trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
19.9.2005
Hồ Bạch Thảo
Sắc dụ của Minh Thành Tổ thiết lập guồng máy cai trị tại nước ta
 

Đất nước ta từng bị các triều đại Trung-Quốc và cả Pháp đô hộ; thông thường nhà nước thống trị ủy nhiệm cho viên Thái-thú hoặc Toàn-quyền thu xếp mọi việc cai trị. Riêng vua Thành Tổ nhà Minh thì khác hẳn, nhà vua đích thân chỉ đạo mọi việc lớn nhỏ, vạch kế hoạch sâu sát từng chi tiết. Từ kinh đô Bắc-Kinh xa xôi, vua Thành Tổ đã dựng nên một guồng máy đô hộ nước ta và cẩn thận ghi trong sắc dụ chính thức tuyên bố cai trị nước ta vào ngày 1 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [1407]. Công trình này không đơn giản, ắt phải điều động nhiều người và thời gian mới soạn thảo xong, nội dung gồm những nét chính sau đây:

  • Lập danh sách quan cai trị cấp trung ương (tam ty); riêng các phủ, châu, huyện có văn thư gửi kèm.
  • Chia nước ta thành 15 phủ; nêu tên từng phủ cùng các châu, huyện trực thuộc.

    Lập 21 bến cảng cho thuyền bè đậu.

  • Lập các kho tàng, các ty chuyên môn như các ty đặc trách về y học, Tăng đạo, Nho học.
  • Đặt 67 ty tuần kiểm tại các yếu điểm (Sensitive area).
  • Lập 5 sở chuyển vận, các trạm dịch cho ngựa.

Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu lịch sử, địa lý, cùng các nhà biên soạn địa phương chí. Bởi vậy, sau khi phiên dịch nguyên văn sắc dụ, chúng tôi lập thêm một bảng liệt kê để tóm tắt, nhằm giúp bạn đọc hình dung sự việc một cách cụ thể.

Ngày 1 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [1407]

Sắc dụ quan Tổng-binh Chinh Di Tướng-quân Tân-Thành-hầu Trương Phụ, Tả Phó-Tướng-quân Tây-Bình-hầu Mộc Thạnh, Tả Tham-tướng Phong-Thành-hầu Lý Bân, Hữu Tham-tướng Vân-Dương-bá Trần Húc, cùng các tiểu tướng hiệu:

Giặc họ Lê giết vua cướp nước, tiếm hiệu xưng kỷ nguyên, tàn bạo bất nhân, làm đau khổ cả một nước; lại xâm phạm lân bang, kháng cự triều mệnh, không làm tròn chức cống. Trẫm bất đắc dĩ sai các ngươi mang quân phạt tội. Nhờ trời đất tổ tông phù hộ, tướng sĩ hết sức liều mình, binh uy tới mọi nơi đều được tiễu bình; bắt sống cha con nghịch tặc Lê Quí Ly, cùng bọn ngụy quan; chiêu tập dân lương thiện, dung nạp kẻ hàng; không mảy may xâm phạm của dân, chợ búa vẫn bình yên hội họp. Tin chiến thắng đưa về, hết sức mừng vui, ban trọng thưởng. Trước đây dưới thời Tống, Nguyên; An-Nam nghịch mệnh, mang quân đi đánh đều không lập được thành tích. Việc làm hôm nay thực hơn hẳn người xưa, danh thơm vĩ đại truyền mãi trăm đời. Nay đặc sai sứ mang sắc văn ủy lạo, nhân trời viêm nhiệt hãy chọn nơi cao ráo thoáng mát đóng quân để dưỡng người và ngựa, đợi lúc thời tiết trong mát cho ban sư trở về nước.

Lại ban sắc dụ bọn Phụ: Ngươi trước đây đã gửi trình biểu văn của bọn kỳ lão Mạc Thúy. Biểu văn xưng rằng con cháu nhà Trần bị giặc họ Lê sát lục, không còn người kế thừa; nên xin theo chế độ xưa, lập quận huyện để cai trị. Bèn ra lệnh các ngươi lưu ý tìm thêm, lại nhận được lời tâu họ Trần quả đã tuyệt tự, quận huyện không thể không lập, vậy xin thiết lập tam ty [1] để cai trị quân dân.

Nay chấp nhận theo lời xin; cho lập Giao-Chỉ Đô-Chỉ-huy Sứ Ty, sai Đô-đốc Lữ Nghị cai quản, Hoàng Trung giữ chức Phó, tuyển thêm 2 Đô-Chỉ-huy có năng lực cùng lãnh chức Phó. Cử Thượng-thư Hoàng Phúc kiêm nhiệm chức Bố-Chánh-ty và Án-Sát-ty. Nguyên Thị-lang bộ Công Trương Hiển Tông, Bố-chính-ty Phúc-Kiến Tả-Tham-chính Vương Bình lãnh chức Tả, Hữu Bố-Chánh-sứ. Nguyên Bố-Chánh-ty Hà-Nam Tả Tham-Chính-ty Lưu Bản, Hữu Tham-chính Lưu Dục giữ chức Tả, Hữu Tham-chính. Nguyên Án-sát-ty Giang-Tây Chu Quan Chính, người An-Nam qui phụ, tên Bùi Bá Kỳ, giữ chức Tả, Hữu Tham-chính. Nguyên Án-Sát-ty Hà-Nam Nguyễn Hữu Chương, Án-Sát Phó-sứ Dương Trực giữ chức Án-Sát Phó-sứ. Nguyên Tri-phủ Thái-Bình Lưu Hữu Niên giữ chức Án-sát Thiêm-sự. Lại riêng tuyển các quan cho điều đi, lãnh nguyên chức vụ tại các phủ, châu, huyện; nếu danh sách không đủ số sẽ ra lệnh bộ Lại thuyên chuyển đến. Nay gửi ấn tín ban cấp cho các ngươi.

