Nguyễn Trương Quý
Trong những năm tháng nào đó, một loạt những đô thị từng được nhắc đến như là những trung tâm kinh tế chính trị, hay trung tâm văn hóa học vấn của một vùng. Lịch sử không phải bao giờ cũng rộng lượng mỉm cười với số phận của chúng, đó là điều mỗi khi nhắc đến có vẻ như một câu chuyện buồn về quá vãng, kiểu nơi này hồi đó từng là v.v.
Bây giờ gắng gỏi tìm tòi về những Vân Đồn, Phố Hiến hay Trấn Biên đã mù khơi, có chăng là mấy mảnh gốm vỡ chôn vùi dưới ba thước đất còn lại. Nhưng còn những thành phố thị xã tỉnh lẻ khác, vẫn như im hơi sau một quá khứ còn có thể định tính được. Thời Pháp thuộc, cả nước chỉ có vài trường lớn ở những trung tâm vùng, chẳng hạn những trường quốc học hay trung học bảo hộ, ngoài 3 thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn, Huế, còn có Vinh và Quy Nhơn. Và ngày nay, so với thời là trung tâm học vấn của cả vùng, chúng đang có vị thế gì hay chỉ là những thành phố giữa đường, tàu Thống Nhất dừng không quá năm phút, thậm chí còn không vào, mà ga thành phố như Quy Nhơn chỉ là một ga xép?
Trên con đường thiên lý Bắc Nam, có biết bao nhiêu là thị trấn, thị xã, thành phố dọc đường ven biển, nhưng dù có chức năng hành chính ngang cấp nhau hay điều kiện tự nhiên địa lý tương đối giống nhau, chúng đem lại cho người qua đường những cảm xúc không thuần nhất.
*
Tôi đến Quy Nhơn vào lúc đã khuya. Thành phố đi ngủ sớm, vắng lặng và có vẻ không có nhiều món giải trí ban đêm như các đô thị lớn. Quy Nhơn mang bộ mặt không xác định được cá tính cụ thể, những kiến trúc chỉ tiết lộ một giá trị đơn giản và hiền lành, cùng rất nhiều khoảng trống thoáng của một thành phố chưa bị cơn bão xây cất bít bùng. Thành phố chỉ có một khu downtown bé xíu, khu sân bay cũ giờ là trung tâm thương mại kiểu đại siêu thị mô hình Sài Gòn mang ra, thêm khu đại học tương đối sáng sủa. Nhưng mà chỉ vậy thôi, ở vài ngày cứ lừ đừ cả ra vì vẻ hiền lành vô cùng của phố xá. Bãi tắm Hoàng hậu, tức bãi Trứng có những tảng đá nước biển bào mòn nhẵn như trứng khủng long. Hỏi, thế biệt thự của hoàng hậu Nam Phương ngày xưa đâu rồi, chỉ còn nền cũ bóng tịch dương thôi…
Nhắc đến Quy Nhơn, còn có Tháp Đôi cùng nhiều Tháp Chàm rải rác nữa, nhưng xem ra sự có mặt của chúng trong bộ mặt đô thị quá khiêm nhường, đến cả con đường vào cũng thật tội nghiệp. Đến Quy Nhơn trước sau ai cũng nằng nặc đòi đi viếng mộ Hàn Mặc Tử và phòng lưu niệm ở trại phong Quy Hòa. Mộ nhà thơ yểu mệnh bên này trên đồi Ghềnh Ráng, bên kia là một resort xanh tươi. Mộ giờ được ốp gạch men kính xanh xanh đỏ đỏ khá nhức mắt, bên cạnh có biển mời thăm xem “thơ Hàn qua bút lửa Dzũ Kha”. Trại Quy Hòa cách trung tâm khoảng gần 10 cây số, vắng vẻ và yên tĩnh, có một vườn tượng các vị danh y và căn phòng của nhà thơ khi nằm bệnh ở đây. Một căn phòng nhỏ và cũ kỹ, trên tường có treo những ảnh và thơ, có ảnh của những bạn thơ cùng thời, mà chỉ ở Quy Nhơn đã có bốn năm người được xem như thuộc về những gương mặt tiêu biểu. Tuy nhiên đến Quy Nhơn sau từng ấy năm biến động, du khách lang thang tự hỏi chỗ nào xưa các nhà thơ “Bàn thành tứ hữu” như Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan hay Hàn Mặc Tử đã từng học, từng ngồi, những chàng thiếu niên chưa đến tuổi hai mươi mà đã có một “trường thơ Loạn” hay những tác động ảnh hưởng về văn hóa vượt phạm vi một địa phương, thậm chí được coi như một “niềm kinh dị” (Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam). Quy Nhơn sẽ như thế nào tương lai, trong so sánh với một thời là trung tâm Quốc học của vùng Nam Trung Bộ cho đến năm 1945, sau đó đã lặn mất tăm trên bản đồ về nhiều mặt.
