trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
8.3.2005
Đông A
Chuyện chữ nghĩa
 

Một kẻ ngoại đạo đi bàn về đạo hẳn là loạn và nguy. Dẫu biết vậy tôi cứ thử rờ rẫm vào lĩnh vực xa lạ này, coi như là một sự liều mạng và văng mạng, có chi thì coi đó như một phát biểu quan điểm của kẻ không có chuyên môn để kiểm chứng tri thức của mình và tạo ra những điểm nhìn tham chiếu.

1. Chuyện “tựa đề”

Tôi nghĩ rằng phàm cái gì tồn tại đều có lý của nó. Có lẽ không ai phủ nhận sự tồn tại ngang nhiên của từ “tựa đề” trong tiếng Việt ngày nay. Vậy nó tồn tại dựa trên cái lý gì? Dựa trên sự ngu dốt của những người dùng nó? Sự ngu dốt mang tính tập thể và thời đại. Tôi nhớ tới câu chuyện Khuất Nguyên và ông lão chèo thuyền. Hòa mình vào sự ngu dốt tập thể và thời đại đó hay đơn độc thức tỉnh trẫm mình xuống dòng Mịch La. Nguyễn Du chẳng từng viết là “đại địa xứ xứ giai Mịch La” đó sao. Khắp mặt đất này đâu đâu chẳng có dòng Mịch La. Có lẽ tôi đã bi kịch hóa vấn đề này rồi.

Quả thật, trong tiếng Việt có chữ „tựa“, vốn gốc từ chữ „tự“ (bộ nghiễm) mà một trong những nghĩa của nó chỉ một thể loại văn, bài tựa. Trong Hán ngữ cũng có từ “tự đề” với nghĩa là tên (tiêu đề) của bài tựa. Vậy thì hẳn là “tựa đề” có gốc từ “tự đề”. Hơn nữa, hiện tượng biến âm kiểu từ “tự đề” thành “tựa đề” không phải là hiếm. Chẳng hạn từ “tự hồ” (chữ tự bộ nhân)  ta có “tựa hồ”. Như vậy dùng “tựa đề” là sai đứt đuôi đi rồi.