Đổi tên các địa danh sau đây của Giao-Chỉ:

  • Đổi phủ Long-Hưng thành phủ Trấn-Man.
  • Đổi phủ Kiến-Hưng thành phủ Kiến-Bình.
  • Đổi phủ Thiên-Trường thành phủ Phụng-Hóa.
  • Đổi phủ Tân-Hưng thành phủ Tân-An.
  • Đổi châu Quốc-Oai thành châu Oai-Man.
  • Đổi châu Tuyên-Quang thành châu Tuyên-Hóa.
  • Đổi châu Thượng-Phúc thành châu Phúc-Yên.
  • Đổi châu An-Bang thành châu Thanh [Tĩnh]-An. [2]
  • Đổi châu Nhật-Nam thành châu Nam-Tĩnh.
  • Đổi châu Bố-chính thành châu Chính-Bình.
  • Đổi châu Minh-Linh thành châu Nam-Linh.
  • Đổi huyện Long-Nhãn thành huyện Thanh-Viễn.
  • Đổi huyện Yên-Thế thành huyện Thanh-An.
  • Đổi huyện Ứng-Thiên thành huyện Ứng-Bình.
  • Đổi huyện Sơn-Minh thành huyện Sơn-Định.
  • Đổi huyện Thượng-Phúc thành huyện Bảo-Phúc.
  • Đổi huyện Long-Đàm thành huyện Thanh-Đàm.
  • Đổi huyện Đan-Dương thành huyện Đan-Sơn.
  • Đổi huyện Long-Bạt thành huyện Lũng-Bạt.
  • Đổi huyện Thiên-Thi thành huyện Thi-Hóa.
  • Đổi huyện Cổ-Chiến thành huyện Cổ-Bình.
  • Đổi huyện Thống-Binh thành huyện Thống-Ninh.
  • Đổi huyện Phật-Thệ thành huyện Thiện-Thệ.
  • Đổi huyện Thiên-Bản thành huyện An-Bản.
  • Đổi huyện Độc-Lập thành huyện Bình-Lập.
  • Đổi huyện Lê-Gia thành huyện Lê-Bình.
  • Đổi huyện Ngự-Thiên thành huyện Tân-Hóa.
  • Đổi huyện Phí-Gia thành huyện Cổ-Phí.
  • Đổi huyện An-Bang thành huyện Đồng-An.
  • Đổi huyện An-Hưng thành huyện An-Hòa.
  • Đổi huyện Trà-Long thành huyện Trà-Huyện.
  • Đổi huyện Đỗ-Gia thành huyện Cổ-Đỗ.
  • Đổi huyện Thượng-Lộ thành huyện Lộ-Bình.
  • Đổi huyện Thượng-Phúc thành huyện Phúc-Khang.
  • Đổi huyện Bố-Chính thành huyện Chính-Hòa.
  • Đổi huyện Đặng-Gia thành huyện Cổ-Đặng.
  • Đổi huyện Tả-Bố thành huyện Tả-Bình.
  • Đổi huyện Thế-Vinh thành huyện Sĩ-Vinh.

Những địa danh còn lại, được giữ y như cũ.

Đặt các phủ, châu, huyện thuộc Giao-Chỉ.

Tất cả gồm 15 phủ: Giao-Châu, Bắc-Giang, Lạng-Giang, Tam-Giang, Kiến-Bình, Tân-An, Kiến-Xương, Phụng-Hóa, Thanh-Hóa, Trấn-Man, Lạng-Sơn, Tân-Bình, Diễn-Châu, Nghệ-An, Thuận-Hóa.

  1. Phủ Giao-Châu gồm 5 châu: Oai-Man, Phúc-An, Tam-Đái, Từ-Liêm, Lợi-Nhân. Bản phủ trực tiếp lãnh 2 huyện: Đông-Quan, và Từ-Quảng. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:
    • Châu Oai-Man lãnh 4 huyện: Sơn-Định, Thanh-Oai, Ứng-Bình, Đại-Đường.
    • Châu Phúc-An lãnh 3 huyện: Bảo-Phúc, Phù-Lưu, Thanh-Đàm.
    • Châu Tam-Đái lãnh 6 huyện: Phù-Long, An-Lãng, Phù-Ninh, An-Lạc, Lập-Thạch, Nguyệt-Tức.
    • Châu Từ-Liêm lãnh 2 huyện: Đan-Sơn, Thạch-Thất.
    • Châu Lợi-Nhân lãnh 6 huyện: Thanh-Liêm, Bình-Lục, Cổ-Bảng, Cổ-Lễ, Lợi-Nhân, [Cổ-Giả ]. [3]

