửa biển Thần-Đầu, huyện Yên-Mô.
- Sông Liêu, cửa kênh Đa-Các, thuộc huyện Thái-Bình.
- Lật-Giang, huyện Đa-Dực.
- Bến Chi-Long, huyện A-Khôi.
- Xã Chi-Lai, huyện Tây-Quan.
- Sông Thiên-Liêu, Đồn-Sơn thuộc châu Đông-Triều.
- Cửa biển xã Phù-Đái, huyện Cổ-Phí,
- Cửa biển Đa-Hỗn, thuộc huyện An-Lão.
- Cửa biển Đồng-An, huyện Đồng-An.
- Cửa biển xã Đa-Lý, huyện Chi-Phong.
- Cửa biển Tiểu Bạch-Đằng, huyện An-Hòa.
- Xã Ba-Liễu, huyện Trường-Tân.
- Đội Vực-Cá-Lâu, đội Du-Giang, đội Chúc-Thủy; huyện Tứ-Kỳ.
- Đa-Dặc, huyện Đồng-Lợi.
- Bổng-Điền, huyện Bổng-Điền.
- Cửa sông Hoàng-Giang, huyện Kiến-Xương.
- Cửa Hải-Môn, huyện Chân-Lợi.
- Cửa khẩu Xa-Lật, huyện Đông-Kết.
- Cửa khẩu sông Ninh-Giang, huyện Mỹ-Lộc.
- Cửa khẩu Đái-Giang, huyện Tây-Chân.
- Cửa sông A-Giang, Hội-Giang, thuộc huyện Thuận-Vi.
- Cửa biển Thiêm-Phúc, cửa Giao, thuộc huyện Giao-Thủy.
- Hương Thạch-Tư, thuộc huyện Thu-Vật.
- Cầu Bắc-Quả, huyện Đại-Man.
- Xã Chi-Lan, huyện Đương-Đạo.
- Cửa sông Vị-Long, huyện Văn-An.
- Bắc-Cù, huyện Bình-Nguyên.
- Trấn Tích-Sơn, huyện Để-Giang.
Lập 7 trạm dịch dùng ngựa, gồm:
Trạm Khương-Kiều, huyện Thanh-Liêm.
Trạm Bảo-Phúc, huyện Bảo-Phúc.
Trạm Gia-Lâm, huyện Gia-Lâm.
Trạm Thị-Cầu, huyện Vũ-Ninh.
Trạm Vĩnh-An, huyện Bình-Lục.
Trạm Sinh-Dược, huyện Lê-Bình.
Trạm Cần-Trạm, huyện Bảo-Lộc.
Lập 5 sở chuyển vận, gồm:
Sông Lô, tại phủ Giao-Châu.
Thị-Cầu, tại huyện Vũ-Ninh.
Cần-Trạm, tại huyện Bảo-Lộc.
Kê-Lăng.
Khâu-Ôn.
(Minh Thực Lục, quyển 68, trang đầu 946)
BẢNG LIỆT KÊ PHỦ HUYỆN THỜI THUỘC MINH KÈM CÁC CƠ SỞ ĐƯỢC THIẾT LẬP
VIẾT TẮT DÙNG CHO CÁC CƠ SỞ ĐƯỢC THIẾT LẬP:
kho: Kho hàng, kho lúa
thuế: Ty, cục thuế
bến: Bến đậu thuyền bè
tuần: Ty tuần kiểm
trạm: Trạm dịch
vận: Sở chuyển vận
trường: Trường Nho học
ty: Ty tăng đạo, ty y học
| HUYỆN
|
CHÂU
|
PHỦ
|
CÁC CƠ SỞ
|
|
|
|
|
|
| Đông-Quan
|
|
Giao-Châu
|
kho, ty, thuế, vận, ty tăng đạo,
|
| Từ-Quảng
|
|
Giao-Châu
|
ty Nho học, ty y học,
|
| Sơn-Định
|
Uy-Man
|
Giao-Châu
|
thuế, bến,
|
| Thanh-Oai
|
Uy-Man
|
Giao-Châu
|
thuế, bến,
|
| Ứng-Bình
|
Uy-Man
|
Giao-Châu
|
thuế, tuần,
|
| Đại-Đường
