trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
7.3.2005
Carolin Emcke
Kant viếng Tehran
 

Viễn tượng xây dựng hoà bình của Immanuel Kant dựa trên điều kiện tiên quyết là sự tách ly giữa nhà nước và tôn giáo: Đây không phải là vấn đề nhạy cảm duy nhất của một hội nghị đáng chú ý tại Tehran, nơi các học giả Hồi giáo tranh luận với các triết gia xã hội Đức về khai sáng và đức tin.

Thoạt nhìn, Tehran giống hệt Berlin vào mùa đông, lớp tuyết dầy cộm làm thành phố khổng lồ, ồn ào, gấp gáp này trở nên yên tĩnh và trầm lặng lạ thường. Bầu trời xám dường như sà xuống thấp hơn thường lệ, dải Elburs phía bắc ẩn mình sau màn khói trắng và những hàng cây ven đại lộ hầu như đều kiệt sức dưới sức nặng của khối tuyết đè lên.

Sự hỗn loạn do cơn giá buốt đột ngột gây ra đã khiến cả những chiếc xe hơi sang trọng của các nhân vật quyền quý lẫn những chiếc Skodas han rỉ của dân bán lẻ chà là tắc nghẽn trong dòng xe cộ. Vài thiếu nữ che mặt sơ sài, thản nhiên nghịch ném tuyết với đàn ông lạ ven đường. Thỉnh thoảng lại có xe chất cả người tuyết lên để trang trí, hệt như kiểu hình nhân gỗ gắn nơi mũi tàu biển cổ xưa. Khách bộ hành khanh khách cười, cẩn thận trượt trên đường đóng băng. Nỗi sợ hãi vì hậu quả của nhất cử nhất động sai, vốn vẫn hiện hữu thường trực tại đây vì bao nhiêu lý do chính trị, nay có thêm một nguyên cớ hết sức tự nhiên.

Khung cảnh dành cho hội nghị khác thường này của những nhà tư tưởng thật đầy ấn tượng, chỉ có điều nó lại từ chối vẻ đẹp hiếm có của mùa đông năm nay: Những tấm rèm lóng lánh sắc vàng nơi các cửa sổ trong toà nhà lộng lẫy của Bộ Ngoại giao Iran dành cho hội nghị cứ khép im lìm.

Trong phòng họp, đã thấy bầy sẵn nào trà trong bình đồng, nào bánh hạt hồ trăn. Thông dịch viên đã chờ sẵn trong khoang làm việc. Những người tham dự thì tụ thành từng nhóm nhỏ, rụt rè và lạ lẫm. Mọi khâu chuẩn bị đều tuyệt hảo. Không một yếu tố nào được phép gây rối cho hội thảo thiêng liêng này, kể cả thời tiết quái gở, các trở ngại về ngôn ngữ, cũng như việc chủ và khách phương Tây chả hiểu biết về nhau là bao.

Quả là một tình thế đáng chú ý: Cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ đang chuyển trọng tâm từ Iraq sang Iran, tương ứng với việc tin đồn về những chương trình Iran chế tạo bom nguyên tử ngày càng dồn dập, có thể dẫn đến khả năng của một sự trả đũa từ phía Hoa Kỳ là tấn công quân sự, đồng thời cách tuyên bố của những người cầm quyền tại Iran cũng ngày càng gay gắt. Vậy mà giữa tâm điểm của những xung đột chống Trục của phe Ác và trò trốn tìm vũ khí huỷ diệt hàng loạt, giữa đủ loại phủ nhận, tố cáo cũng như lý thuyết lật đổ, giới tinh hoa về triết học xã hội cùng các lý thuyết gia về nhân quyền từ Đức lại tụ họp nơi đây để thảo luận với các học giả Hồi giáo về câu hỏi: tôn trọng nhân quyền có thể đóng vai trò nền tảng bền vững duy nhất cho một nền hoà bình lâu dài được hay không và nếu có thì trong chừng mức nào? Các nhà tư tưởng, từ Axel Honneth đến Stefan Gosepath, từ Christoph Menke đến Hauke Brunkhorst đều nhận ra rằng, buổi phiếm luận này của các trí thức, được sắp xếp từ mấy tháng trước, nay đã đột nhiên trở thành một cuộc đối thoại hết sức thời sự và mang đầy chất nổ chính trị.