  2. Phủ Bắc-Giang gồm 3 châu: Gia-Lâm, Vũ-Ninh, Bắc-Giang. Bản phủ trực tiếp lãnh 2 huyện: Siêu-Loại, và Gia-Lâm. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:
    • Châu Gia-Lâm lãnh 3 huyện: An-Định, Tế-Giang, Thiện-Tài.
    • Châu Vũ-Ninh lãnh 5 huyện: Tiên-Du, Vũ-Ninh, Đông-Ngạn-Ngàn, Từ-Sơn, An-Phong.
    • Châu Bắc-Giang lãnh Kỳ-Phúc, Thiện-Thệ, An-Việt.

  3. Phủ Lạng-Giang gồm 3 châu: Lạng-Giang, Nam-Sách, Thượng-Hồng. Bản phủ trực tiếp lãnh 5 huyện: Thanh-Viễn, Cổ-Dõng, Phượng-Sơn, Na-Ngạn, Lục-Na. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:
    • Châu Lạng-Giang lãnh 4 huyện: Thanh-An, An-Ninh, Cổ-Lũng, Bảo-Lộc.
    • Châu Nam-Sách lãnh 3 huyện: Thanh-Lâm, Chí-Linh, Bình-Hà.
    • Châu Thượng-Hồng lãnh 3 huyện: Đường-Hào, Đường-An, Đa-Cẩm.

  4. Phủ Tam-Giang gồm 3 châu: Thao-Giang, Tuyên-Giang, Thi-Giang [Đà-Giang].
    • Châu Thao-Giang lãnh 4 huyện: Sơn-Vi, Ma-Khê, Thanh-Ba, Hạ-Hoa.
    • Châu Tuyên-Giang lãnh 3 huyện: Đông-Lan, Tây-Lan, Hổ-Nham.
    • Châu Đà-Giang lãnh 2 huyện: Lũng-Bạt, Cổ-Nông.

  5. Phủ Kiến-Bình gồm 1 châu: Trường-Yên. Bản phủ thân lãnh 5 huyện: Ý-Yên, Yên-Bản, Bình-Lập, Đại-Loan, Vọng-Doanh.
    • Châu Trường-Yên lãnh 4 huyện: Uy-Viễn, Yên-Mô, An-Ninh, Lê-Bình.

  6. Phủ Tân-An gồm 3 châu: Đông-Triều, Tĩnh-An, Hạ-Hồng. Bản phủ thân lãnh 5 huyện: Hiệp-Sơn, Thái-Bình, Đa-Dực, A-Khôi, Tây-Quan. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:
    • Châu Đông-Triều lãnh 4 huyện: Đông-Triều, An-Lão, Cổ-Phí, Thủy-Đường.
    • Châu Tĩnh-An lãnh 8 huyện: Đồng-An, Chi-Phong, An-Lập, An-Tân, An-Đại, Độc, Vạn-Ninh, Vân-Đồn.
    • Châu Hạ-Hồng lãnh 4 huyện: Trường-Tân, Tứ-Kỳ, Đồng-Lợi, Thanh-Miện.

  7. Phủ Kiến-Xương gồm Khoái-Châu. Bản phủ trực tiếp lãnh 4 huyện: Bổng-Điền, Kiến-Xương, Bố, Chân-Lợi.
    • Châu Khoái lãnh 5 huyện: Lữ-Thi, Hóa, Đông-Kết, Phù-Dung, Vĩnh-Cô.

  8. Phủ Phụng-Hóa gồm 4 huyện: Mỹ-Lộc, Giao-Thủy, Tây-Chân, Thuận-Vi.
  9. Phủ Thanh-Hóa gồm 3 châu: Thanh-Hóa, Ái, Cửu-Chân. Bản phủ lãnh 7 huyện: Cổ-Đằng, Cổ-Hoằng, Đông-Sơn, Cổ-Lôi, Vĩnh-Ninh, An-Định, Lương-Giang.
    • Châu Thanh-Hóa lãnh 4 huyện: Nga-Lạc, Tế-Giang, An-Lạc, Lỗi-Giang.
    • Châu Ái lãnh 4 huyện: Hà-Trung, Thống-Ninh, Tống-Giang, Chi-Nga.
    • Châu Cửu-Chân lãnh 4 huyện: Cổ-Bình, Kết-Duyệt, Duyên-Giác, Nông-Cống.

  10. Phủ Trấn-Man gồm 4 huyện: Tân-Hóa, Đình-Hà, Cổ-Lan, Thần-Khê.
  11. Phủ Lạng-Sơn gồm 7 châu: Thất-Nguyên, Thượng-Văn, Hạ-Văn, Vạn-Nhai, Quảng-Nguyên, Thượng-Tứ, Hạ-Tứ-Lang. Bản phủ trực tiếp lãnh 7 huyện: Tân-An, Như-Ngao, Đơn-Ba, Khâu-Ôn, Trấn-Di, Uyên, Đổng.
    • Châu Thất-Nguyên gồm 6 huyện: Thủy-Lãng, Cầm, Thóat, Dung, Pha, Bình.
    • Thượng-Văn lãnh 3 huyện: Bôi-Lan, Khánh-Viễn, Khố.

