Nguyễn Minh Văn
Ba mươi năm sau ngày 30/4/1975, việc đánh giá vai trò của các phe trong cuộc chiến 1954-1975 vẫn còn là đề tài tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn BBC, talawas, Đàn Chim Việt, v.v… Luồng dư luận ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam hầu như nhất quán xem cuộc chiến 54-75 là cuộc chiến yêu nước của nhân dân Việt Nam chống xâm lược Mỹ, hầu giải phóng và thống nhất nước nhà. Luồng dư luận bất đồng với Đảng Cộng sản thì đa dạng hơn rất nhiều, tạo thành một “spectrum” với nhiều quan điểm từ hữu sang tả. Bên cánh hữu thì nhất quyết xem cuộc chiến là sự đấu tranh của quân dân miền Nam chống chủ nghĩa cộng sản, hầu bảo vệ tự do. Bên cánh tả, tuy cũng xem cuộc chiến là “chống Mỹ cứu nước” nhưng lại bất đồng với ý đồ Lê-nin-nít của Đảng trong và sau chiến tranh. Cuộc tranh cãi này hiện giờ vẫn còn sôi nổi và chuyện tìm ra mẫu số chung xem ra có vẻ còn xa.
Theo thiển ý của tôi thì có một (trong nhiều) nguyên nhân làm cản trở sự đồng thuận là ý niệm “yêu nước” theo kiểu “nhị phân”, tức trắng đen rõ ràng. Theo kiểu này, anh chị chỉ có thể chọn mặc màu trắng hoặc là màu đen mà thôi. Nếu trắng là “yêu nước” thì bên đen “không yêu nước”. Hễ muốn được xem là “yêu nước”, thì bên đen phải tự nhuộm mình thành trắng.
Theo tôi nghĩ, trên thực tế, “yêu nước” có thể mang rất nhiều màu sắc khác nhau, chứ không phải chỉ có trắng và đen. Để minh họa ý này, tôi xin mời quí độc giả hãy thử xem những cá nhân sau đây có tấm lòng yêu nước hay không (nhưng xin hãy khoan đánh giá kết quả chuyện họ làm):
- Một cán bộ của Đảng CSVN, cả đời hi sinh cho cách mạng, thành thật tin rằng tiêu diệt tầng lớp doanh nhân tư sản, xoá bỏ tư doanh, hợp tác hoá đất đai của nông dân thì sẽ đem lại ấm no, bình đẳng cho nhân dân lao động Việt Nam.
- Một bộ đội miền Bắc, hoàn toàn mù tịt về chủ nghĩa Mác-Lê, nhưng tình nguyện vào B chiến đấu gian khổ vì nghĩ rằng miền Nam đang bị Mỹ xâm lược. Năm 75, anh về thành, mang theo đôi dép râu, một ít lương khô, và xấp giấy báo (dùng làm vệ sinh) hầu “chi viện” cho các thân nhân tại Sài Gòn mà anh tưởng là đang vô cùng đói rách vì ách kềm kẹp của Mỹ ngụy.
- Một chị buôn gánh bán bưng, ngày ngày nấu xôi, nấu chè mang ra chợ bán. Cả đời chị lo lam lũ kiếm sống nuôi con, không có khả năng để nghĩ đến chuyện gì cao xa.
- Một vị tướng trong quân lực VNCH nghĩ rằng mình phải hết lòng chiến đấu chống lại cộng sản vì không muốn nhìn thấy những sự kiện xảy ra dưới thời Stalin ở Liên Xô, thời Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, ở miền Bắc trước 75, hay ở ngay bên nước láng giềng Campuchia sau 17/4/75 sẽ đổ ụp xuống đầu đồng bào của mình tại miền Nam Việt Nam.
- Một vị công chức cao cấp, làm việc trong ngành giáo dục, giao thông công chánh, hay y tế của chính phủ VNCH, cố công gầy dựng hệ thống nhà trường có chất lượng, canh tân đường sá cầu cống, mở mang bệnh xá tại các thôn làng, dù là phải cắn răng đi xin tiền viện trợ của ngoại quốc.