Trên chuyến tàu từ ga Diêu Trì về Bắc (ga Quy Nhơn chỉ bán vé mà không có tàu Thống Nhất đi qua!), tôi nhớ lại vẻ mặt buồn của anh bạn người Quy Nhơn khi tôi hỏi, ở ta mỗi nơi có một bài hát “địa phương ca”, thế ở đây thì vẫn lấy bài nào? Bài “Đi tìm người hát Lý thương nhau” thì lại là của Nghĩa Bình khi chưa tách tỉnh, cũng không có chữ nào về thành phố cả. Hay “Biển nhớ” của Trịnh Công Sơn? Nghe buồn mà lại “ngày mai em đi”, không xây dựng hào hùng lắm. Thế thì những bài mới, dạng “thành phố của tôi tôi ca tôi hát” ấy… Anh bạn cười và lắc đầu nguầy nguậy, buồn lắm. Cùng khoang tôi, có mấy người dân Quy Nhơn ra Bắc thăm thân hoặc công tác, lại đem chuyện quê hương để bình luận. Nỗi niềm cư dân đâu cũng thế, thành phố mình thua chị kém em (Tuy Hòa bên cạnh ấy nó đầu tư ầm ầm), những chuyện như kiểu lãnh đạo cứ đủng đỉnh cho hết nhiệm kỳ, những sốt ruột khi mình mang tiếng sống ở thành phố mà chẳng thấy tự hào văn minh gì hết…
*
Những thành phố dọc đường như những con người cùng sinh ra lớn lên trong một nhà, nhưng sự khác nhau của chúng là tổ hợp của những điều kiện: thời cuộc, tiềm năng, sự vận động cuả con người và cung cách quản lý.
Những thành phố giữa đường ấy, cũng như những học trò trung bình, nhiều và đông hơn những trò giỏi hay cá biệt. Tuy nhiên, kiểu sống một cách lờ đờ khiến cơ hội tiến xa càng khó khăn hơn. Đô thị giữa đường, anh sẽ làm gì thay vì là một trạm trung chuyển không quá 5 phút xe dừng? Một vệt những thị xã thành phố trung du cũng có câu chuyện tương tự. Quan sát bản đồ hành chính, xưa những thành phố, thị xã như Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Bắc Giang, Lai Châu, Hòa Bình, Sơn Tây từng ghép tỉnh với một thị xã còn lại thành những tỉnh diện tích rất lớn, một đời chủ tịch bí thư trong nhiệm kỳ đi thị sát địa bàn không xuể, nay chúng là “vua” của một tỉnh hoặc chỉ là một vài thị xã vẫn ngủ quên. Chúng ở đoạn giữa những con đường quốc lộ nối miền xuôi với miền ngược lên đến tận các cửa khẩu. Trong bối cảnh kinh tế thị trường phụ thuộc nhiều vào việc trao đổi mua bán với quốc gia láng giềng qua biên giới, các đô thị cửa ngõ biến đổi mau lẹ, trong khi số đô thị giữa đường vẫn trong những buổi chiều tà chạng vạng. Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, người miền xuôi nghe đến có những ý niệm gì về những dãy phố buồn thiu với dăm cửa hàng đại lý cùng số lượng người nghiện ngập nhiều không thua đô thị lớn?
