trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
7.7.2005
Lại Nguyên Ân
Vẫn ăn bám thì không thể sống khoẻ
 
Từ 01/7/2005, luật xuất bản (sửa đổi) bắt đầu có hiệu lực. Liệu luật mới sửa đổi sẽ đem lại những thay đổi ra sao trong các hoạt động xuất bản, in và phát hành sách, và nói chung, trong thị trường sách ở Việt Nam? Dưới đây là ý kiến phân tích của một người trong nghề.

Theo những người thông thạo tình hình thì điểm khác biệt rõ nhất, đáng kể nhất ở luật xuất bản mới sửa đổi là cho phép các đối tác liên kết được tham gia vào hoạt động tổ chức sản xuất, in và phát hành các xuất bản phẩm.

Hoạt động liên kết của các đối tác (mà thường vẫn bị gọi là “đầu nậu”) trong một số khâu của xuất bản như tổ chức in ấn, phát hành sách và các loại xuất bản phẩm, thật ra đã xuất hiện từ giữa những năm 1990 khi ngành xuất bản có một vài dấu hiệu chuyển hướng theo kinh tế thị trường, và vẫn tồn tại suốt thời gian chưa được luật mới (sửa đổi) thừa nhận. Về phương diện này, luật mới sửa chỉ có ý nghĩa thừa nhận thực tế đã hình thành chứ không có ý nghĩa “mở hướng” nào cả.

Tất nhiên, với quy định trong luật mới thì cơ quan chuyên trách của nhà nước đã có thêm cơ sở pháp lý để quản lý hoạt động của các đối tác tham gia liên kết: giám sát họ trong trách nhiệm đóng thuế, buộc họ phải cùng chịu trách nhiệm (với NXB mà họ liên kết) về các hậu quả phát sinh bởi hoạt động xuất bản, v.v…

Nhưng điều đáng quan tâm hơn liên quan đến chất lượng của hoạt động xuất bản từ nay về sau, đó là năng lực làm việc: năng lực làm việc của các nhà xuất bản, năng lực làm việc của các đối tác tham gia liên kết; – năng lực ấy sẽ có thể tiến triển ra sao, với điều mới sửa đổi trên đây trong luật xuất bản?

Rất có thể, đối với không ít người, ý niệm “năng lực làm việc” còn là khá trừu tượng. Xin cụ thể hoá bằng cách dừng lại ở phương diện tạm gọi là văn hoá trí tuệ của xuất bản phẩm: nội hàm tri thức của sách (xuất bản phẩm) phần lớn tuỳ thuộc khả năng sáng tạo của tác giả cuốn sách ấy; nhưng cùng một văn bản (bản thảo) của tác giả, khâu biên tập xuất bản có thể làm gia tăng (hoặc ngược lại, làm giảm thiểu) một phần giá trị vốn có của tác phẩm ấy. Xin lưu ý đến phần trí tuệ mà khâu biên tập làm tăng thêm chất lượng cho cuốn sách. Ở mức thấp là chất lượng biên tập và sửa in về mặt ngôn ngữ: không để văn bản in ra bị các lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp, giữ được sự nhất quán về cách viết tên riêng, in và trình bày sáng rõ, sạch sẽ, v.v… Ở mức cao hơn là những phần biên tập đem lại sự thuận tiện hơn cho người dùng sách, giúp họ tiếp cận nhanh các dữ kiện thông tin tri thức chứa trong chính cuốn sách đó, ví dụ những bảng kê chỉ dẫn tên riêng, những bản mục lục tra cứu chủ đề, v.v… Những phần này không chiếm nhiều trang nhưng chúng làm tăng đáng kể tầm vóc cuốn sách. Và phương diện “văn hoá trí tuệ” này của xuất bản phẩm sẽ cho thấy năng lực trí tuệ thật sự của người làm xuất bản.

Trở lại thực trạng của nền xuất bản “có sự tham gia của đối tác liên kết” như đã hình thành trên thực tế từ giữa những năm 1990 đến nay, dù đã được thừa nhận ở luật mới sửa, hoạt động của đối tác liên kết chung quy vẫn chỉ là hoạt động phối thuộc chứ không phải hoạt động độc lập. Dù bao hàm nhiều khâu phức tạp hơn hẳn, hoạt động của liên kết xuất bản vẫn chẳng khác bao lăm so với hoạt động của cửa hàng chụp photocopy, cửa hàng đánh máy vi tính đặt ở gần cơ quan nhà nước, hoặc hoạt động của bãi trông xe ở gần các cửa hàng, siêu thị, vì chúng chỉ là làm dịch vụ từng phần việc chứ không phải toàn bộ công việc.