- Một ông lớn (không cần biết của chế độ nào) có thành tích tham nhũng, buôn lậu nhưng tự hào mình là người Việt Nam, chỉ thích sống ở Việt Nam, ăn đồ ăn Việt Nam, và thích nghe vọng cổ.
- Một Việt kiều ngày đêm trăn trở với các vấn đề của nước nhà và thường viết báo chỉ trích các thiếu sót của chính quyền Việt Nam, mặc dù bản thân anh thì không làm được việc gì cụ thể vì phải lao động quần quật để mưu sinh.
- Một vị sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam quyết định đưa vài trăm tân binh còn non nớt vào một chiến dịch nguy hiểm sâu trên đất Campuchia để cứu dân Khmer khỏi bị tàn sát dã man bởi lính Pol-Pot.
Giả sử như 8 người trên ngồi chung bàn trong một buổi tiệc, bỗng có vị cho rằng như mình thì mới “yêu nước”, còn như các anh chị khác là không “yêu nước”. Vị đó còn cho rằng mình “đúng” vì mình đã hi sinh quá nhiều cho kiểu “yêu nước” của mình. Tôi nghĩ là trước sau sẽ có cãi lộn, nếu không thì các bên cũng sẽ đều bỏ về, trong lòng hậm hực, không muốn gặp nhau nữa.
Ngược lại, nếu mọi người cùng tìm hiểu về các vấn đề một cách cụ thể, không gọi đó là “yêu nước” hay “bán nước”, mà chỉ ghi nhận khách quan mặt phải và mặt trái của từng việc, trong tinh thần tương kính, thì dù cho có bất đồng nhưng ai nấy cũng sẽ vui vẻ học hỏi được những điều hay. Vị tướng VNCH có thể sẽ thông cảm với vị sĩ quan QĐNDVN. Vị công chức VNCH sẽ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với vị lão thành cách mạng để thuyết phục ông ta. Chị buôn gánh bán bưng có hiểu được tâm trạng ông quan tham nhũng… Anh bộ đội đi B có thể đồng ý với anh Việt kiều trên một số bức xúc.
Có một lập luận khá phổ biến hiện nay là “thôi đừng tranh cãi chuyện quá khứ nữa, hãy cùng nhau nhìn về tương lai”. Quả thật là nếu hai bên chỉ chưởi nhau cho đã ghét bằng những khẩu hiệu rỗng tuếch, hay những lời văng tục, thì lời khuyên trên rất hợp lý. Tuy nhiên, nếu các bên thảo luận một cách ôn hòa, có nội dung, thì áp dụng luận điệu này sao thấy giống như là nói “thôi anh im đi, chỉ để mình tôi nói mà thôi”. Lý do là vì ở trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn được độc quyền nói theo ý mình, được độc quyền định nghĩa “yêu nước”, và vẫn tiếp tục nói. Khi bảo người khác đừng tranh cãi, đừng đưa ra ý kiến nữa, phải chăng Đảng hi vọng là sau vài chục năm, người dân không được nghe ý kiến gì khác ngoài ý kiến của Đảng, sẽ dần dần tưởng rằng ý của Đảng là ý duy nhất đúng?
Lịch sử nước ta, từ thời Lê Mạc, Trịnh Nguyễn phân tranh, sang Tây Sơn qua đến nhà Nguyễn đã cho thấy rằng “anh hùng” hay “yêu nước” không rõ ràng như trắng và đen. Khi quần chúng và các học giả được tự do bình phẩm về vua Lê, vua Mạc, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Petrus Ký, v.v… thì cả xã hội được lợi, mọi người hiểu được đầy đủ chỗ mạnh, chỗ yếu của từng nhân vật, không thương ghét quá đáng một ai. Ngược lại, trong những thời “thông tin một chiều” như vào đầu Nhà Nguyễn hay thời của Đảng Cộng sản trước khi “cởi trói văn nghệ”, quần chúng luôn có những ấm ức ngấm ngầm chỉ chực chờ bùng nổ. Người ta ấm ức khi Nguyễn Huệ, Lê Văn Duyệt bị gọi là “ngụy”. Người ta ấm ức khi công mở mang của các Chúa Nguyễn, hay tấm lòng của Phan Thanh Giản, Petrus Ký bị xóa khỏi sách vở. Những ấm ức âm thầm này là những tảng đá ngầm có thể làm vỡ tan con thuyền đoàn kết dân tộc.
