Noam Chomsky
Một cuộc phỏng vấn nhiều chủ đề: từ sự thành công của cuộc bầu cử ở Iraq, đến mức độ méo mó của khái niệm “toàn cầu hoá”, ngang với “dân chủ” trong “dân chủ nhân dân” Liên xô, đến lý do tại sao chỉ cần nhắc đến tên Noam Chomsky là các giảng viên đại học phát ra những tiếng thét kinh hoàng.
 |
| Nhà ngôn ngữ học và nhân sĩ Noam Chomsky |
Danilo Mandic (DM): Xin ông cho biết quan điểm của ông về Diễn đàn Xã hội Thế giới (World Social Forum) mới được tổ chức cách đây vài tháng ở Porto Allegre, Brazil. Hơn 150.000 người đến từ 135 quốc gia đã tham dự, một con số chưa từng thấy; và họ đã bàn về nhiều vấn đề khác nhau, trong đó có sự bình đẳng kinh tế, quyền lợi người lao động, chiến tranh, và thế lực toàn cầu của các công ty. Phong trào công lý xã hội đã làm được những gì từ khi có diễn đàn đầu tiên 5 năm trước?
Noam Chomsky (NC): Bản thân cái diễn đàn này là nơi để người từ khắp mọi nơi đến tụ họp, thảo luận và đặt kế hoạch cho rất nhiều hoạt động. Hẵng lấy Diễn đàn Xã hội đầu tiên (năm 2000) làm ví dụ – diễn đàn này chủ yếu nhắm vào vùng tây bán cầu, không như những diễn đàn khác, mở rộng hơn – một trong những cái nó đem lại là một phong trào quần chúng lớn nhằm ngăn chặn và sửa đổi cái gọi là Hiệp ước Buôn bán Tự do của những Nước Châu Mỹ (Free Trade Agreement of the Americas), một hiệp ước không tự do, không liên quan gì đến buôn bán và chắc chắn là không phải một hiệp ước, ít ra nếu người dân được đếm xỉa đến. Từ đó dẫn tới những hoạt động địa phương trong nhiều quốc gia và những cuộc biểu tình có quy mô rộng lớn tại hội nghị bán cầu ở Quebec tháng tư 2001, đủ để phá những âm mưu định thông qua một dự án kiểu NAFTA ở bán cầu này. Từ đấy nó cứ thế tiếp tục.
Giờ đây có nhiều diễn đàn xã hội mang tính khu vực ở khắp nơi trên thế giới. Có những diễn đàn xã hội địa phương. Ví dụ Diễn đàn Xã hội Boston, chỉ hoạt động trong vùng Boston, là một trong nhiều (tôi không biết là bao nhiêu) diễn đàn địa phương tách ra từ diễn đàn trung tâm. Họ quan tâm đến những vấn đề đáng quan tâm – ở Hoa kỳ thì chúng luôn mang tính toàn cầu bởi thế lực của Hoa kỳ – nhưng đồng thời họ cũng tham gia vào những công việc hàng ngày, kiểu như những việc cần phải giải quyết của những dự án luật pháp hay những dự án chống công ty, đều là của địa phương, đại loại như vậy.
Những cái đó chỉ thấy ở những vùng mà người dân có tham gia. Người dân ở đó quan tâm, họ tham gia vào những cuộc hội họp quốc tế hoặc địa phương rộng, và như ông nhắc đến, vào chính Diễn đàn Xã hội Thế giới. Có diễn ra thảo luận về nhiều vấn đề – không nhất thiết ở diễn đàn vừa qua, mà ở những diễn đàn trước đó – thường là thảo luận sôi nổi giữa những nhà hoạt động xã hội và những người có nhiệt huyết từ mọi nẻo đời và ngóc ngách khác nhau trên thế giới, về những vấn đề thuộc quan tâm chung. Từ đó dẫn đến một số ý tưởng tổng quát về hướng đi, một số ý tưởng về những việc phải làm, sau đó để ai làm việc nấy, theo cách riêng của mình – ta không thể có một dự án toàn cầu mà thiếu sự thích nghi của địa phương.
DM: Rất nhiều học giả tên tuổi thích dùng cụm từ “phong trào chống toàn cầu hoá”. Ông nghĩ gì về nhãn hiệu đó?