  12. Phủ Tân-Bình gồm 2 châu: Chính-Bình, Nam-Linh. Bản phủ trực tiếp lãnh 3 huyện: Phúc-Khang, Nha-Nga, Tri-Kiến.
    • Châu Chính-Bình lãnh 3 huyện: Chính-Hòa, Cổ-Đặng, Tòng-Chí.
    • Châu Nam-Linh lãnh 3 huyện: Đan-Duệ, Tả-Bình, Hậu-Độ.

  13. Phủ Diễn-Châu gồm 1 châu: Diễn-Châu. Bản phủ trực tiếp lãnh 4 huyện: Thiên-Đông, Phù-Dung, Phù-Lưu, Quỳnh-Lâm.
  14. Nghệ-An gồm 2 châu: Nam-Thanh [Tĩnh] [4] , Hoan. Bản phủ lãnh 8 huyện: Nha-Nghi, Phi-Lộc, Cổ-Đỗ, Chi-La, Chân-Phúc, Thổ-Do, Kệ-Giang, Thổ-Hoàng
    • Châu Nam-Tĩnh lãnh 4 huyện; Hà-Hoàng, Nham-Thạch, Hà-Hoa, Kỳ-La.
    • Châu Hoan lãnh 4 huyện: Thạch-Đường, Đông-Ngạn, Lộ-Bình, Sa-Nam.

  15. Phủ Thuận-Hóa gồm 2 châu: Thuận, Hóa.

    • Châu Thuận lãnh 3 huyện: Ba-Lãng, Lợi-Điều, An-Nhân.
    • Châu Hóa lãnh 7 huyện: Lợi-Phùng, Sĩ-Vinh, Sạ-Kim, Trà-Kệ, Tư-Dung, Bồ-Đài, Bồ-Lãng.

Đổi 5 trấn thành 5 châu:

Riêng 5 trấn cũ như Thái-Nguyên v.v… được đổi thành 5 châu: Thái-Nguyên, Tuyên-Hóa, Gia-hưng, Qui-Hóa, Quảng-Oai; tất cả trực thuộc vào ty Bố-Chính.

  • Châu Thái-Nguyên lãnh 11 huyện: Phú-Lương, Ty-Nông, Vũ-Lễ, Động-Hỷ, Vĩnh-Thông, Tuyên-Hóa, Lộng-Thạch, Đại-Từ, An Định, Cảm-Hóa, Thái-Nguyên.
  • Châu Tuyên-Hóa lãnh 9 huyện: Khoáng, Đương-Đạo, Văn-Yên, Bình-Nguyên, Để-Giang, Thu-Vật, Đại-Man, Dương, Nhất.
  • Châu Gia-Hưng lãnh 3 huyện: Lung, Mông, Tứ-Mang.
  • Châu Qui-Hóa lãnh 4 huyện: An-Lập, Văn-Bàn, Văn-Chấn, Thủy-Vĩ.
  • Châu Quảng-Oai lãnh 3 huyện: Ma, Lung, Mỹ-Lương.

Lập các kho tàng; ty, cục thuế khóa:

  • Lập kho Vĩnh Doanh tại ty Bố-chính Giao-Chỉ.
  • Lập ty đặc trách về y học và tăng đạo tại phủ Giao-Châu.
  • Xây trại nuôi ngựa trạm Phong Doanh và kho lúa Vĩnh Phong tại sông Lô.
  • Lập kho Vĩnh Doanh, cùng kho lúa Thường Phong tại phủ Kiến-Bình.
  • Lập kho lúa Phong Tế tại phủ Tam-Giang.
  • Xây trường nho học tại châu Gia-Lâm.
  • Lập ty thuế khóa tại 4 phủ: Giao-Châu, Bắc-Giang, Lạng-Giang, Kiến-Bình.
  • Lập cục thuế khóa tại 8 châu: Phúc-An, Tam-Đái, Từ-Liêm, Lợi-Nhân, Hỷ [Gia]-Lâm, Vũ-Ninh, Bắc-Giang, Tuyên-Hóa.
  • Lập cục thuế khóa tại 20 huyện: Ứng-Bình, Đại-Đường, Sơn-Định, Thanh-Oai, Ninh, Tế-Giang, Thiện-Tài, Vũ-Ninh, Đông-Ngàn, Thanh-Lâm, Chí-Linh, Bình-Hà, Cổ-Dõng, Thanh-An, Thái-Bình, Đa-Dực, Hà-Hiện, Tây-Quan, Trường-Tân, Đồng-Lợi.
  • Lập cục thuế khóa tại 5 địa phương: Xứ Ma-Lãng huyện Đa-Cẩm. Xứ Hạ-Xương huyện Bảo-Lộc. Xứ Kim-Lũ huyện Đường-Hào. Xứ Tư-Vương huyện Đường-An. Xứ Giáp-Sơn huyện Giáp-Sơn.