Tôi nhớ trong các buổi học tập chính trị trong nước sau 1975, học viên luôn được “dạy” rằng cuộc đấu tranh “giải phóng dân tộc” chỉ là bước đầu, mang tính tư sản, để chuẩn bị cho cuộc “cách mạng giải phóng giai cấp”, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, mục đích tối hậu của cuộc chiến 54-75 không gì khác hơn là để xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu Mác-Lê tại Việt Nam. Sau các biến cố 1989-1991 làm khối Xô-viết sụp đổ, cuộc chiến 54-75 đã được Đảng cho cái tên là “Cuộc chiến giải phóng dân tộc” mà thôi, không còn nhắc gì về giai cấp nữa. Sang thế kỷ 21, cuộc chiến 54-75 lại được mang một tên mới là “Cuộc chiến thống nhất đất nước”. Thiết nghĩ, đã đến lúc chúng ta nên gọi đó là “Cuộc chiến 1954-1975”, trong đó không có những cái mũ “yêu nước” và “bán nước” mà chỉ có những hành động với mặt trái và mặt phải cho ta học hỏi. Chính phủ Mỹ dùng chất da cam hủy diệt môi trường, đưa quân trực tiếp chiến đấu là những sai lầm không nên tái phạm. Nhưng việc Mỹ viện trợ xây dựng hạ tầng cơ sở tại miền Nam cùng khuyến khích các cơ chế dân sự là tích cực. Đảng Cộng sản có tài tổ chức chiến tranh và vận động chính trị là một thực tế cần học hỏi. Nhưng những đau khổ vô vàn cho nhân dân do áp dụng chủ nghĩa Mác-Lê cũng là một thực tế cần làm sáng tỏ. Tài của tướng Võ Nguyên Giáp nên được ghi lại. Nhưng tinh thần của tướng Lê Văn Hưng, tướng Lê Minh Đảo không nên bị xoá bỏ. Các ông bự VNCH tham nhũng ra sao cần được làm sáng tỏ, nhưng những thành tựu tại miền Nam dưới thời VNCH về kinh tế, văn hóa, chính trị cũng không nên bị lãng quên. Sự hi sinh vô vàn của bộ đội và đồng bào miền Bắc cần được thông cảm bởi toàn dân. Đồng thời, tâm tình chân thật của người lính VNCH qua những bài ca đại chúng tại miền Nam cũng cần được tôn trọng. Đồng bào hải ngoại nên tôn trọng tình cảm của một bộ phận dân tộc đối với lá cờ đỏ sao vàng. Nhưng cũng không có lý do gì cờ vàng ba sọc đỏ lại bị cấm treo, cấm dùng ở trong nước.
Thiết nghĩ, quả thật là khó khi kêu gọi cả triệu người Việt có khả năng cầm bút đừng nên dùng các từ “đế quốc Mỹ”, “ngụy”, “Việt cộng”, “yêu nước”, “bán nước”, “giải phóng”, “mất nước”, “cờ máu”, “cờ ba que”, v.v… khi viết về cuộc chiến 54-75. Tuy nhiên, nếu trong nước và ngoài nước cùng có được những diễn đàn, những phương tiện truyền thông tự do, ôn hòa đứng đắn, và có chất lượng nội dung, cho đại chúng dễ dàng tham khảo, thì từ từ đồng bào mình sẽ cùng nhau tìm ra được cách nói “hợp nhĩ” và loại trừ những lời chói tai.
© 2005 talawas