NC: Như tôi đã nhắc đi nhắc lại, kể cả tại Diễn đàn Xã hội Thế giới, nó đơn thuần chỉ là tuyên truyền. “Toàn cầu hoá”, theo nghĩa trung lập, chỉ là “hội nhập quốc tế”. Diễn đàn Xã hội Thế giới trên thực tế là một ví dụ hoàn hảo về toàn cầu hóa ở cấp độ con người. Ta có người đến từ Ấn độ, Phi châu, Brazil, Mỹ La-tinh, bắc Mỹ, Âu châu, hầu như mọi nơi, từ mọi nẻo đời, những ai có chút quan tâm và quyền lợi chung. Đó là toàn cầu hoá.
Trên thực tế, toàn cầu hoá luôn là hướng đi của những phong trào công nhân cánh tả, từ giai đoạn khởi thủy của chúng trong thế kỷ 19. Đó là lý do tại sao mọi công đoàn đều được gọi là Quốc tế (International) mặc dù chúng không mang tính quốc tế. Đó là nguyện vọng, và đó là lý do vì sao những Quốc tế được hình thành, với đúng nghĩa quốc tế. Thật ra, Diễn đàn Xã hội Thế giới có lẽ là cơ sở được triển khai đầu tiên xứng đáng với từ “quốc tế”.
Những phong trào này không thể là những phong trào chống toàn cầu hoá được. Chúng là những ví dụ hoàn hảo của toàn cầu hoá. Những năm gần đây, khái niệm này được dùng như một thứ thuật ngữ, không được dùng để chỉ toàn cầu hóa mà để chỉ một hình thức hết sức cụ thể về sự hội nhập kinh tế quốc tế.
DM: Đúng thế.
NC: … tức là sự hội nhập kinh tế quốc tế dựa trên ưu tiên cho quyền lợi của giới đầu tư, không phải quyền lợi của người dân. Quyền lợi của giới đầu tư, chủ nợ, công ty, ngân hàng, cơ quan tài chính, vân vân…, trong một cái cơ chế mang tính tân tự do (neo-liberal), [1] đại khái cái cơ chế mang tên Thoả thuận Washington (Washington Consesus). Đó là một quan điểm giáo điều cá biệt, giờ đây được gọi là “toàn cầu hoá” vì những người nắm quan điểm đó kiểm soát được của cải và quyền lực tập trung, và vậy nên họ có thể áp đặt khái niệm của họ trong tranh luận. Cũng kiểu như nói rằng “dân chủ” ở Liên xô cũ có nghĩa là những nền Dân chủ Nhân dân, như Tiệp khắc và Hungary – họ có quyền trắng trợn sử dụng từ “dân chủ” để chỉ những hình thức méo mó của dân chủ. Và những kẻ coi như sở hữu cả thế giới cũng có đủ quyền lực để bóp méo từ “toàn cầu hoá” theo quan điểm rất biệt lập và cực kỳ giáo điều của họ.
Nhưng những người chống toàn cầu hoá theo cách hiểu của những kẻ đó không chống toàn cầu hóa, họ chỉ kêu gọi những mô hình khác của toàn cầu hoá, những mô hình đặt quyền lợi con người, thế hệ tương lai, môi trường, v.v… lên trên quyền lợi của những người nắm quyền lực và của cải tập trung. Trong trường hợp các hiệp ước (được gọi là hiệp ước nhưng không hẳn là hiệp ước, mà là những hiệp định được tạo dựng trong cái cơ chế đó), tình hình cũng tương tự.
Chẳng hạn NAFTA – một ví dụ nổi bật – Hiệp ước Tự do Buôn bán Bắc Mỹ (the North American Free Trade Agreement). Trong đó chỉ có mỗi “Bắc Mỹ” là đúng. NAFTA quả thật có liên quan tới ba quốc gia bắc Mỹ, nếu coi Mexico thuộc Bắc Mỹ. Ngoài ra, mệnh đề nào trong đó cũng giả dối hết. NAFTA không liên quan gì đến tự do buôn bán. Nó mang nặng tính bảo hộ chủ nghĩa (protectionist). Ở nhiều phương diện, nó chắc chắn không phải là một hiệp ước. Người dân ở Canada và Hoa kỳ đa số là chống đối nó và chắc hẳn ở Mexico cũng thế, nhưng chúng tôi không có thăm dò đúng đắn từ Mexico. Có nhiều đề nghị khác đã được đưa ra để lựa chọn. Nhưng đây là ta đang nói về văn bản thi hành của Hiệp ước Tự do Buôn bán Bắc Mỹ, được sự ủng hộ rất mạnh của giới elite. Giới công ty ủng hộ. Giới truyền thông ủng hộ hầu như 100%. Còn người dân phần lớn chống đối, và đã có những đề nghị khác được đưa ra để lựa chọn.