Trong toàn bộ dây chuyền các khâu của xuất bản sách, phía liên kết chắc chắn đảm nhiệm việc tổ chức in và phát hành; phía nhà xuất bản chắc chắn đảm nhiệm việc biên tập, đọc duyệt, quyết định dạng nội dung cuốn sách sẽ in ra, đứng tên làm thủ tục xuất bản. Những phần việc mà cả hai phía đều có thể làm ở mức khác nhau là: 1) giao dịch với các tác giả, soạn giả, dịch giả để họ đồng ý trao quyền công bố (xuất bản) tác phẩm, làm việc với họ để họ sửa hoặc đồng ý cho sửa đổi, bổ sung, hiệu chỉnh văn bản trước khi in hàng loạt; biên tập về ngôn ngữ trên bản thảo; 2) làm chế bản (cho sắp chữ, tức là đánh máy vi tính, sửa in một vài lần cho đến khi tin là đã có bản đúng thì chuyển thành chế bản, tức là bản in trên phim hoặc giấy can, soát lại chế bản trước khi đưa đến nhà in); tóm lại, đây là những việc trước biên tập, biên tập và sau biên tập.

Nói thật gọn, trong liên kết xuất bản, phía các NXB chỉ dùng quyền (độc quyền công bố xuất bản do nhà nước trao cho), phía liên kết phải bỏ tiền ra làm vốn kinh doanh. Nếu không buộc phải đưa bản thảo tác phẩm cho NXB biên tập, sửa chữa, cắt gọt, duyệt rồi mới đứng tên cho xuất bản (mà người ta nói gọn là bán giấy phép) thì phía liên kết đã chẳng cần gì NXB. Còn các NXB, trong tình thế từ những năm 1990 đến nay, ngoài một vài nguồn vốn eo hẹp, “nguồn sống” từ lâu đã trông chờ khá nhiều từ các đối tác liên kết. Lý do rất đơn giản: với mỗi tên sách xuất bản, phía liên kết phải trả cho NXB khoản tiền gọi là quản lý phí (QLP) tính bằng: từ 5% đến 7% giá lẻ (ghi trên bìa 4) nhân với số lượng in (ví dụ cuốn sách giá 50.000 VNĐ in 1000 bản sẽ phải nộp từ 2.500.000 VNĐ nếu QLP mức 5%, đến 3.500.000 VNĐ nếu QLP mức 7%), đó là chưa kể các khoản trong phong bì cho vài ba vị chánh phó giám đốc NXB. Một thực tế đã hình thành trong “làng” xuất bản Việt Nam từ cuối những năm 1990 là: các đối tác liên kết ngày càng “làm giúp” nhiều khâu công tác cho các NXB chính ngạch, tuy chưa thể thoát chức năng phối thuộc, dịch vụ. Trong khi đó, NXB chính ngạch ngày càng ăn bám các đối tác liên kết.

Tình trạng “ăn bám” vào các đối tác liên kết nói trên dĩ nhiên vẫn được tiếp tục sau ngày 01/7/2005, khi luật xuất bản (mới sửa) có hiệu lực. Bởi vì các đối tác liên kết vẫn chưa có quyền độc lập làm sách, vẫn tiếp tục “mua giấy phép” như trước. NXB nào có nhãn hiệu tương đối nổi trội sẽ vẫn hấp dẫn khách hàng, tức là các đối tác liên kết. Tình trạng “ăn bám” kéo theo những biến dạng ngày càng rõ trong mỗi NXB: số nhân viên lo in ấn, phát hành thì giảm hẳn, vì các khâu này do đối tác lo là chính; số biên tập viên vẫn ít ỏi như trước nhưng lượng sách ra hằng năm của NXB thì không ngừng tăng lên. Có những biên tập viên làm được tới 7 – 8 ngàn trang sách trong 1 năm. Số lượng nhiều, tất nhiên không thể đọc kỹ sửa kỹ. Nhiều biên tập viên mới vào nghề đã nhanh chóng nhận thấy cái nghề ngồi đọc và sửa trên bản thảo là khó nhọc, tẻ nhạt và dễ bị ăn chặn bị cướp công nên họ “tự đào tạo” thành người “hai mang”: vừa là người trong NXB vừa là người ngoài NXB, vừa giữ chân ở ghế biên tập vừa làm đầu nậu, lo chạy giấy phép, lo môi giới, thương thảo số lượng phát hành… Ít ai lo nâng cao trình độ tay nghề biên tập. Qua đám đàn anh đàn chị trong nghề, họ biết rõ rằng: ngay những người chủ trò ở Cục XB, Hội XB vị tất đã thạo nghề biên tập!