Bến thuyền bè đậu gồm 21 nơi:

  1. Dọc trường giang từ phủ Bắc-Giang cho đến châu Tam-Đái.
  2. Tại Thượng-Cổ, châu Từ-Liêm.
  3. Tại Dưỡng-Ngoạn, châu Lợi-Nhân
  4. Vùng trường giang thuộc châu Tuyên-Hóa.
  5. Tại Binh-Thần, huyện Từ-Liêm.
  6. Tại Giang-Đàm thuộc huyện Đại-Đường.
  7. Tại Sơn-Định, huyện Sơn-Định.
  8. Tại Thanh-Oai, huyện Thanh-Oai.
  9. Tại Kinh-Thai, huyện Đường-An.
  10. Tại Ông-La, huyện Thanh-Viễn.
  11. Cửa biển Yên-Mô, huyện Yên-Mô.
  12. Tại Xa-Lật, huyện Đông-Kết.
  13. Tại Viên-Quang, huyện Giao-Thủy.
  14. Tại Phần-Trì, huyện Cổ-Dõng.
  15. Tại Đống-Mỹ, huyện Bình-Hà.
  16. Tại Cổ-Tề-Trường, huyện An-Lão.
  17. Xã A-Niếp, huyện Chi-Phong.
  18. Xã Tứ-Kỳ, huyện Tứ-Kỳ.
  19. Bến sông tại xã Cá-lũ
  20. Bến sông tại xã An-Định.

Đặt 67 ty tuần kiểm:

  1. Bà-Gia, thuộc huyện Từ-Liêm.
  2. Sông Tam-Nghị, huyện Ứng-Bình.
  3. Cửa sông Tam-Giang, cầu Trường-Tân, thuộc huyện Đại-Đường
  4. Cửa sông Hà-Lỗ, cầu Đường-Giang, thuộc huyện Phù-Dung.
  5. Trấn tại cửa sông, huyện Phù-Long.
  6. Trấn Viên-Sơn, huyện Phù-Ninh.
  7. Trấn Xa-Lang, huyện Lập-Thạch.
  8. Cửa sông Hát-Giang, huyện Đan-Sơn.
  9. Kinh-Thừ, huyện Thanh-Liêm.
  10. Sông Ninh-Giang, huyện Bình-Lục.
  11. Cầu Pháo, cửa sông Vĩnh-Giang, thuộc huyện Cổ-Bảng.
  12. Cửa sông Tam-Giang, Xá-Thượng, Cứu-Lan, thuộc huyện Gia-Lâm.
  13. Cửa sông Bình-Than, huyện Thanh-Lâm.
  14. Bến đò Cổ-Pháp, huyện Chí-Linh.
  15. Cửa biển Đa-Ngư, cửa Đôi, cửa sông An-Phố, thuộc huyện Bình-Hà.
  16. Cửa sông A-Lao, huyện Đa-Cẩm.
  17. Trần-Xá, huyện Sơn-Vi.
  18. Núi Hoa-Nguyên, huyện Ma-Khê.
  19. Đãng-Hôi, huyện Hạ-Hoa.
  20. Cửa sông Cổ-Lưu, huyện Đông-Lan.
  21. Hiên-Quan, huyện Tây-Lan.
  22. Cửa sông Tam-Kỳ, huyện Hổ-Nham.
  23. Phí-Xá, huyện Lũng-Bản.
  24. Sái-Xá, huyện Cổ-Nông.
  25. Sông Lộ-Bái huyện Ý-Yên.
  26. Cửa bể Đại-An, huyện Đại-Loan.
  27. Sông Sơn-Thủy, huyện An-Ninh.
  28. Núi Sinh-Dược, huyện Lê-Bình.
  29. Cửa biển Thần-Đầu, huyện Yên-Mô.
  30. Sông Liêu, cửa kênh Đa-Các, thuộc huyện Thái-Bình.
  31. Lật-Giang, huyện Đa-Dực.
  32. Bến Chi-Long, huyện A-Khôi.
  33. Xã Chi-Lai, huyện Tây-Quan.
  34. Sông Thiên-Liêu, Đồn-Sơn thuộc châu Đông-Triều.
  35. Cửa biển xã Phù-Đái, huyện Cổ-Phí,
  36. Cửa biển Đa-Hỗn, thuộc huyện An-Lão.
  37. Cửa biển Đồng-An, huyện Đồng-An.
  38. Cửa biển xã Đa-Lý, huyện Chi-Phong.
  39. Cửa biển Tiểu Bạch-Đằng, huyện An-Hòa.
  40. Xã Ba-Liễu, huyện Trường-Tân.
  41. Đội Vực-Cá-Lâu, đội Du-Giang, đội Chúc-Thủy; huyện Tứ-Kỳ.
  42. Đa-Dặc, huyện Đồng-Lợi.
  43. Bổng-Điền, huyện Bổng-Điền.
  44. Cửa sông Hoàng-Giang, huyện Kiến-Xương.
  45. Cửa Hải-Môn, huyện Chân-Lợi.
  46. Cửa khẩu Xa-Lật, huyện Đông-Kết.
  47. Cửa khẩu sông Ninh-Giang, huyện Mỹ-Lộc.
  48. Cửa khẩu Đái-Giang, huyện Tây-Chân.
  49. Cửa sông A-Giang, Hội-Giang, thuộc huyện Thuận-Vi.
  50. Cửa biển Thiêm-Phúc, cửa Giao, thuộc huyện Giao-Thủy.
  51. Hương Thạch-Tư, thuộc huyện Thu-Vật.
  52. Cầu Bắc-Quả, huyện Đại-Man.
  53. Xã Chi-Lan, huyện Đương-Đạo.
  54. Cửa sông Vị-Long, huyện Văn-An.
  55. Bắc-Cù, huyện Bình-Nguyên.
  56. Trấn Tích-Sơn, huyện Để-Giang.