Có một hiệp định ở Hoa kỳ đòi hỏi là công đoàn phải được hội ý một cách nghiêm túc về bất cứ hiệp ước kinh tế quốc tế nào ảnh hưởng tới người lao động, mà rõ ràng hiệp ước này có ảnh hưởng tới người lao động. Các tổ chức công đoàn không được thông báo. Có một Hội đồng Cố vấn Lao động (Labor Advisory Council), chuyên chịu trách nhiệm về những việc như thế. Tôi nghĩ là họ được thông báo, được đưa văn bản, khoảng 24 tiếng trước khi nó được ký kết. Clinton là người rất, rất khinh ghét dân chủ và tự do. Chẳng ai đưa tin điều đó. Tuy nhiên, Hội đồng Cố vấn Lao Động, với thời gian eo hẹp như vậy, vẫn đủ khả năng để đưa ra một đề nghị, một đề nghị chi tiết và tích cực, ủng hộ một Hiệp ước Tự do Buôn bán Bắc Mỹ, nhưng là một hiệp ước đã được sửa đổi lại, để thay vì hướng tới một tương lai thấp lương, chậm phát triển, nhiều lợi nhuận (như họ miêu tả rất đúng NAFTA), nó sẽ hướng tới một hình thức hội nhập quốc tế bình đẳng hơn, với phát triển nhanh và mức lương cao. Và văn bản đó đã được trình làng.
Hóa ra là đề nghị của họ rất giống cái đề nghị được đưa ra cùng thời gian đó do Văn phòng Nghiên cứu và Giám định Kỹ Thuật thuộc Quốc hội (Congress’s Research Bureau and Office of Technology Assessment). Những người này cũng phản đối văn bản thi hành của NAFTA, và cũng đưa ra một văn bản khác, trong đó có những phê bình rất giống như trong đề nghị của công đoàn, và cũng có những ý tưởng tích cực tương tự. Không một cái gì trong số đó được đưa tin. Cho tới hôm nay, hơn mười năm sau, không một ai biết về nó. Nó bị ém nhẹm. Cũng có thảo luận về công đoàn. Họ bị chỉ trích nặng nề. Anthony Lewis cuả tờ New York Times, một người đứng về phía tả hết cỡ, đã liên tục chỉ trích công đoàn vì chiến thuật tàn bạo, khắc nghiệt, nặng tinh thần dân tộc của nó. Ông ta cũng hiểu lờ mờ về quan điểm của công đoàn, và nó chẳng có gì giống như vậy. Nhưng đơn thuần là điều này không thể được đưa tin. Như tôi được biết, cho tới hôm nay nó chưa hề được được đưa tin.
Đấy, toàn cầu hóa cũng đại loại như vậy. Không ai phản đối một hiệp ước kinh tế Bắc Mỹ, nhưng người ta chỉ phản đối cụ thể NAFTA, và đã có những đề nghị tích cực khác được đưa ra nhưng chúng chưa bao giờ được đưa vào trong những cuộc thảo luận và tranh luận chính trị. Giới truyền thông khoái Ross Perot vì họ có thể chế giễu ông ta. Nhưng những đề nghị nghiêm túc xuất phát từ những tổ chức quần chúng, như công đoàn, hay ngay cả từ Văn phòng Nghiên cứu thuộc quốc hội, đều nằm ngoài chương trình. Và toàn cầu hóa cũng kiểu như vậy, tương tự như việc sử dụng từ dân chủ ở Liên xô cũ. Cho những mục đích khác, nhưng cùng kiểu.
DM: Nhân tiện vấn đề này, tôi xin xoay qua chuyện Iraq một chút nếu không phiền ông.
NC: Vâng.
DM: Dân chủ cũng là một từ mà những học giả chính thống và tên tuổi thường dùng khi bàn về Iraq. Bản báo cáo Lancet mà nay ai cũng biết đã đếm được khoảng hơn 100.000 người chết ở Iraq do xâm lược của Anh Mỹ. Nền công nghiệp dầu lửa của Iraq ngày càng được tư hữu hoá vào tay những công ty Tây phương và cuộc bầu cử ở Iraq đang được hô hào là bằng chứng thành công trong nỗ lực của người Mỹ. Cuộc bầu cử đó có ý nghĩa gì đối với Iraq không?