Iran muốn xóa hình ảnh mình là một nhóm cô lập ngoài lề, và bước khởi đầu mang tính ngoại giao như Hội thảo triết học này đúng là thuận lợi. Cơ sở cho tất cả các tham luận và thảo luận là một áng văn đã 210 tuổi, tuy xuất thân từ phương Tây nhưng lại có thể đóng vai một lãnh thổ trung lập cho các tranh luận về Đông – Tây: luận văn Bàn về hoà bình vĩnh cửu của Immanuel Kant viết năm 1795! Đủ đáng kính và nổi tiếng để cùng đem đến cho các nhà thần học bảo thủ quấn mũ vải, cho một nữ triết gia tư pháp tân tiến của đại học Tehran cùng các triết gia Đức từ các đại học Potsdam, Frankfurt am Main và München chung cảm giác rằng, đây là cuộc thảo luận cao cấp về một đề tài lớn, trong không khí chấp nhận lẫn nhau về tri thức.

Nội dung: Ý tưởng vĩ đại và đi trước lịch sử rất xa của Kant về quyền của công dân thế giới, khi được giải phóng khỏi những giáo điều tôn giáo, sẽ vừa bảo đảm được hoà bình giữa các nhà nước đồng thời giới hạn được cái ác nằm nơi bản tính tự nhiên của con người. Ý tưởng này đã hàm chứa những tư tưởng nền tảng của các cộng đồng liên quốc gia cũng như của tổ chức Liên hiệp quốc. Nơi đây, những người tham dự sẽ một mặt tranh luận về tư tưởng, mặt khác phải tránh đề cập rõ rệt đến đường lối chính trị trong giai đoạn Hoa Kỳ tiến hành chiến tranh chống khủng bố, hay tránh đụng chạm đến bản án Hồi giáo treo trên đầu văn sĩ gốc Anh-Ấn Salman Rushdie, là những điểm có thể làm cuộc đối thoại đứt đoạn tức thì.

Trong hoàn cảnh này, các mục đích mong đạt được sẽ chỉ là một sự gián tiếp xích lại gần nhau qua trung gian thường trực là triết gia Kant của thành phố Königsberg, hay chỉ là một cuộc đánh vật cẩn trọng với từ ngữ cùng định nghĩa, vừa đậm nét nghi ngờ vừa đồng thời hy vọng.

Các lực lượng cải tổ tại Iran đã suy yếu từ khi Khatami, nhà thần học cởi mở đồng thời là tổng thống Iran, không đủ sức kềm chế lãnh tụ cách mạng Khamenei, người muốn đảo ngược về quá khứ. Sau lần bầu cử tháng Hai năm vừa qua, có thể thấy đa số dân biểu được bầu vào Quốc hội Iran đều thuộc phe bảo thủ.

Từ dạo ấy, các trí thức có tinh thần phê phán, sinh viên và nhà báo lại bị bắt như trước, bị kiểm duyệt và đe dọa có hệ thống. Ngay cả lực lượng đối lập Hậu Hồi giáo của những giáo sĩ hay các nhà tư tưởng thần học như Mojtahed Shabestari hay Mohsen Kadivar cũng ngày càng chán nản.

Cho nên những người tham dự hai ngày hội nghị vào tháng Hai lạnh giá này không phải là không mạo hiểm: Những nhà tư tưởng cởi mở người Iran, trong hội nghị này cũng lại là thiểu số, vẫn e ngại sẽ bị trừng trị nếu diễn đạt quá rõ những ý tưởng của Kant về khai sáng, phê phán và nhà nước thế tục, tức là đồng nghĩa với những nghi ngờ đối với chủ thuyết chính thống của cách mạng Shiite tại Iran. Các nhân vật thuộc phe bảo thủ cứng rắn trên bàn chủ tọa thì lại lo ngại quyền lực của mình bị suy giảm, vì thế cuộc thảo luận về Kant này phải luôn nằm trong tầm kiểm soát của họ. Còn các triết gia Đức lại phải cẩn thận không để mình bị biến thành công cụ, cũng như không để sự hiện diện của mình được coi như bằng chứng vững chãi trước công luận, như thể mình đã công nhận những kẻ giáo điều tại đây cùng lý thuyết của họ.

Vì thế, việc khai triển chiến thuật đã bắt đầu trước khi hội nghị khai mạc. Mọi đề cập đến quyền, nhất là nhân quyền, đột nhiên biến mất khỏi các tựa đề của các tham luận. Sát ngày khai mạc, triết gia và lý thuyết gia tư pháp Stefan Gospath đã ngạc nhiên khi thấy tham luận về „Các quyền xã hội“ của ông đột nhiên trở thành bài nói về „Hòa hợp xã hội“!