Lập 7 trạm dịch dùng ngựa, gồm:

Trạm Khương-Kiều, huyện Thanh-Liêm.

Trạm Bảo-Phúc, huyện Bảo-Phúc.

Trạm Gia-Lâm, huyện Gia-Lâm.

Trạm Thị-Cầu, huyện Vũ-Ninh.

Trạm Vĩnh-An, huyện Bình-Lục.

Trạm Sinh-Dược, huyện Lê-Bình.

Trạm Cần-Trạm, huyện Bảo-Lộc.

Lập 5 sở chuyển vận, gồm:

Sông Lô, tại phủ Giao-Châu.

Thị-Cầu, tại huyện Vũ-Ninh.

Cần-Trạm, tại huyện Bảo-Lộc.

Kê-Lăng.

Khâu-Ôn.

(Minh Thực Lục, quyển 68, trang đầu 946)


BẢNG LIỆT KÊ PHỦ HUYỆN THỜI THUỘC MINH KÈM CÁC CƠ SỞ ĐƯỢC THIẾT LẬP

VIẾT TẮT DÙNG CHO CÁC CƠ SỞ ĐƯỢC THIẾT LẬP:

kho: Kho hàng, kho lúa
thuế: Ty, cục thuế
bến: Bến đậu thuyền bè
tuần: Ty tuần kiểm
trạm: Trạm dịch
vận: Sở chuyển vận
trường: Trường Nho học
ty: Ty tăng đạo, ty y học