NC: Thật ra, tôi đồng ý rằng cuộc bầu cử là một thành công… của những người chống Hoa kỳ. Cái đang bị ỉm đi – trừ đối với những chuyên gia về Trung đông là những người biết rất rõ về chuyện này và đang viết về nó, hoặc những ai thật sự có theo dõi báo chí trong hai năm qua – là việc Hoa kỳ bị buộc phải chấp nhận cuộc bầu cử. Hoa kỳ đã cực lực phản đối bầu cử. Tôi đã viết về những giai đoạn đầu của của sự phản đối bầu cử từ phía Hoa kỳ trong một cuốn sách được xuất bản năm ngoái. Nhưng sự phản đối đã tăng nhiều.
Hoa kỳ muốn soạn thảo một bản hiến pháp, nó muốn áp đặt một thứ hệ thống bầu kín mà nó có thể kiểm soát, và nó đã cố gắng áp đặt những điều luật mang tính tân tự do cực kỳ khắt khe, như ông đã đề cập, mà cả những thương nhân Iraq cũng cực lực phản đối. Nhưng có một cuộc đối kháng bất bạo động rất mãnh liệt đang xảy ra ở Iraq – đáng kể hơn rất nhiều những kẻ ôm bom tự sát hay này kia. Và đơn giản là nó buộc Hoa kỳ phải từ từ nhường bước. Đó là phong trào đối kháng bất bạo động của quần chúng, biểu tượng của nó là Ayatollah Sistani, nhưng nó bao gồm nhiều hơn nhiều.
Người dân đơn giản là không chấp nhận những điều luật mà chính quyền chiếm đóng áp đặt lên họ và cuối cùng Washington đã phải buộc chấp nhận cuộc bầu cử một cách miễn cưỡng. Nó đã cố gắng phá đám bằng mọi cách. Ví dụ, hãng thông tấn độc lập đã bị đá ra khỏi nước. Al Jazeera, hiện nay là một cơ quan truyền thông có tiếng nhất trong nước và trong vùng, đã bị đá ra dựa vào những cáo buộc không xác thực. Ứng cử viên của Hoa kỳ (Hoa kỳ có một ứng cử viên: Iyah Allawi) đã được hưởng mọi lợi thế có thể có được: toàn bộ các cơ sở quốc gia, quyền sử dụng bất cứ đài truyền hình nào, v.v… Ông ta bị đánh rớt. Mọi đảng phái, kể cả đảng phái thuộc chính phủ Hoa kỳ, đã buộc phải đưa ra một cương lĩnh mà trong đó có điều, chỉ vì do áp lực từ dư luận quần chúng, kêu gọi sự rút quân của Hoa kỳ và của những lực lượng chiếm đóng.
Kể cả những cuộc thăm dò dư luận do Hoa kỳ thực hiện cũng cho thấy đó là ý muốn mạnh mẽ của đa số, cả trong nhóm người Shiite cũng vậy. Họ bị ép buộc đưa ra điều khoản đó. Dù họ không muốn vậy nhưng họ phải làm.
Hoa kỳ đã tuyên bố ngay sau cuộc bầu cử – tại Anh quốc, Blair, Bush và Rice đã tuyên bố cùng một lúc – là sẽ không có lịch trình cho việc rút quân. Người dân Iraq muốn gì không cần biết. Hoa kỳ đã tuyên bố ngay tức thì rằng quân đội sẽ ở lại đó ít nhất tới năm 2007, thậm chí là cho tới khi thiết lập xong những căn cứ quân sự để cố giữ chân họ lại đó vô thời hạn. Không phải là chiếm giữ, vì để làm thế họ thích dùng quân đánh thuê người Iraq hơn.
Cũng giống như Anh quốc cai trị Ấn độ hoặc Nga cai trị Đông Âu, không phải với lực lượng của chính họ. Nhưng họ phải có mặt ở đó để làm chủ được tình hình. Hiện nay đang xảy ra một cuộc đấu tranh, xoay quanh câu hỏi liệu Hoa kỳ có đủ khả năng phá bỏ cuộc bầu cử mà nó đã miễn cưỡng chấp nhận không. Tôi nghĩ rằng ông sẽ khó mà tìm được một học giả nghiêm túc về Trung đông nào, hay bất cứ ai, chú ý tới tình hình mà không đồng ý. Thật ra, chỉ cần đọc những bản tường trình báo chí nghiêm túc viết về việc này là sẽ thấy được rõ ràng là như vậy.