Những đô thị giữa đường, sự nguy hiểm ở chỗ, những đối tượng đi qua di chuyển liên tục, họ đem đến những thứ hiện nay chưa kịp kiểm soát và cũng không kiểm soát được họ. Một bác tài cũng như con ong thợ cần mẫn, mỗi nơi dừng chân, dễ dàng ghé vào một vài bông hoa, tốt xấu ra sao chưa rõ nhưng tự nhiên, những dịch vụ có tính tạm thời, sự thoải mái dễ thích ứng được khuyến khích. Cư dân trong trạng thái sinh hoạt cũng có tư tưởng, chỗ mình sống đây chỉ là một quán trọ.
*
Tôi có nói chuyện sự thay đổi của vai trò một đô thị theo dòng thời gian, có phải là một quy luật tồn vong có chu kỳ không, nhân một chuyến đi chơi với một người bạn sống ở nước ngoài lâu năm. Điều mà luôn sáng tỏ thêm ấy, theo cả những dẫn chứng anh bạn đưa ra, là lịch sử rất khắc nghiệt, và cho đến cả những nền văn minh lớn cũng có thể bị thay thế. Đất nước Áo mà anh từng cư trú, với thành Wien bên bờ Donau (hay Đanuýp một dòng xanh xanh), nay là một thành phố Trung Âu với nhạc Walzer, Johann Strauss, Mozart, cực hữu, cô giáo dương cầm Jelinek giải Nobel Văn chương 2004… mà một thời nào là thủ đô văn hóa của châu Âu mấy thế kỷ cổ điển, tức cũng là một trung tâm văn hóa của thế giới phương Tây. Hôm nay, những thành phố văn hóa châu Âu, những trung tâm trí tuệ ấy, cố gắng vươn mình để phát tán ánh sáng trong cảnh “giờ có lẽ là nhiều hơn trước, lớn thêm cái nỗi buồn Hy Lạp, cái buồn của một nền văn minh đi trước,… mà nhìn sang bên kia biển thì văn minh La Mã đang rực rỡ. La Mã, ở đây là Hoa Kỳ, và số phận của thành phố Athens là số phận của cả châu Âu” (Đỗ Khiêm, Ký sự đi Tây).
Trong bối cảnh Việt Nam, cái ý nghĩa “giữa đường” của những đô thị đang ngủ giấc triền miên kia cũng có tính động. Bởi vì chúng đã từng không hề chỉ là một thứ “giữa đường”, mà còn là những thành thị có sự phồn vinh và ít ra, quyền lực tương đối về mặt hấp dẫn với lân cận đã khiến chúng có những cá tính riêng. Bên cạnh sức mạnh kinh tế, những giá trị cộng đồng có tính nhân văn là điều có thể tạo ra dòng chảy ngược để những người con có tài lực của địa phương trở về làm ăn sinh sống, thay vì đổ xô ra thành phố lớn với tâm lý “nhà giàu ở quê không bằng ngồi lê Kẻ Chợ”.
Những đô thị còn non tuổi đời, nhưng du khách đi qua thấy chúng già như thể đã qua bao bể dâu. Cảm giác thì hẳn là chủ quan, nhưng thành phố buồn làm sao khi những sầm uất có thể gói gọn trong lòng bàn tay, những vệt loang lổ là những con lộ ra ngoại vi, với nhà ống mái tôn san sát, sau lưng là những vách núi trọc, những dãy cỏ lau cháy nắng trong buổi chiều tà (mà một ngày ở phố thị lúc nào cũng như sâm sẩm chiều, bạn tôi rên rẩm: sao cứ như tất cả uống paracetamol ấy, buồn ngủ rã rời), những con đường bụi đỏ ngùn ngụt.