|
Uy-Man
|
Giao-Châu
|
thuế, bến, tuần, tuần,
|
| Bảo-Phúc
|
Phúc-An
|
Giao-Châu
|
thuế, trạm,
|
| Phù-Lưu
|
Phúc-An
|
Giao-Châu
|
|
| Thanh-Đàm
|
Phúc-An
|
Giao-Châu
|
|
| Phù-Long
|
Tam-Đái
|
Giao-Châu
|
thuế, tuần,
|
| An-Lãng
|
Tam-Đái
|
Giao-Châu
|
|
| Phù-Ninh
|
Tam-Đái
|
Giao-Châu
|
tuần,
|
| An-Lạc
|
Tam-Đái
|
Giao-Châu
|
|
| Lập-Thạch
|
Tam-Đái
|
Giao-Châu
|
tuần,
|
| Nguyệt-Tức
|
Tam-Đái
|
Giao-Châu
|
|
| Đan-Sơn
|
Từ-Liêm
|
Giao-Châu
|
thuế, bến, tuần, bến,
|
| Thạch-Thất
|
Từ-Liêm
|
Giao-Châu
|
tuần,
|
| Thanh-Liêm
|
Lợi-Nhân
|
Giao-Châu
|
thuế, bến, tuần, trạm
|
| Bình-Lục
|
Lợi-Nhân
|
Giao-Châu
|
trạm, tuần,
|
| Cổ-Bảng
|
Lợi-Nhân
|
Giao-Châu
|
tuần, tuần,
|
| Cổ-Lễ
|
Lợi-Nhân
|
Giao-Châu
|
|
| LợI-Nhân
|
Lợi-Nhân
|
Giao-Châu
|
tuần,
|
| Cổ-Giả
|
Lợi-Nhân
|
Giao-Châu
|
|
| Siêu-Loại
|
|
Bắc-Giang
|
trạm, tuần, thuế, bến,
|
| Gia-Lâm
|
|
Bắc-Giang
|
trường, tuần, tuần, tuần, trạm,
|
| An-Định
|
Gia-Lâm
|
Bắc-Giang
|
thuế,
|
| Tế-Giang
|
Gia-Lâm
|
Bắc-Giang
|
thuế,
|
| Thiện-Tài
|
Gia-Lâm
|
Bắc-Giang
|
thuế,
|
| Tiên-Du
|
Vũ-Ninh
|
Bắc-Giang
|
thuế, trạm, vận,
|
| Đông-Ngàn
|
Vũ-Ninh
|
Bắc-Giang
|
thuế, thuế,
|
| Từ-Sơn
|
Vũ-Ninh
|
Bắc-Giang
|
|
| An-Phong
|
Vũ-Ninh
|
Bắc-Giang
|
|
| Kỳ-Phúc
|
Bắc-Giang
|
Bắc-Giang
|
thuế,
|
| Thiên-Thệ
|
Bắc-Giang
|
Bắc-Giang
|
|
| An-Việt
|
Bắc-Giang
|
Bắc-Giang
|
|
| Thanh-Viễn
|
|
Lạng-Giang
|
thuế, bến,
|
| Cổ-Dõng
|
|
Lạng-Giang
|
thuế, bến,
|
| Phượng-Sơn
|
|
Lạng-Giang
|
|
| Na-Ngạn
|
|
Lạng-Giang
|
|
| Lục-Na
|
|
Lạng-Giang
|
|
| Thanh-An
|
Lạng-Giang
|
Lạng-Giang
|
thuế,
|
| An-Ninh
|
Lạng-Giang
|
Lạng-Giang
|
tuần,
|
| Cổ-Lũng
|
Lạng-Giang
|
Lạng-Giang
|
|
| Bảo-Lộc
|
Lạng-Giang
|
Lạng-Giang
|
thuế, trạm, vận,
|
| Thanh-Lâm
|
Nam-Sách
|
Lạng-Giang
|
thuế, tuần,
|
| Chí-Linh
|
Nam-Sách
|
Lạng-Giang
|
thuế, tuần,
|
| Bình-Hà
|
Nam-Sách
|
Lạng-Giang
|
thuế, bến, tuần, tuần,
|
| Đường-Hào
|
Thượng-Hồng
|
Lạng-Giang
|
thuế,
|
| Đường-An
|
Thượng-Hồng
|
Lạng-Giang
|
thuế, bến,
|
| Đa-Cẩm
|
Thượng-Hồng
|
Lạng-Giang
|
thuế, tuần,
|
| Sơn-Vi
|
Thao-Giang
|
Tam-Giang
|