HUYỆN CHÂU PHỦ CÁC CƠ SỞ
     
Đông-Quan   Giao-Châu kho, ty, thuế, vận, ty tăng đạo,
Từ-Quảng   Giao-Châu ty Nho học, ty y học,
Sơn-Định Uy-Man Giao-Châu thuế, bến,
Thanh-Oai Uy-Man Giao-Châu thuế, bến,
Ứng-Bình Uy-Man Giao-Châu thuế, tuần,
Đại-Đường Uy-Man Giao-Châu thuế, bến, tuần, tuần,
Bảo-Phúc Phúc-An Giao-Châu thuế, trạm,
Phù-Lưu Phúc-An Giao-Châu  
Thanh-Đàm Phúc-An Giao-Châu  
Phù-Long Tam-Đái Giao-Châu thuế, tuần,
An-Lãng Tam-Đái Giao-Châu  
Phù-Ninh Tam-Đái Giao-Châu tuần,
An-Lạc Tam-Đái Giao-Châu  
Lập-Thạch Tam-Đái Giao-Châu tuần,
Nguyệt-Tức Tam-Đái Giao-Châu  
Đan-Sơn Từ-Liêm Giao-Châu thuế, bến, tuần, bến,
Thạch-Thất Từ-Liêm Giao-Châu tuần,
Thanh-Liêm Lợi-Nhân Giao-Châu thuế, bến, tuần, trạm
Bình-Lục Lợi-Nhân Giao-Châu trạm, tuần,
Cổ-Bảng Lợi-Nhân Giao-Châu tuần, tuần,
Cổ-Lễ Lợi-Nhân Giao-Châu  
LợI-Nhân Lợi-Nhân Giao-Châu tuần,
Cổ-Giả Lợi-Nhân Giao-Châu  
Siêu-Loại   Bắc-Giang trạm, tuần, thuế, bến,
Gia-Lâm   Bắc-Giang trường, tuần, tuần, tuần, trạm,
An-Định Gia-Lâm Bắc-Giang thuế,
Tế-Giang Gia-Lâm Bắc-Giang thuế,
Thiện-Tài Gia-Lâm Bắc-Giang thuế,
Tiên-Du Vũ-Ninh Bắc-Giang thuế, trạm, vận,
Đông-Ngàn Vũ-Ninh Bắc-Giang thuế, thuế,
Từ-Sơn Vũ-Ninh Bắc-Giang  
An-Phong Vũ-Ninh Bắc-Giang  
Kỳ-Phúc Bắc-Giang Bắc-Giang thuế,
Thiên-Thệ Bắc-Giang Bắc-Giang  
An-Việt Bắc-Giang Bắc-Giang  
Thanh-Viễn   Lạng-Giang thuế, bến,
Cổ-Dõng   Lạng-Giang thuế, bến,
Phượng-Sơn   Lạng-Giang  
Na-Ngạn   Lạng-Giang  
Lục-Na   Lạng-Giang  
Thanh-An Lạng-Giang Lạng-Giang thuế,
An-Ninh Lạng-Giang Lạng-Giang tuần,
Cổ-Lũng Lạng-Giang Lạng-Giang  
Bảo-Lộc Lạng-Giang Lạng-Giang thuế, trạm, vận,
Thanh-Lâm Nam-Sách Lạng-Giang thuế, tuần,
Chí-Linh Nam-Sách Lạng-Giang thuế, tuần,
Bình-Hà Nam-Sách Lạng-Giang thuế, bến, tuần, tuần,
Đường-Hào Thượng-Hồng Lạng-Giang thuế,
Đường-An Thượng-Hồng Lạng-Giang thuế, bến,
Đa-Cẩm Thượng-Hồng Lạng-Giang thuế, tuần,
Sơn-Vi Thao-Giang Tam-Giang kho, tuần,
Ma-Khê Thao-Giang Tam-Giang tuần,
Thanh-Ba Thao-Giang Tam-Giang  
Hạ-Hoa Thao-Giang Tam-Giang tuần,
Đông-Lan Tuyên-Giang Tam-Giang tuần,
Tây-Lan Tuyên-Giang Tam-Giang tuần,
Hổ-Nham Tuyên-Giang Tam-Giang tuần,
Lũng-Bản Đà-Giang Tam-Giang tuần,
Cổ-Nông Đà-Giang Tam-Giang tuần,
Ý-Yên   Kiến-Bình kho, thuế, tuần, kho,
Yên-Bản   Kiến-Bình  
Bình-Lập   Kiến-Bình  
Đại-Loan   Kiến-Bình tuần,
Vọng-Doanh   Kiến-Bình  
Uy-Viễn Trường-Yên Kiến-Bình  
Yên-Mô Trường-Yên Kiến-Bình bến, tuần,
An-Ninh Trường-Yên Kiến-Bình tuần,
Lê-Bình Trường-Yên Kiến-Bình tuần, trạm,
Giáp-Sơn   Tân-An thuế,
Thái-Bình   Tân-An thuế, tuần, tuần,
Đa-Dực   Tân-An thuế, tuần,
A-Khôi   Tân-An tuần,
Tây-Quan   Tân-An thuế, tuần,
Đông-Triều Đông-Triều Tân-An tuần,
An-Lão Đông-Triều Tân-An bến, tuần,
Cổ-Phí Đông-Triều Tân-An tuần,
Thủy-Đường Đông-Triều Tân-An  
Đồng-An Tĩnh-An Tân-An tuần,
Chi-Phong Tĩnh-An Tân-An bến, tuần,
An-Lập Tĩnh-An Tân-An  
An-Tân Tĩnh-An Tân-An  
An-Đại Tĩnh-An Tân-An  
Độc Tĩnh-An Tân-An  
Vạn-Ninh Tĩnh-An Tân-An  
Vân-Đồn Tĩnh-An Tân-An  
Trường-Tân Hạ-Hồng Tân-An thuế, tuần,
Tứ-Kỳ Hạ-Hồng Tân-An bến, tuần,
Đồng-Lợi Hạ-Hồng Tân-An thuế, tuần, tuần,
Thanh-Miện Hạ-Hồng Tân-An  
Bổng-Điền   Kiến-Xương tuần,
Kiến-Xương   Kiến-Xương tuần,
Bố   Kiến-Xương  
Chân-Lợi   Kiến-Xương tuần,
Lữ-Thi Khoái-Châu Kiến-Xương  
Hóa Khoái-Châu Kiến-Xương  
Đông-Kết Khoái-Châu Kiến-Xương tuần,