Nhắc đến Tuyên Quang, ai cũng “à, chè Thái gái Tuyên”. Công nhận, không biết nước sông Lô có chất gì mà các cô ở đây đẹp, mà mấy đời hoa hậu, á hậu, người đẹp đều có người “Venezuela” của Việt Nam tranh giữ. Trong các cuộc thi sắc đẹp thế giới, người đẹp Venezuela luôn khiến thế giới chú ý và nhiều lần đăng quang, còn trong phạm vi nước mình Tuyên Quang cũng vậy. Tuy rằng, công viên bờ sông Lô thì nhiều ống kim tiêm chích, nhưng thị xã cũng có vẻ yên ổn lắm. Ở góc phế thành nhà Mạc, có quán café “Eagle” của người đẹp Dương Thanh Chấn, từng là siêu người mẫu châu Á-Thái Bình Dương, thành ra nơi tụ họp cuả các bậc máu mặt tỉnh nhà. Vì thị xã cũng quá nhỏ nên quay đi quay lại vẫn ngồi quán người đẹp. Xa Tuyên, nhớ quán chân thành cổ, nhớ bờ sông Lô nhiều phượng vĩ, rồi bánh chưng Bờ Đậu, nhớ đền Mẫu có cả những ông Tây hầu đồng nói tiếng Việt “như ma làm”, nhớ những dãy phố nhà vách đất xiêu vẹo, nhớ những cơn gió núi hắt hiu,…
Khi đô thị không có một đời sống văn hóa nội sinh của nó, theo một quy luật, sẽ vay mượn từ những đô thị lớn hơn để thỏa mãn nhu cầu của giới thị dân. Nếu không có những ý thức có tính riêng cho mình, thì đô thị ấy mới chỉ có chức năng hành chính cơ học thuần túy, trong khi mọi hình thái tổ chức xã hội mà ở đó, đô thị là một thành tố tiên tiến đều hướng đến con người trong bối cảnh nhân văn. Con người ở đây sẽ thế nào, như ông em họ tôi, công chức thị xã, ngày đi làm, tối nhậu tới bến vì không nhậu cũng chỉ nằm ở salon xem Gặp nhau cuối tuần hay video Thúy Nga Paris, như tôi chỉ mấy ngày ở đấy, cuồng chân cuồng cẳng, không internet, không rạp không bạn… Thị xã già nua vì không thấy thanh niên, đó là điều tôi rất lạ, tuy nhiên cái lạ ấy sau cũng cắt nghĩa được. Những bạn thanh niên đi học thì không về thị xã quê hương làm việc sau khi ra trường, thanh niên không học cao thì làm ăn xa, còn người trở về khi đã có gia đình ở vào một cái tuổi không già nhưng cuộc sống thì đã đông cứng ở đó. Thử nghĩ xem, nếu ngày đi làm, tối nằm salon xem VTV, rạp đóng cửa, thư viện không, mù internet, hiệu sách bán toàn đồ văn phòng phẩm cùng đồ gia dụng, bệnh viện xuống cấp,… chắc không phải là điều hấp dẫn họ quay về.
*
Trong trường hợp đô thị đã không còn sự toả rạng văn hoá của riêng mình, ánh sáng của những trung tâm đầu mối được coi là văn minh hơn, cao cấp hơn, hoặc chỉ là thời thượng hơn khiến những đô thị giữa đường này phải lấy đó làm mẫu. Nói đến việc vay mượn hình thức đời sống văn hóa cho đô thị, sẽ như thế nào cho một đô thị tiêu thụ, các cấp văn hóa cứ giảm dần so với nơi phát sinh. Thủ đô chán “wave alpha” thì thị xã dùng tốt “wave Tầu”, thành phố lớn phim “chân dài”, tỉnh lẻ cũng “ưng hoàng phúc thà rằng như thế”. Đương nhiên, đây là vấn đề có tính toàn cầu, hàng trăm hàng nghìn thành thị khắp nơi cũng gặp những bài toán hóc búa như thế. Làm sao để thanh niên không bỏ quê nhà để tìm cơ may nơi xa xôi, làm sao giữ được lực lượng lao động khoẻ mạnh cả về thể chất và tinh thần đóng góp cho nơi đã đầu tư ban đầu cho họ, điều này mỗi thành phố tỉnh lẻ xem ra cũng như vai trò người bán hàng, làm sao để khách hàng ruột rà của mình gắn bó lâu dài?