kho, tuần,
|
| Ma-Khê
|
Thao-Giang
|
Tam-Giang
|
tuần,
|
| Thanh-Ba
|
Thao-Giang
|
Tam-Giang
|
|
| Hạ-Hoa
|
Thao-Giang
|
Tam-Giang
|
tuần,
|
| Đông-Lan
|
Tuyên-Giang
|
Tam-Giang
|
tuần,
|
| Tây-Lan
|
Tuyên-Giang
|
Tam-Giang
|
tuần,
|
| Hổ-Nham
|
Tuyên-Giang
|
Tam-Giang
|
tuần,
|
| Lũng-Bản
|
Đà-Giang
|
Tam-Giang
|
tuần,
|
| Cổ-Nông
|
Đà-Giang
|
Tam-Giang
|
tuần,
|
| Ý-Yên
|
|
Kiến-Bình
|
kho, thuế, tuần, kho,
|
| Yên-Bản
|
|
Kiến-Bình
|
|
| Bình-Lập
|
|
Kiến-Bình
|
|
| Đại-Loan
|
|
Kiến-Bình
|
tuần,
|
| Vọng-Doanh
|
|
Kiến-Bình
|
|
| Uy-Viễn
|
Trường-Yên
|
Kiến-Bình
|
|
| Yên-Mô
|
Trường-Yên
|
Kiến-Bình
|
bến, tuần,
|
| An-Ninh
|
Trường-Yên
|
Kiến-Bình
|
tuần,
|
| Lê-Bình
|
Trường-Yên
|
Kiến-Bình
|
tuần, trạm,
|
| Giáp-Sơn
|
|
Tân-An
|
thuế,
|
| Thái-Bình
|
|
Tân-An
|
thuế, tuần, tuần,
|
| Đa-Dực
|
|
Tân-An
|
thuế, tuần,
|
| A-Khôi
|
|
Tân-An
|
tuần,
|
| Tây-Quan
|
|
Tân-An
|
thuế, tuần,
|
| Đông-Triều
|
Đông-Triều
|
Tân-An
|
tuần,
|
| An-Lão
|
Đông-Triều
|
Tân-An
|
bến, tuần,
|
| Cổ-Phí
|
Đông-Triều
|
Tân-An
|
tuần,
|
| Thủy-Đường
|
Đông-Triều
|
Tân-An
|
|
| Đồng-An
|
Tĩnh-An
|
Tân-An
|
tuần,
|
| Chi-Phong
|
Tĩnh-An
|
Tân-An
|
bến, tuần,
|
| An-Lập
|
Tĩnh-An
|
Tân-An
|
|
| An-Tân
|
Tĩnh-An
|
Tân-An
|
|
| An-Đại
|
Tĩnh-An
|
Tân-An
|
|
| Độc
|
Tĩnh-An
|
Tân-An
|
|
| Vạn-Ninh
|
Tĩnh-An
|
Tân-An
|
|
| Vân-Đồn
|
Tĩnh-An
|
Tân-An
|
|
| Trường-Tân
|
Hạ-Hồng
|
Tân-An
|
thuế, tuần,
|
| Tứ-Kỳ
|
Hạ-Hồng
|
Tân-An
|
bến, tuần,
|
| Đồng-Lợi
|
Hạ-Hồng
|
Tân-An
|
thuế, tuần, tuần,
|
| Thanh-Miện
|
Hạ-Hồng
|
Tân-An
|
|
| Bổng-Điền
|
|
Kiến-Xương
|
tuần,
|
| Kiến-Xương
|
|
Kiến-Xương
|
tuần,
|
| Bố
|
|
Kiến-Xương
|
|
| Chân-Lợi
|
|
Kiến-Xương
|
tuần,
|
| Lữ-Thi
|
Khoái-Châu
|
Kiến-Xương
|
|
| Hóa
|
Khoái-Châu
|
Kiến-Xương
|
|
| Đông-Kết
|
Khoái-Châu
|
Kiến-Xương
|
tuần,
|
| Phù-Dung
|
Khoái-Châu
|
Kiến-Xương
|
tuần, tuần,
|
| Vĩnh-Cô
|
Khoái-Châu
|
Kiến-Xương
|
|
| Mỹ-Lộc
|
|
Phụng-Hóa
|
tuần,
|
| Giao-Thủy
|
|
Phụng-Hóa
|
bến, tuần, tuần,
|
| Tây-Chân
|
|
Phụng-Hóa
|
tuần,
|
| Thuận-Vi
|
|
Phụng-Hóa
|
tuần, tuần,
|
| Cổ-Đằng
|
|
Thanh-Hóa
|
|