Dĩ nhiên một khi Hoa kỳ đã bị ép buộc phải chấp nhận cuộc bầu cử, chính quyền và giới truyền thông lập tức tuyên bố rằng đó là thành quả vĩ đại của Hoa kỳ. Song hoàn toàn ngược lại. Nhưng cũng tốt là bầu cử đã diễn ra, ngược với ý muốn của Hoa kỳ. Trên thực tế nó là một thắng lợi to lớn của đối kháng bất bạo động, và nó phải được hiểu như thế. Và có thể nó là cái nền – giờ đây câu hỏi được đặt ra là liệu người dân Iraq có thể thành công được không trong việc tiến tới giai đoạn trong đó họ thật sự có đủ khả năng để tự cai trị, với sự phản đối chắc chắn của Hoa kỳ. Hoa kỳ chắc chắn sẽ phản đối.
Một quốc gia Iraq có chủ quyền và dân chủ là điều Hoa kỳ bất đắc dĩ lắm mới mong muốn. Để thấy tại sao, ta hãy thử suy nghĩ năm phút về những chính sách mà một Iraq như vậy có thể đưa ra. Hãy cho là có một quốc gia Iraq dân chủ với một mức độ chủ quyền nào đó. Điều trước tiên mà nó sẽ làm là cố gắng cải thiện mối quan hệ với Iran. Chẳng phải nó yêu thích gì Iran mà nó chỉ muốn có một quan hệ thân thiện với nước Shiite láng giềng, hơn là một quan hệ thù nghịch. Thế nên, nó sẽ tiến hành việc cải thiện mối quan hệ với Iran, đặc biệt bởi vì nó có một đa số Shiite. Nếu có một nền dân chủ tương đối, khối đa số Shiite sẽ đóng một vai trò quan trọng. Điều kế tiếp xảy ra – và nó đã bắt đầu xảy ra – là sự thắng lợi của người Iraq trong cuộc chiến với Hoa kỳ đã bắt đầu mang lại những tâm lý tương tự ở những khu vực Shiite (những khu vực phần lớn Shiite) tại Saudi Arabia, là một nước láng giềng.
DM:… và là một đồng minh của Hoa kỳ.
NC: Vâng, nhưng đó là ở bên trong Saudi Arabia và lại là nơi có nhiều dầu lửa nhất. Từ trước đến nay họ bị Hoa kỳ và giới lãnh đạo Saudi loại ra, nhưng họ sẽ không thể chấp nhận điều đó nếu có một quốc gia Iraq dân chủ và có chủ quyền ở kế bên, chi phối, trên thực tế, bởi nhóm Shiite. Và nó đã bắt đầu xảy ra. Ông thấy đấy, việc đó sẽ đưa đến tình trạng mà đa số dầu lửa trên thế giới sẽ được đặt dưới sự điều hành của khối liên minh Shiite tương đối tự trị. Hoa kỳ sẽ không thể chấp nhận điều đó, dù là chỉ trong một khoảnh khắc.
Việc kế tiếp sẽ xảy ra ở một nước Iraq có chủ quyền là nó sẽ cố giành lại vị thế tất nhiên của nó là một quốc gia dẫn đầu trong thế giới Ả rập. Họ là một quốc gia có giáo dục nhất, tiến bộ nhất và v.v… Trong nhiều khía cạnh, nó đúng là phải lãnh đạo khối Ả rập. Thật ra, đó là những yếu tố có một nguồn gốc xa xưa, từ thời kỳ trong Kinh Thánh. Và Irag sẽ cố giành lại vị thế đó, nghĩa là nó sẽ tái vũ trang. Nó sẽ đương đầu với kẻ thù trong vùng, ấy là Israel, coi như một tiền đồn quân sự của Hoa kỳ. Nó thậm chí có thể phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt để chống lại lợi thế áp đảo của Israel. Đó là những diễn biến tự nhiên, có thể dự tính được.
Ông có thể nhìn thấy Hoa kỳ chấp nhận bất cứ điều gì vừa nêu không? Đó là những hệ quả nhiều khả năng – không chắc chắn, nhưng nhiều khả năng – của một Iraq tương đối có chủ quyền và ít nhiều dân chủ. Đó là cơn ác mộng của Hoa kỳ. Chẳng có gì lạ khi Hoa kỳ cố ngăn cản cuộc bầu cử bằng bất cứ giá nào và giờ đây ngầm phá hoại những thành quả của cuộc bầu cử đó. Điều gì phải xảy ra sẽ xảy ra giữa rất nhiều tranh đấu, và chúng ta đóng một vai trò trong đó. Ý kiến của công chúng Hoa kỳ có thể gây nhiều ảnh hưởng trong giai đoạn cuối. Chúng ta không sống trong một chế độ độc tài; chúng ta có đầy đủ tự do nếu chúng ta muốn sử dụng nó. Nó có thể dùng để giúp dân tộc Iraq giành lại quyền làm chủ xã hội của chính họ.