Phù-Dung Khoái-Châu Kiến-Xương tuần, tuần,
Vĩnh-Cô Khoái-Châu Kiến-Xương  
Mỹ-Lộc   Phụng-Hóa tuần,
Giao-Thủy   Phụng-Hóa bến, tuần, tuần,
Tây-Chân   Phụng-Hóa tuần,
Thuận-Vi   Phụng-Hóa tuần, tuần,
Cổ-Đằng   Thanh-Hóa  
Cổ-Hoằng   Thanh-Hóa  
Đông-Sơn   Thanh-Hóa  
Cổ-Lôi   Thanh-Hóa  
Vĩnh-Ninh   Thanh-Hóa  
An-Định   Thanh-Hóa  
Lương-Giang   Thanh-Hóa  
Nga-Lạc Thanh-Hóa Thanh-Hóa  
Tế-Giang Thanh-Hóa Thanh-Hóa  
An-Lạc Thanh-Hóa Thanh-Hóa  
Lỗi-Giang Thanh-Hóa Thanh-Hóa  
Hà-Trung Ái-Châu Thanh-Hóa  
Thống-Ninh Ái-Châu Thanh-Hóa  
Tống-Giang Ái-Châu Thanh-Hóa  
Chi-Nga Ái-Châu Thanh-Hóa  
Cổ-Bình Cửu-Chân Thanh-Hóa  
Kết-Duyệt Cửu-Chân Thanh-Hóa  
Duyên-Giác Cửu-Chân Thanh-Hóa  
Nông-Cống Cửu-Chân Thanh-Hóa  
Tân-Hòa   Trấn-Man  
Đình-Hà   Trấn-Man  
Cổ-Lan   Trấn-Man  
Thần-Khê   Trấn-Man  
Tân-An   Lạng-Sơn  
Như-Ngao   Lạng-Sơn  
Đơn-Ba   Lạng-Sơn  
Khâu-Ôn   Lạng-Sơn vận,
Trấn-Di   Lạng-Sơn vận,
Uyên   Lạng-Sơn  
Đồng   Lạng-Sơn  
Thúy-Lãng Thất-Nguyên Lạng-Sơn  
Cầm Thất-Nguyên Lạng-Sơn  
Thoát Thất-Nguyên Lạng-Sơn  
Dung Thất-Nguyên Lạng-Sơn  
Pha Thất-Nguyên Lạng-Sơn  
Bình Thất-Nguyên Lạng-Sơn  
Bối-Lan Thượng-Văn Lạng-Sơn  
Khánh-Viễn Thượng-Văn Lạng-Sơn  
Khố Thượng-Văn Lạng-Sơn  
Phúc-Khang   Tân-Bình  
Nha-Nga   Tân-Bình  
Tri-Kiến   Tân-Bình  
Chính-Hòa Chính-Bình Tân-Bình  
Cổ-Đặng Chính-Bình Tân-Bình  
Tòng-Chí Chính-Bình Tân-Bình  
Đan-Duệ Nam-Linh Tân-Bình  
Tả-Bình Nam-Linh Tân-Bình  
Hậu-Độ Nam-Linh Tân-Bình  
Thiên-Đông   Diễn-Châu  
Phù-Dung   Diễn-Châu tuần,
Phù-Lưu   Diễn-Châu  
Quỳnh-Lâm   Diễn-Châu  
Nha-Nghi   Nghệ-An  
Phi-Lộc   Nghệ-An  
Cổ-Đỗ   Nghệ-An  
Chi-La   Nghệ-An  
Chân-Phúc   Nghệ-An  
Thổ-Do   Nghệ-An  
Kệ-Giang   Nghệ-An  
Thổ-Hoàng   Nghệ-An  
Hà-Hoàng Nam-Thanh Nghệ-An  
Nham-Thạch Nam-Thanh Nghệ-An  
Hà-Hoa Nam-Thanh Nghệ-An  
Kỳ-La Nam-Thanh Nghệ-An  
Thạch-Đường Hoan-Châu Nghệ-An  
Đông-Ngạn Hoan-Châu Nghệ-An  
Lộ-Bình Hoan-Châu Nghệ-An  
Sa-Nam Hoan-Châu Nghệ-An  
Ba-Lãng Thuận Thuận-Hóa  
Lợi-Điều Thuận Thuận-Hóa  
An-Nhân Thuận Thuận-Hóa  
Lợi-Phùng Hóa Thuận-Hóa  
Sĩ-Vinh Hóa Thuận-Hóa  
Sạ-Kim Hóa Thuận-Hóa  
Trà-Kệ Hóa Thuận-Hóa  
Tư-Dung Hóa Thuận-Hóa  
Bồ-Đài Hóa Thuận-Hóa  
Bồ-Lãng Hóa Thuận-Hóa  
Phú-Lương Thái-Nguyên  
Ty-Nông Thái-Nguyên  
Vũ-Lễ Thái-Nguyên  
Động-Hỷ Thái-Nguyên  
Vĩnh-Thông Thái-Nguyên  
Tuyên-Hóa Thái-Nguyên  
Lộng-Thạch Thái-Nguyên  
Đại-Từ Thái-Nguyên  
An-Định Thái-Nguyên bến,
Cảm-Hóa Thái-Nguyên  
Thái-Nguyên Thái-Nguyên  
Khoáng Tuyên-Hóa thuế, bến,
Đương-Đạo Tuyên-Hóa tuần,
Văn-Yên Tuyên-Hóa tuần,
Bình-Nguyên Tuyên-Hóa tuần,
Để-Giang Tuyên-Hóa tuần,
Thu-Vật Tuyên-Hóa tuần,
Đại-Man Tuyên-Hóa tuần,
Dương Tuyên-Hóa  
Nhất Tuyên-Hóa  
Lung Gia-Hưng  
Mông Gia-Hưng  
Tứ-Mang Gia-Hưng  
An-Lập Qui-Hóa  
Văn-Bàn Qui-Hóa  
Văn-Chấn Qui-Hóa  
Thúy-Vĩ Qui-Hóa  
Ma Quảng-Oai  
Mỹ-Lương Quảng-Oai  

© 2005 talawas


[1]Tam ty gồm 3 ty: Đô Chỉ-Huy-Sứ-ty, Bố-Chánh-ty, Án-Sát-ty.
[2]Trong danh sách phủ, châu, huyện chép là Tĩnh-An, thuộc phủ Tân-An.
[3]Sách Thiên Hạ Quận Quốc chép rằng tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 13 huyện Cổ-Giả bị gộp vào huyện Lợi-Nhân. (Theo Đào Duy Anh, Đất nước Việt-Nam qua các đời, trang 130).
[4]Phần đổi các địa danh, chép đổi châu Nhật-Nam thành châu Nam-Tĩnh.

 
© talawas 2026