Tôi nhớ ở đâu đó Wittgenstein có nói rằng  nghĩa của một từ là sự sử dụng của nó trong ngôn ngữ. Vậy thì chữ “tựa” trong “tựa đề” được sử dụng như thế nào trong tiếng Việt? Bên cạnh “tựa đề”, tiếng Việt ngày nay còn phổ biến các từ “tựa sách”, “tựa phim”, “tựa truyện”. Rõ ràng trong các từ này, chữ “tựa” có nghĩa là tên, nó không thể nào có nghĩa là một thể loại văn viết. Như vậy trong cách sử dụng ngày nay, chữ “tựa” này mang ý nghĩa là tên. Với đặc điểm là một ngôn ngữ đơn lập điển hình, tiếng Việt không thể nào chiếu nghĩa của “tựa đề” xuống làm nghĩa cho thành tố thành phần “tựa”, mà có chăng chỉ có thể là quá trình ngược lại, nghĩa của các thành tố thành phần kết hợp lại làm thành nghĩa chung của cả cụm từ. Vậy thì nghĩa tên của chữ “tựa” này phải chăng là một nghĩa lệch và nghĩa lệch này đang hoành hành trong tiếng Việt? Hiện tượng nghĩa lệch trở thành nghĩa chính và chuẩn cũng không phải là hiếm. Ngay nghĩa của chữ “tên” mà ngày nay chúng ta sử dụng cũng vốn là nghĩa lệch được hình thành ở thời kỳ cổ Hán-Việt. Thời kỳ cổ Hán-Việt là thời kỳ trước khi có sự xuất hiện của Thiết âm, Quảng vận, tức là khoảng quãng thời kỳ trước Đường, Tống. Theo Starostin chữ “tính” (bộ nữ) có nghĩa là họ ở thời kỳ Hán cổ có phát âm là “sen-s”, sang thời kỳ Hán trung có phát âm là “sjen” và hiện nay là “xing”. Thời kỳ Hán trung chính là thời kỳ Thiết âm, Quảng vận, và cách ghi âm “sjen” này chính là âm “tính” của Hán-Việt, bởi vì thiết âm của chữ này là “tức chính thiết”. Qua đó có thể thấy là cách ghi âm “sen-s” ở thời kỳ Hán cổ chính là “tên” trong tiếng Việt. Hay nói một cách khác, “tên” trong tiếng Việt có từ nguyên từ chữ “tính”, vốn là gốc Hán có phát âm là “tên” ở thời kỳ cổ Hán-Việt, và sang thời kỳ Hán-Việt (thời kỳ Thiết âm, Quảng vận) trở thành tiếng Việt. Như vậy từ nghĩa chuẩn của chữ “tính” là họ, sang tiếng Việt được chuyển thành nghĩa tên vốn là nghĩa của chữ “danh”. Nghĩa lệch này ngày nay đã trở thành nghĩa chính và chuẩn của từ. Không rõ ở vào thời kỳ đó có bao nhiêu người trẫm mình xuống dòng Mịch La kiên quyết từ chối cách dùng chữ “tên” với nghĩa là danh này. Như vậy phải chăng chữ “tựa” này rồi cũng sẽ như vậy? Nhưng tôi muốn đặt câu hỏi, căn cứ vào đâu mà cho rằng chữ “tựa” này có gốc từ chữ „tự“ bộ nghiễm với nghĩa là một thể loại văn viết? Bên cạnh từ “tự đề”, trong Hán ngữ còn có từ “đề tự” với chữ „tự“ bộ tử và có nghĩa là chữ đề, tên đề, đầu đề (heading). Căn cứ vào ngữ nghĩa của từ, ta dễ suy diễn từ “tựa đề” có xuất xứ từ “đề tự” (bộ tử) hơn là từ “tự đề” (bộ nghiễm). Hơn nữa ngoài nghĩa là chữ, văn tự ra, chữ “tự” bộ tử còn nghĩa là một loại tên, tên chữ hay tên tự. Và như vậy “tựa” với nghĩa là tên cũng không khó luận ra lắm từ chữ “tự” bộ tử.

Vậy thì cuối cùng chữ “tựa” này có nguồn gốc như thế nào? Tôi không biết. Mọi người đều có thể chọn cho mình một cách lý giải nào đó hay chẳng cần cách nào. Ai đục, ai trong thì dòng sông vẫn đêm ngày cuồn cuộn đổ về đông. “Mọi lý thuyết đều xám xịt; Chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”.

2. Chuyện chiết tự



Chiết tự hay bị coi là một thói chơi chữ mang tính giải trí. Nhưng tôi lại nghĩ chiết tự là một ngành khoa học, nghiên cứu mối liên hệ giữa các ký hiệu với nhau, giữa ký hiệu với đối tượng mà nó thể hiện, giữa ký hiệu với văn cảnh, tức là chiết tự bao hàm cả các lĩnh vực cú pháp (syntactics), ngữ nghĩa (semantics) và ngữ dụng (pragmatics) học. Áp dụng chiết tự vào văn học tạo ra những chiều mới, những nội hàm mới và cả những tư tưởng bất ngờ. Milan Kundera phân tích chiết tự của từ hoài hương (nostalgia) và ngu dốt (ignorance) đã tạo một chủ đề cho tiểu thuyết của ông. Sau đây là một trích đoạn trong tiểu thuyết Sự ngu dốt (Ignorance) của Milan Kundera:

“Từ Hy Lạp cho “trở về” là nostos. Algos có nghĩa là nỗi đau khổ. Vì thế nostalgia là nỗi đau khổ do khao khát trở về khôn nguôi. Để diễn đạt khái niệm cơ bản này phần lớn người châu Âu có thể sử dụng từ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (nostalgia, nostalgie) cũng như các từ khác có gốc trong ngôn ngữ của dân tộc họ: người Tây Ban Nha nói anoranza; người Bồ Đào Nha nói saudade. Trong mỗi ngôn ngữ những từ này có sắc thái ngữ nghĩa khác nhau. Thông thường chúng chỉ có nghĩa là nỗi buồn do không thể trở về đất nước của mình: niềm khao khát đất nước, quê hương. Trong tiếng Anh cái đó gọi là “homesickness”. Hay trong tiếng Đức: Heimweh. Trong tiếng Hà Lan: heimwee. Thế nhưng điều này phân tán khái niệm chung đó thành yếu tố không gian. Một trong những ngôn ngữ châu Âu cổ nhất, tiếng Iceland (giống như tiếng Anh) phân biệt giữa hai khái niệm: soknudur: hoài hương theo nghĩa chung; và heimpra: niềm khao khát quê hương. Người Czech có từ nostalgie từ gốc Hy Lạp, cũng như có danh từ của riêng họ, stesk, và động từ của riêng họ; diễn đạt cảm động nhất về tình yêu của người Czech là: Styska se mi po tobe (“Anh khao khát em”, “Anh hoài nhớ em”; “Anh không thể chịu nổi xa em”). Trong tiếng Tây Ban Nha anoranza xuất xứ từ động từ anorar (chịu đựng nỗi hoài hương), mà từ này xuất xứ từ enyorar của tiếng Catalan, và chính nó lại bắt nguồn từ tiếng Latin, từ ignorare (không nhận thức, không hay biết, không trải qua; thiếu hay không có). Trong ánh sáng từ nguyên đó hoài hương dường như là một điều gì đó giống như nỗi đau của sự ngu dốt, của không hay biết. Anh ở xa, và tôi không biết chuyện gì xảy ra với anh. Đất nước tôi ở xa, và tôi không biết chuyện gì xảy ra ở đó. Những ngôn ngữ cụ thể đều có vấn đề với từ “hoài hương”: người Pháp chỉ có thể diễn đạt nó bằng danh từ có gốc Hy Lạp, và không có động từ cho nó; họ có thể nói Je m’ennuie de toi (Anh nhớ em), nhưng từ s’ennuyer yếu, nhạt – dầu sao chăng nữa thì cũng quá nhẹ để làm sâu đậm cảm xúc. Người Đức ít khi sử dụng khái niệm Nostalgie bắt nguồn từ Hy Lạp, và hay nói Sehnsucht khi nói về lòng mong muốn một thứ không có mặt. Thế nhưng Sehnsucht có thể quy cho cả những thứ đã từng tồn tại lẫn những thứ chưa bao giờ tồn tại (như một cuộc phiêu lưu mới), và do đó nó không nhất thiết hàm ý ý nghĩa của nostos; để tính đến nỗi ám ảnh trở về trong từ Sehnsucht đòi hỏi phải thêm bổ ngữ: Sehnsucht nach der Vergangenheit, nach der verlorenen Kindheit, nach der ersten Liebe (nỗi khao khát quá khứ, tuổi thơ đã mất, tình yêu đầu tiên).”

Khi đọc những dòng chiết tự này, tôi chợt nghĩ đến Từ Thức của Việt Nam. Tôi cứ nhớ mãi hình ảnh một con người đơn độc áo tơi nón lá âm thầm đi vào dãy Hoành Sơn. Bi kịch của hoài hương hay bi kịch của sự ngu dốt?

3. Chuyện ngôn ngữ là một khế ước?



Quan điểm cho rằng ngôn ngữ là một khế ước, chỉ cần mọi người hiểu nhau là được rồi, không cần phân tích ngữ nghĩa, từ nguyên, cú pháp… làm gì cho rách việc không phải là không có cơ sở.  Quan sát việc sử dụng tiếng lóng trong một nhóm người sẽ thấy tiếng lóng quả là một khế ước. Nhưng trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ ngôn ngữ không phải là một khế ước, mà là một cái gì đó ở mức độ sâu xa hơn, kiểu giống như Heidegger nói, ngôn ngữ là ngôi nhà của Hiện Hữu. Tôi không đủ trình độ để đi sâu hơn vào vấn đề này, nhưng vẫn ghi ra đây để có thể có ai đó thông hiểu sẽ giảng giải vấn đề này và cũng để bày tỏ ý kiến của mình là không đồng ý với quan điểm cho rằng ngôn ngữ là một khế ước.

© 2005 talawas

 
© talawas 2026