DM: Về vấn đề cụ thể đó, độc giả của chúng tôi đặc biệt chú ý đến vai trò của giới đại học trong diễn biến mà ông đang bàn tới. Tôi xin đưa một ví dụ có liên quan: ông đã viết nhiều tác phẩm chính trị trong hơn bốn thập niên. Vậy nhưng tôi vẫn chưa tìm thấy một khóa học nào trong những năm gần đây ở Princeton mà có bất cứ một tác phẩm chính trị nào của ông trong danh mục sách cần đọc. Ông có ngạc nhiên không?
NC: Không như thế thì tôi mới ngạc nhiên. Thậm chí, nếu ông nhắc đến tên tôi trước mặt đại đa số các giáo sư trong những ngành có liên quan, họ chắc sẽ phản ứng bằng những tiếng thét kinh hoàng. Chúng ta có một tầng lớp trí thức rất giáo điều. Họ không muốn đi lệch cái đường lối rất eo hẹp của đảng. Nhưng trong những nghiên cứu địa phương, rất khó có được kiểm soát. Đó là một trong những lý do tại sao những khoa Trung đông học đang bị công kích dữ dội bởi những lực lượng chuyên chế trong nước (như Horowitz, Pipes và những kẻ khác), những người không thể chịu được cái ý nghĩ là có một số bộ phận độc lập trong xã hội – hoặc phần nào độc lập – không nằm dưới sự sở hữu hoàn toàn của giới kinh doanh và cánh hữu. Do đó, họ nổi quạu. Và điều này đã xảy ra cả trong những phạm vi khác nữa.
Ví dụ, trong thập niên 1980, mối bận tâm chính của Hoa kỳ là những cuộc chiến của nó ở Trung Mỹ -, những cuộc chiến khủng bố tàn bạo, đồi bại, những cuộc chiến phần lớn mang tính chống lại giáo hội. Hiệp hội những Học giả Chuyên nghiệp Châu Mỹ La-tinh (The Latin American Association of Professional Scholars) không tán thành. Họ coi như bị gạt ra ngoài. Một ví dụ, Nicaragua là một vấn đề lớn; sử gia hàng đầu về Nicaragua, Thomas Walker, thường xuyên (nhiều lần trong năm) viết và gửi những bài bình luận đến tờ New York Times – không một bài nào được đăng. Ông vừa mới gửi đến một bài khác, sau cái thủ đoạn tuyên truyền trắng trợn của chính phủ và giới truyền thông, nói rằng cuộc bầu cử ở El Salvador là mô hình cho Iraq. Những cuộc bầu cử ở El Salvador là một sự quái đản! Đúng là giới truyền thông đã ca ngợi chúng, đó là công việc của họ: đi theo đường lối của đảng. Ông đã viết một bài bình luận và gửi nó tới những tờ báo ở khắp trong nước. Họ chẳng thèm đụng tới. Họ đi theo đường lối của đảng. Bạn không được đi lệch. Đường lối này tất nhiên không được theo 100%, nhưng nó khá là đáng kể.
Và, đúng thế, ý nghĩ là ai đó đi lệch đường lối mang lại sự kinh hoàng. Nếu bạn muốn biết cái cảm giác ở trong nhóm cánh tả/thuộc thành phần cấp tiến của giới hàn lâm và trí thức (không phải hữu khuynh), hãy xem qua số tháng này của tờ American Prospect, một tạp chí khá hay. Nó có những tài liệu thú vị; một bài viết khá hay của Juan Cole về Iraq có nhắc tới nhiều điều mà tôi vừa nói qua về cuộc bầu cử. Và những bài khác cũng khá hay. Nhưng hãy xem trang bìa, trang thực ra khá là lý thú. Cái trang bìa có hình những trí thức cánh tả/cấp tiến tơi tả bị kẹt giữa hai thế lực. Một bên là hình ảnh cau có của Dick Cheney. Như thế, trong một góc ta có Dick Cheney và Nhà Trắng, Lầu Năm góc, lực lượng quân sự hùng mạnh nhất trong lịch sử. Đó là một bên. Phía bên kia là… tôi.