Đã đến lúc những thành thị phải cạnh tranh nhau về nhân tài vật lực, để thu hút vốn đầu tư, để mời người ngoài đến du lịch, để đảm bảo những yếu tố bền vững về văn hoá – xã hội trên một đời sống kinh tế mạnh. Những khó khăn vẫn được đổ tại tự nhiên như “chó ăn đá, gà ăn sỏi” chỉ là một lý do. Những thành phố với “cảnh quan nhân tạo” đã ra đời tại những nơi tưởng như khắc nghiệt về môi sinh, Las Vegas ở sa mạc Nevada, Kobe ở nơi nguy cơ động đất lớn của Nhật Bản, những đô thị nằm thấp hơn mực nước biển ở Hà Lan, con người khắc phục tất cả để gửi đến thế giới tấm danh thiếp đầy cá tính và hấp lực. Xét ở góc độ một người đi qua đường, 5 yếu tố để một thành phố (thị xã, thị trấn) cạnh tranh với Hà Nội về du lịch chẳng hạn:
- Có những thứ khác với Hà Nội: Biển, rừng.
- Ít ô nhiễm hơn.
- Quy hoạch ngăn nắp, kiến trúc hấp dẫn.
- Dịch vụ chuyên nghiệp, an ninh đảm bảo.
- Đời sống tinh thần độc lập và sâu sắc.
Trong đó, những yếu tố đầu do tự nhiên và cách thức quản lý đô thị quyết định, rất bài bản. Riêng có yếu tố cuối cùng mới thực là khó tưởng tượng. Đời sống tinh thần, tức là văn hóa hay những thứ có tính phi vật thể, dĩ nhiên không một sớm một chiều mà có ngay, nhưng việc tồn tại một quần cư đô thị với vài chục vạn người đã là một môi trường để thừa hành những thiết chế văn hóa. Đôi khi chỉ là các phương tiện hỗ trợ như tác phẩm nghệ thuật “địa phương ca” – tranh, ảnh, thơ, nhạc, truyện, thậm chí cả những sự tích, những con người và những kỷ niệm – dấu ấn lịch sử, cũng ẩn chứa những nét riêng thú vị.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, đã có một lượng người Hà Nội tản cư ở những đô thị trung du, những vùng tự do, nhiều người đã ở lại làm dân Phú Thọ, Thái Nguyên, Phủ Qùy,… Không khí của những phố đèo rừng cọ đồi chè man mác trong những câu chuyện một thời, Hà Nội nối tay với những miền sơn cước không quá xa xôi, và những thị xã trung du giữa đường này làm ngắn lại khoảng cách. Những trang viết của Tô Hoài, Trọng Hứa, cho đến Châu Diên trong Người sông Mê gần đây, gây ấn tượng cho tôi về những dãy phố ngây ngây nắng bụi, những căn nhà cửa liếp, cô gái cặp tóc dài kẽo kẹt đạp xe trong cơn mưa ẩm ướt hết mức có thể. Đôi khi là những chàng nghệ sĩ địa phương tóc dài búng guitar bập bùng những âm thanh buồn buồn, “về trên phố cao nguyên ngồi, tiếng gà trưa gáy khan bên đồi” (Trịnh Công Sơn).
Thị trấn giữa đàng – nghe gợi lên thật lắm nỗi niềm. Nhưng trong một bối cảnh nào đó, tìm đến chúng không chỉ là chỗ dừng chân cho khách lỡ độ đường mà vì sự thú vị khi khám phá một đời sống rất khác với đô thị lớn ồn ào náo nhiệt như vỡ tung ra. Bạn thử đi mà xem, sẽ rất sung sướng vì có thể đi bộ khắp thành phố Thanh Hóa, Vinh hay Quy Nhơn mà không nhức đầu vì tắc đường như Hà Nội, Sài Gòn. Chúng như những cô gái đảm việc nhà, tuy chưa hấp dẫn sắc sảo lắm, cũng có những nết na khiến ta đem lòng quý mến. Nhưng có lẽ như các cô gái nhu mì hiền thục quá, các thành phố giữa đàng không nhiệt tình với bạn mới quen, khách mới đến. Những người sống ở đó thật đáng tiếc là không ý thức lắm về vẻ đẹp của nơi mình sống, cứ để cơ duyên âm thầm trôi qua, tự than về sự thiệt thòi của thành phố mình, và mơ ước mãi về những quầng sáng của thành phố lớn?
8.1.2005
© 2005 talawas