| Cổ-Hoằng
|
|
Thanh-Hóa
|
|
| Đông-Sơn
|
|
Thanh-Hóa
|
|
| Cổ-Lôi
|
|
Thanh-Hóa
|
|
| Vĩnh-Ninh
|
|
Thanh-Hóa
|
|
| An-Định
|
|
Thanh-Hóa
|
|
| Lương-Giang
|
|
Thanh-Hóa
|
|
| Nga-Lạc
|
Thanh-Hóa
|
Thanh-Hóa
|
|
| Tế-Giang
|
Thanh-Hóa
|
Thanh-Hóa
|
|
| An-Lạc
|
Thanh-Hóa
|
Thanh-Hóa
|
|
| Lỗi-Giang
|
Thanh-Hóa
|
Thanh-Hóa
|
|
| Hà-Trung
|
Ái-Châu
|
Thanh-Hóa
|
|
| Thống-Ninh
|
Ái-Châu
|
Thanh-Hóa
|
|
| Tống-Giang
|
Ái-Châu
|
Thanh-Hóa
|
|
| Chi-Nga
|
Ái-Châu
|
Thanh-Hóa
|
|
| Cổ-Bình
|
Cửu-Chân
|
Thanh-Hóa
|
|
| Kết-Duyệt
|
Cửu-Chân
|
Thanh-Hóa
|
|
| Duyên-Giác
|
Cửu-Chân
|
Thanh-Hóa
|
|
| Nông-Cống
|
Cửu-Chân
|
Thanh-Hóa
|
|
| Tân-Hòa
|
|
Trấn-Man
|
|
| Đình-Hà
|
|
Trấn-Man
|
|
| Cổ-Lan
|
|
Trấn-Man
|
|
| Thần-Khê
|
|
Trấn-Man
|
|
| Tân-An
|
|
Lạng-Sơn
|
|
| Như-Ngao
|
|
Lạng-Sơn
|
|
| Đơn-Ba
|
|
Lạng-Sơn
|
|
| Khâu-Ôn
|
|
Lạng-Sơn
|
vận,
|
| Trấn-Di
|
|
Lạng-Sơn
|
vận,
|
| Uyên
|
|
Lạng-Sơn
|
|
| Đồng
|
|
Lạng-Sơn
|
|
| Thúy-Lãng
|
Thất-Nguyên
|
Lạng-Sơn
|
|
| Cầm
|
Thất-Nguyên
|
Lạng-Sơn
|
|
| Thoát
|
Thất-Nguyên
|
Lạng-Sơn
|
|
| Dung
|
Thất-Nguyên
|
Lạng-Sơn
|
|
| Pha
|
Thất-Nguyên
|
Lạng-Sơn
|
|
| Bình
|
Thất-Nguyên
|
Lạng-Sơn
|
|
| Bối-Lan
|
Thượng-Văn
|
Lạng-Sơn
|
|
| Khánh-Viễn
|
Thượng-Văn
|
Lạng-Sơn
|
|
| Khố
|
Thượng-Văn
|
Lạng-Sơn
|
|
| Phúc-Khang
|
|
Tân-Bình
|
|
| Nha-Nga
|
|
Tân-Bình
|
|
| Tri-Kiến
|
|
Tân-Bình
|
|
| Chính-Hòa
|
Chính-Bình
|
Tân-Bình
|
|
| Cổ-Đặng
|
Chính-Bình
|
Tân-Bình
|
|
| Tòng-Chí
|
Chính-Bình
|
Tân-Bình
|
|
| Đan-Duệ
|
Nam-Linh
|
Tân-Bình
|
|
| Tả-Bình
|
Nam-Linh
|
Tân-Bình
|
|
| Hậu-Độ
|
Nam-Linh
|
Tân-Bình
|
|
| Thiên-Đông
|
|
Diễn-Châu
|
|
| Phù-Dung
|
|
Diễn-Châu
|
tuần,
|
| Phù-Lưu
|
|
Diễn-Châu
|
|
| Quỳnh-Lâm
|
|
Diễn-Châu
|
|
| Nha-Nghi
|
|
Nghệ-An
|
|
| Phi-Lộc
|
|
Nghệ-An
|
|
| Cổ-Đỗ
|
|
Nghệ-An
|
|
| Chi-La
|
|
Nghệ-An
|
|
| Chân-Phúc
|
|
Nghệ-An
|
|
| Thổ-Do
|
|
Nghệ-An
|
|
| Kệ-Giang
|
|
Nghệ-An
|
|
| Thổ-Hoàng
|
|
Nghệ-An
|
|
| Hà-Hoàng
|
Nam-Thanh
|
Nghệ-An
|
|
| Nham-Thạch
|
Nam-Thanh
|
Nghệ-An
|
|
| Hà-Hoa
|
Nam-Thanh
|
Nghệ-An
|
|
| Kỳ-La
|
Nam-Thanh
|
Nghệ-An
|
|