DM: [cười]
NC: Đó là hai thế lực mà họ bị ép ở giữa. Nó cho ông thấy…, ý tôi là nếu tôi có thể cho nó vào bảng thành tích, tôi sẽ làm ngay bởi vì nó là lời khen lớn nhất mà tôi từng được nhận [cười]. Tôi không phải là một giáo sư hùng mạnh nhất trong lịch sử. Nhưng nó cho ta thấy cái tâm lý của họ. Họ khiếp sợ. Họ là những con người đáng thương, khiếp sợ bởi ý nghĩ là sẽ có người nào đó có thể sẽ không lặp lại những gì họ nói. Và có thể sẽ dịch hai mi-li-mét về phía bên trái của họ trong một vấn đề vấn đề nào đó. Tôi nghĩ đó là điều chắc ông đang tìm kiếm. Không chỉ tôi đâu. Những cuốn sách do những vị giáo sư Princeton – ông biết đấy, những vị giáo sư Princeton danh tiếng, dám chỉ trích đường lối của đảng – không bao giờ được xét tới. Ông có thấy …
DM: Tất nhiên. Edwar Sa’id là một ví dụ.
NC: Gì?
DM: Edward Sa’id là một ví dụ rất đúng về điều đó.
NC: Vâng, nhưng hãy xem qua cuốn sách mới nhất của Richard Falk.
DM: Vâng.
NC: Ông ấy có thể coi là vị giáo sư Princeton quan trọng bậc nhất.
DM: Mặt khác, một người như Bernard Lewis lại được đối xử như là một giáo sư Princeton lỗi lạc.
NC: Tất nhiên rồi. Ông ta nói những gì mà họ muốn nghe.
DM: Vâng. Tôi xin hỏi thêm một câu hỏi nữa.
NC: Ví dụ… vì ông nhắc đến Edward Sa’id, trong tất cả những sự kích động về việc giới sinh viên và giáo sư bị đe doạ bởi nhóm cánh tả áp đảo, như tôi đây, ông có biết gì về chuyện trong nhiều năm Edward Sa’id (vốn là một người bạn thân), văn phòng và chung cư ông ở hầu như lúc nào cũng nằm dưới sự bảo vệ của cảnh sát và được FBI đề nghị bảo vệ? Trong chung cư của ông có gắn máy để gửi tín hiệu cho cơ quan cảnh sát địa phương nếu có chuyện gì xảy ra. Cái lý do cho việc này không phải chỉ vì có ai đó, ông biết đấy, chỉ trích ông ấy. Ông ấy luôn luôn bị đe dọa ám sát bởi những nhóm khủng bố mà đã bị cảnh sát xâm nhập. Có Đồ án David nào phản đối việc này không?
DM: Trong cuốn For Reasons of State (Vì lý do quốc gia), ông viết như sau: “Một yếu tố trong cuộc đấu tranh vô tận nhằm đạt được một trật tự xã hội nhân đạo và công bằng hơn sẽ là nỗ lực nhằm phá bỏ những chướng ngại đang đứng chắn lối những hình thức nhất định của sự tự trau dồi cá nhân và của hành động tập thể mà trường đại học nên khuyến khích”. Gần 40 năm sau, ông có nghĩ là phần nào những chướng ngại đó đã được phá bỏ ở những nơi như Princeton, Harvard, MIT?
NC: Chắc có. Tôi xin lấy MIT, bởi vì tôi biết nó rõ nhất, nhưng nó cũng tương tự như mọi nơi khác. Vào lúc tôi viết những dòng chữ đó trong thập niên 1960, nếu ông bách bộ ngang qua các hành lang ở MIT, ông sẽ thấy những sinh viên nam da trắng, áo quần bảnh bao, có kỷ luật, lễ độ với người lớn tuổi, v.v… Nếu ông bước qua những hành lang đó hôm nay: một nửa là phụ nữ, khoảng một phần ba là các sắc dân thiểu số, những quan hệ thân mật giữa con người phô ra ở mọi thứ từ áo quần đến những quan hệ riêng tư. Nó có ở khắp nước; tôi đoán chừng ở Princeton cũng thế. Đó là những dấu chỉ của những thay đổi rất quan trọng trong xã hội, đã trở nên văn minh hơn, kể cả ở những trường đại học. Ta thấy nó ở nhiều phương diện. Đây phần lớn là kết quả hoạt động của những người trẻ và nhiều nhóm khác. Và nó chắc chắn có thể tiếp tục. Và tôi xin được dừng, để lấy một …
DM: Vâng. Có lẽ, một câu hỏi cuối…
NC: Chỉ lấy một ví dụ cuối cùng, để làm sáng tỏ.
DM: Vâng.
NC: Hoa kỳ tấn công Nam Việt nam năm 1962. Đó là lúc Kennedy bắt đầu dội bom Nam Việt nam. Họ bắt đầu sử dụng vũ khí hóa học để diệt hoa màu. Họ mở ra những chương trình mà cuối cùng đã đưa hàng triệu người dân vào những trại tập trung và những khu ổ chuột.
