trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
8.4.2005
Cổ Ngư
Ở nơi nào, tôi cũng tìm ra được cõi riêng
 

Sài Gòn, ngày 03.04.2005

Gửi chị Hoài,

Trước ngày về Sài Gòn làm việc, chị có đề nghị tôi viết cho talawas một
bài về cảm nghĩ cuả một insider,
trở thành outsider
suốt mười lăm năm, nay lại có dịp hoà nhập vào cuộc sống ở Việt Nam
trong vòng vài tháng, nhập vai một insider
«biến dị» để mà nghe-nhìn-ngửi-nếm-sờ và… nhận định!

Tôi đã đợi đúng năm tháng để đặt bút viết những dòng này. Một bài thơ
có thể ra đời với cảm nhận bất chợt đón bắt được, có khi chỉ trong một
sát na cuộc sống. Một bài viết với ít nhiều nhận xét, dù ngắn gọn, cũng
đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định, vưà đủ để những sôi nổi tạm
lắng xuống, những «đối kháng» cũ-mới, đông-tây, lạ-quen… bị bào mòn,
nhưng cũng không quá lâu để trở nên hoàn toàn quen thuộc với môi trường
mới, đánh mất đi khả năng phê phán, đánh giá.

Khởi đi từ ý nghĩ «trở về»: về nước, về quê, về nhà, nhưng thật ra, tôi
có cảm tưởng mình đang thực hiện một hành trình ngược lại: khám phá
Việt Nam. Lần đầu tiên tôi đi xuyên qua các tỉnh miền tây Nam bộ, nhìn
tận mắt dòng Cưủ Long. Lần đầu tiên tôi bước chân trên đường phố Hà
Nội, thấy ở mỗi góc phố một mẩu lịch sử hơn ngàn năm. Lần đầu tiên tôi
biết thế nào là Phú Quốc, Phan Thiết, Hạ Long. Quyển sách điạ lý thuộc
nằm lòng từ tấm bé vẫn còn nhiều khoảng trống cần được minh hoạ. Con
người Việt Nam tôi gặp trên những nơi đã đi qua không hoàn toàn giống
những người Sài Gòn mà tôi vẫn có thói quen tiếp xúc, từ khi khôn lớn
cho đến tận gần đây, trong cộng đồng người Việt sống quanh Paris. Và
cũng không hoàn toàn khác: họ cùng suy nghĩ và nói bằng tiếng Việt, duy
trì nhiều tập tục, tính, thói chung, đặc trưng, ăn nước mắm, phở, chả
giò, chè ngọt. Thế thì so sánh, phân tích và tổng hợp cái gì bây giờ?

Có lẽ tôi phải «khoanh vùng», chọn Sài Gòn và Paris. Sài Gòn là nơi tôi
chào đời và sống ở đó gần suốt hai mươi lăm năm. Thêm Paris với hơn
mười lăm năm hội nhập, tôi đứng vững trên hai chân mình ở độ tuổi bốn
mươi. Tại Paris, tôi nói tiếng Việt với vợ con trong giờ cơm tối, với
bạn bè người thân ngày nghỉ cuối tuần và ngày lễ. Tôi viết thư và gõ
lóc cóc tiếng Việt trên bàn phím computer
trước khi đi ngủ. Tôi nhớ về Sài Gòn, không còn vì chính thành phố hay
những cư dân cuả nó nưã, mà vì tuổi thơ và tuổi mới lớn cuả tôi đã trôi
qua ở đó, với những kỷ niệm đẹp và không đẹp lắm. Lý do khiến tôi ngày
một thờ ơ với Sài Gòn? Cũng dễ hiểu: bố mẹ và các em tôi đều sống quanh
Paris, đại gia đình nội ngoại tản mát khắp nơi trên thế giới, bạn bè
thân cũng lần lượt ra đi, căn nhà xưa không còn, trường lớp hoàn toàn
biến đổi. Chẳng còn gì đủ sức niú kéo, khiến tôi luyến tiếc Sài Gòn. Có
còn chăng, có lẽ chính vì nó đại diện cho Việt Nam, đất nước mà tôi
luôn hãnh diện được là con dân. Trong khi đó, ở Paris, tôi dần nối kết
được những mối quan hệ mới, chân tình, bền đậm với người Việt, người
Pháp và cả người cuả nhiều quốc gia, dân tộc khác đến sinh sống ở đây.
Tôi suy nghĩ và hành động gần giống một người bản xứ khi làm việc, ít
nhất là tám tiếng trong một ngày, quen với cà-phê máy, xe điện ngầm,
với khuôn mặt cuả người bình luận tin tức trên truyền hình buổi tối,
với fromage,
bánh mì và rượu chát. Sau mười lăm năm, nhịp sống sinh học cuả tôi tuần
tự xoay vòng theo khí hậu bốn muà thay đổi, đều đặn
giây-phút-giờ-ngày-tuần-tháng-năm trong một không gian yên bình, êm ả.
Một trật tự chuẩn mực, cứ thế mà tiến hành nhịp nhàng, thoải mái.

Ðùng một cái, tôi được gửi về Sài Gòn công tác trong vòng vài tháng.
Nói là bất ngờ cũng đúng, vì việc này không nằm trong những điều, mục
dự trù sẽ thực hiện năm nay. Nói là đã chuẩn bị trước cũng không sai,
khi tôi vẫn luôn bày tỏ nguyện vọng mong muốn được làm việc ngay trên
xứ sở cuả mình.