| Thạch-Đường
|
Hoan-Châu
|
Nghệ-An
|
|
| Đông-Ngạn
|
Hoan-Châu
|
Nghệ-An
|
|
| Lộ-Bình
|
Hoan-Châu
|
Nghệ-An
|
|
| Sa-Nam
|
Hoan-Châu
|
Nghệ-An
|
|
| Ba-Lãng
|
Thuận
|
Thuận-Hóa
|
|
| Lợi-Điều
|
Thuận
|
Thuận-Hóa
|
|
| An-Nhân
|
Thuận
|
Thuận-Hóa
|
|
| Lợi-Phùng
|
Hóa
|
Thuận-Hóa
|
|
| Sĩ-Vinh
|
Hóa
|
Thuận-Hóa
|
|
| Sạ-Kim
|
Hóa
|
Thuận-Hóa
|
|
| Trà-Kệ
|
Hóa
|
Thuận-Hóa
|
|
| Tư-Dung
|
Hóa
|
Thuận-Hóa
|
|
| Bồ-Đài
|
Hóa
|
Thuận-Hóa
|
|
| Bồ-Lãng
|
Hóa
|
Thuận-Hóa
|
|
| Phú-Lương
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| Ty-Nông
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| Vũ-Lễ
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| Động-Hỷ
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| Vĩnh-Thông
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| Tuyên-Hóa
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| Lộng-Thạch
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| Đại-Từ
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| An-Định
|
Thái-Nguyên
|
|
bến,
|
| Cảm-Hóa
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| Thái-Nguyên
|
Thái-Nguyên
|
|
|
| Khoáng
|
Tuyên-Hóa
|
|
thuế, bến,
|
| Đương-Đạo
|
Tuyên-Hóa
|
|
tuần,
|
| Văn-Yên
|
Tuyên-Hóa
|
|
tuần,
|
| Bình-Nguyên
|
Tuyên-Hóa
|
|
tuần,
|
| Để-Giang
|
Tuyên-Hóa
|
|
tuần,
|
| Thu-Vật
|
Tuyên-Hóa
|
|
tuần,
|
| Đại-Man
|
Tuyên-Hóa
|
|
tuần,
|
| Dương
|
Tuyên-Hóa
|
|
|
| Nhất
|
Tuyên-Hóa
|
|
|
| Lung
|
Gia-Hưng
|
|
|
| Mông
|
Gia-Hưng
|
|
|
| Tứ-Mang
|
Gia-Hưng
|
|
|
| An-Lập
|
Qui-Hóa
|
|
|
| Văn-Bàn
|
Qui-Hóa
|
|
|
| Văn-Chấn
|
Qui-Hóa
|
|
|
| Thúy-Vĩ
|
Qui-Hóa
|
|
|
| Ma
|
Quảng-Oai
|
|
|
| Mỹ-Lương
|
Quảng-Oai
|
|
|
© 2005 talawas
[1]Tam ty gồm 3 ty: Đô Chỉ-Huy-Sứ-ty, Bố-Chánh-ty, Án-Sát-ty. [2]Trong danh sách phủ, châu, huyện chép là Tĩnh-An, thuộc phủ Tân-An. [3]Sách Thiên Hạ Quận Quốc chép rằng tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 13 huyện Cổ-Giả bị gộp vào huyện Lợi-Nhân. (Theo Đào Duy Anh, Đất nước Việt-Nam qua các đời, trang 130). [4]Phần đổi các địa danh, chép đổi châu Nhật-Nam thành châu Nam-Tĩnh.
|