Chất lượng ấn phẩm ít được quan tâm tới, một phần khác còn do chỗ: cả hai phía, NXB và đối tác, đều làm các khâu biên tập và sửa in. Các đối tác, nhất là những tư nhân, thường tuân thủ nguyên tắc tiết kiệm: tự họ đi gặp các tác giả lo cho có bản thảo, biên tập thì phó thác NXB, chế bản thì ra đặt các hàng vi tính ngoài phố, sửa in thì đại khái qua loa (thuê học sinh sinh viên sửa…) sao cho đỡ tốn tiền… Kiểu đối tác ưa “tiết kiệm” ấy là nguyên nhân một phần của tình trạng sách nhiều lỗi in sai mà bạn đọc lâu nay thường kêu ca. Ngay những đối tác có tiếng là quan tâm chất lượng sách in (như Trung tâm Ðông Tây, Công ty Phương Nam…) thì cũng mới chỉ làm tốt công việc sửa in, chưa tỏ rõ có khả năng xử lý các công việc thuộc nghề biên tập. Còn phía các NXB thì, như đã nói, chỉ có biên tập viên và người đọc duyệt là có can dự vào sách liên kết; phần sắp chữ và chế bản đều phó thác cho đối tác. Ngay những bộ sách làm bằng tiền nhà nước như các bộ tổng tập cũng còn nhiều lỗi in đến mức ít ai dám mạo hiểm sử dụng các văn bản tác phẩm trong đó, cho nên thật viển vông nếu ai dám yêu cầu các sách đó phải có những mục lục chỉ dẫn tên riêng, mục lục tra cứu chủ đề!

Không phải là trong sách tiếng Việt ngày nay thảng hoặc không có các phần thuộc thuần tuý nghề sách như thế, nhất là khi, ở một vài cuốn sách nào đó, ta may mắn bắt gặp một vài dịch giả hoặc soạn giả rất cẩn trọng cuốn sách mình làm, rất có trách nhiệm với bạn đọc, tin rằng sẽ có những bạn đọc nào đó nghiêm túc sử dụng cuốn sách mình làm. Nhưng đó chỉ là lẻ tẻ. Nhìn chung thì chưa ai có thể nói rằng các NXB ở Việt Nam hiện nay đã đủ người có trình độ để thực hiện những phần việc vừa kể trên của nghề làm sách.

Chuyện nêu trên chỉ là một trong những chỗ yếu của giới làm sách ở Việt Nam hiện nay. Liệu cái yếu này có liên can gì với tình trạng dính nhau giữa NXB với đối tác liên kết? Thiết nghĩ là có. Tình trạng dính nhau, sống nhờ lẫn nhau không tạo ra cạnh tranh, ngược lại, chỉ tạo ra tâm lý dựa dẫm và thói đổ thừa lẫn nhau. Vẫn ăn bám thì không thể sống khoẻ, các NXB trong nước hiện vẫn quá thiếu năng lực làm sách, và sự thể càng đáng lo hơn nếu đem so với các chuẩn về sách của các nước tiên tiến.

Tình hình hẳn sẽ dần dần đổi khác nếu các đối tác giành được quyền làm sách độc lập, tức là quyền trở thành NXB. Khi đó sẽ có sự cạnh tranh bình thường và mọi chủ thể trong nghề sẽ phải lo nâng cao tay nghề. Nhưng… đó lại là một mặt bằng khác.

30/6/2005

 
© talawas 2026