Rời Paris, tôi rơi ngay vào một Sài Gòn hỗn độn, ồn ào, mù mịt bụi và
khói xe. Sài Gòn đầu thế kỷ XXI vắng bóng xe đạp, những con đường im
ắng nhất trước kia bây giờ ngập người và hàng quán. Không còn phải là
Sài Gòn trong tâm tưởng cuả tôi nưã. Tiếng nói, tiếng xe máy, tiếng còi
inh ỏi ngày đêm không ngưng nghỉ. Hai tháng đầu tiên sống ở Sài Gòn,
tôi có cảm tưởng mình trẻ lại, như vừa bừng thức sau một giấc ngủ muà
đông dài hàng chục năm. Ðiện thoại di động réo liên tục. Tôi hối hả
sống cho cùng nhịp với thành phố, chen, lấn, đôi khi đè lên nhau để tìm
chút dưỡng khí. Tôi nói tiếng Việt 24/24 (ngay cả trong những giấc mơ),
thêm vào vốn liếng cuả mình các từ ngữ chưa được ghi vào tự điển tiếng
Việt. Tôi họp hành, bàn bạc công việc với đồng nghiệp bằng tiếng Việt,
pha lẫn tiếng Anh chuyên môn và tiếng Pháp nghiệp vụ. Tôi có thể, với
một cú phone, chạy vèo đến quán nước tay bắt mặt mừng, tán dóc mười lăm
phút, nưả tiếng đồng hồ rồi lại vèo về làm việc cuả mình. Hay chỉ cần
mua vé trước nửa giờ mở màn, khi đi nghe nhạc cuối tuần ở các tụ điểm,
lại chọn được chỗ gần sân khấu đến nỗi thấy rõ cả lông măng trên cánh
tay ca sĩ. Tôi đã ngồi xuống với một vài thằng bạn thân còn sót lại,
thấy mười mấy năm trôi qua không thực sự để lại quá nhiều khoảng cách,
và chúng nhanh chóng được lấp đầy, như bọn tôi chỉ mới tạm biệt nhau có
mấy ngày, nay lại tìm ra dịp bù khú. Tôi cũng đã ngồi xuống tán gẫu với
những người bạn văn mới quen, biết tiếng, biết tài nhau đã nhiều, bây
giờ mới có dịp gặp gỡ. Sài Gòn cho tôi cái cảm giác mọi khoảng cách đều
không đáng kể. Tất cả đều ngắn, gần, thân mật, dễ tiếp cận.

Hai tháng sau, tôi bắt đầu thấy mình già đi, muốn rút tìm nơi yên tĩnh,
khi những hân hoan cuồng nhiệt ban đầu dần trở nên thưà thãi, đôi khi
bão hoà và thặng dư. Tôi thèm một khoảng không gian thật rộng, thật
xanh, thật yên, với tiếng chim hót loáng thoáng bên tai, thèm hít căng
lồng ngực mùi nắng, mùi đất, mùi cây cỏ. Tôi thèm được xem những cuốn
phim hay, dù đó thuộc dòng phim thương mại hay dòng phim tác giả, thèm
cả không khí đặc biệt cuả lề đường quanh các rạp ciné buổi tối ở khu
Opéra, Montparnasse, Gobelins hay Saint Michel. Một ly cà-phê sưã đá
uống trên đường Nguyễn Huệ buổi trưa tháng tư hay một tách café crème
nhâm nhi khi nhìn đại lộ Champs-Elysées chăng đèn kết hoa muà Giáng
Sinh, dù không quá nhiều khác biệt, nhưng vẫn gợi những cảm hứng riêng.
Còn cảnh bia bọt tràn lan cuả Sài Gòn mỗi chiều thì không biết phải so
sánh với hình ảnh nào cuả Paris, vì hàng ngày, sau giờ tan sở, thì siêu
thị và những cưả hàng sách, băng điã nhạc, phim, văn hoá phẩm là những
nơi được dân Paris chiếu cố tận tình nhất. Người Sài Gòn sống ngoài
đường, giao dịch thương lượng ngoài đường, gặp gỡ hò hẹn ngoài đường,
ăn nhậu ngoài đường nhiều gấp đôi, gấp ba người Paris, chắc chắn là như
vậy. Nhưng người Paris có số lần đi xem phim, xem kịch, tiểu phẩm và
nghe nhạc trong năm gấp chín hoặc mười lần người Sài Gòn, tôi nghĩ,
nhiều phần đúng. Cũng có lẽ vì vậy mà tôi càng lúc càng đâm nhớ và thèm
Paris, khi bước vào những ngày cuối tháng thứ tư sống và làm việc ở Sài
Gòn.

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi không muốn nhắc lại những thành tựu
cũng như hạn chế cuả Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung, đã được
các phương tiện thông tin trong và ngoài nước: báo giấy, báo
mạng, truyền thanh, truyền hình… liên tục đề cập đến, cũng như chẳng
thích thú gì khi sao chép lại những tấm bưu ảnh cuả Paris hay những
đoạn phim tài liệu quay ở rừng Boulogne, ở những đoạn đường vành đai
hay trong các góc khuất hầm métro
và trưng ra cho mọi người cùng
xem. Ở đây, tôi chỉ muốn xin chấm dứt bằng một lời cảm ơn đến Paris và
Sài Gòn, một nơi đã cho tôi sự bình an cuả tâm hồn, một nơi đã tặng tôi
tình người thật ấm áp.

Và ở nơi nào, tôi cũng tìm ra được cõi riêng cuả mình, để trở về, yên
ổn khép cưả.

© 2005 talawas

 
© talawas 2026