Có phản đối nào không? Việc này xảy ra nhiều năm trước khi có bất cứ cuộc phản đối nào. Tới khi những cuộc phản đối bắt đầu trở nên nghiêm trọng, Nam Việt nam, luôn luôn là mục tiêu chính của những cuộc tấn công, đã gần như bị hủy diệt. Nhưng hãy xem chiến tranh Iraq. Lần đầu tiên trong lịch sử Âu châu – Âu châu, và Hoa kỳ – lần đầu tiên trong lịch sử đế quốc Tây phương, một cuộc chiến bị phản đối ồ ạt (cả ở đây nữa) trước khi nó chính thức khởi phát, không phải bốn hoặc năm năm sau khi quốc gia đó đã bị xóa sổ. Đó là những đổi thay hướng tới một xã hội văn minh hơn, và nó xuất hiện ở các đại học nữa. Họ cởi mở hơn trước rất nhiều.
DM: Tôi xin hỏi thêm một câu hỏi ngắn. Những viện đại học với tư cách là những cơ sở giáo điều, như “những hệ thống của sự thiếu hiểu biết bị áp đặt”. Sinh viên có thể làm gì để chống lại điều này?
NC: Sinh viên đang ở một đoạn đời mà họ được tự do như chưa từng bao giờ có hoặc sẽ không bao giờ có nưa. Họ đã rời khỏi sự kiểm soát của cha mẹ; họ lại chưa bị đặt dưới sự kiểm soát của những cơ sở có tính cách cưỡng bức của cuộc sống thường ngày, cái nhu cầu lệ thuộc vào cấp trên và những cơ sở với sự sắp xếp ngôi bậc và nhu cầu kiếm sống, v.v… Họ được tự do vô kể và họ có thể làm những gì họ muốn. Họ không thích những môn học ở trường lớp? Họ lập ra những môn học để phản lại.
Tại MIT (nơi tôi đang làm việc) 25 năm nay, chừng nào tôi còn có thể xoay sở được, tôi đã dạy bằng chính thời giờ của tôi những môn học thuộc chương trình cử nhân về những điều tôi viết mà, như ông nói, sẽ không nằm trong chương trình giảng dạy. Tôi có hằng trăm sinh viên trong các lớp học. Những lớp học thường là vào ban đêm, do đó sinh viên không thể nhận tín chỉ cho những môn đó (tôi muốn nói, những tín chỉ chính thức, nhưng chúng có thể đóng góp vào những chương trình học đường). Tôi dạy vào ban đêm để có thể có được sự tham gia của cộng đồng. Nhiều điều gặt hái được từ đó, tôi muốn nói là không chỉ thế. Nhưng đó là cách để mọi người ngồi lại với nhau, những sinh viên với cùng quan tâm và sở thích, và theo đuổi chúng tích cực hơn.
Nhiều điều xảy ra ở trong nước từ thời đó đã xuất phát từ những việc làm như thế. Ví dụ, tờ South End Press, Z Magazine, ZNet, một số việc như thế, hầu hết do sinh viên khởi xướng tại MIT vào lúc đó. Tôi rất vui mừng được cộng tác với họ nếu tôi có khả năng. Một cách là đưa ra những môn học mà sinh viên có thể tham gia tích cực. Cho đến tận… lớp học cuối cùng là vào khoảng hai năm trước. Vào lúc đó, có hai giảng viên phụ là những người lo hầu hết mọi công việc. Cả hai là những sinh viên trong những lớp cuối cùng của những những môn học này, những lớp tôi dạy vào khoảng năm 1990, khi họ còn là sinh viên năm thứ nhất. Lý do duy nhất mà tôi ngưng là do sức ép của những buổi thuyết trình, những cuộc phỏng vấn, v.v… Tôi không thể tiếp tục bằng chính thời giờ của mình và đồng thời làm những công việc chuyên môn của tôi. Vâng, đó là những việc thông thường mà sinh viên có thể làm được.
© 2005 talawas
[1]Neoliberalism (chủ nghĩa tân tự do) – chủ trương loại bỏ sự can thiệp tích cực của chính quyền vào nền kinh tế quốc gia, thay vào đó chú trọng đến sự tiến bộ đạt được và kể cả công lý xã hội bằng cách khuyến khích những phương pháp tự do mậu dịch và những hoạt động của việc kinh doanh và phát triển ít bị giới hạn đi.