Đông đảo phóng viên truyền hình và nhiếp ảnh chen trước hàng khán giả ít ỏi cũng đã không ngăn cản được, chẳng hạn việc Christoph Menke, giáo sư triết của Trung tâm Nhân quyền Đại học Potsdam, qua diễn văn chào mừng, đã nhã nhặn nhưng kiên quyết đề cập đến – cũng như đánh vần cả tựa đề nguyên thuỷ của – bài „Hoà bình trên cơ sở luật pháp“. Ông nói: „Hoà bình không phải chỉ đơn giản là sự vắng mặt của bạo lực và đàn áp, mà phải được bảo đảm qua tính quy phạm, vì thế chúng ta cần nhân quyền và dân quyền“.

Đã thế, tham luận đầu tiên của phía Iran lại gây xôn xao trong phòng họp. Gholam Ali Haddad-Adel bất ngờ xuất hiện. Từ trước đến nay không hề có tên của triết gia bảo thủ đồng thời là người phát ngôn nổi tiếng của Quốc hội Iran này trong chương trình. Qua các kỳ bầu cử trước đây, nhà nghiên cứu Kant này đã được quá ít phiếu nên các vị lãnh đạo phải dọn chỗ cho ông ta bằng cách đuổi cổ một dân biểu khác đã được bầu ra khỏi quốc hội.

Các phóng viên truyền hình và nhiếp ảnh đã dàn sẵn để ghi lại lời giáo huấn của người phát ngôn Quốc hội khét tiếng này dành cho các nhà nghiên cứu Kant đến từ phương Tây. Haddad-Adel mở đầu với các vị khách Đức bằng việc dẫn ra một trùng hợp lịch sử: Ngày mất thứ 200 (12.2.2004) của triết gia Đức cũng suýt soát trùng với ngày kỷ niệm cách mạng Iran (11.2.1979). “Vì thế tất cả chúng ta đều tràn ngập hoà bình.”

Và bằng một thao tác biện chứng liều lĩnh, Haddad-Adel biến luôn triết gia của khai sáng với quan điểm phê phán giáo hội này thành một tín đồ bảo vệ mô hình quốc gia đặt trên nền tảng tín ngưỡng. Ông ta tuyên bố: “Một nền dân chủ với nhiều thứ quyền nhưng thiếu đạo đức khác nào một thực thể chết”, và bắn luôn phát đạn hùng biện kết liễu nền dân chủ Tây phương: “Hoà bình giữa các quốc gia phụ thuộc vào sự bình an của từng quốc gia, và bình an xã hội của mỗi quốc gia lại dựa trên sự an bình nội tại của từng cá nhân, mà chỉ có đức tin mới có thể tạo lập được sự an bình nội tại ấy.”

Thế là nhân quyền và công bằng xã hội được luật pháp khách quan hoá đã tự nhiên trở thành vô nghĩa trước quyền lực của tôn giáo tạo dựng hoà bình. Hoàn toàn bị bất ngờ trước vụ bắt triết gia làm con tin để thực hiện các ý đồ của nhà nước đẫm màu tôn giáo kì khôi này, đáng tiếc không học giả Tây phương nào tham dự hội nghị nhớ ra đoạn mở đầu của Kant trong luận văn Bàn về hoà bình vĩnh cửu, trong đó Kant đã đoán trước, là giới chính trị sẽ “đánh hơi thấy nguy cơ” nơi luận văn này và vì thế ông “cương quyết phản đối mọi suy diễn ác ý”.

Haddad-Adel còn đề cập đến nguy cơ cận kề từ bên ngoài đe dọa đến hoà bình, đến “ngọn lửa tại các quốc gia lân bang Afghanistan và Iraq” mà mọi người đã cùng phải trải qua, và đến “làn khói đang tràn qua Iran”. Ông ta nhắc đến “các thế lực xấu xa đang đe doạ hoà bình”, tuy không hề đề cập Hoa Kỳ. Rồi ông ta cùng đoàn tùy tùng nhanh chóng rời hội trường, và các cơ sở truyền thông Ba Tư hiện diện tại hội nghị cũng vậy.

Nhân quyền! Đối với những người mang ý thức hệ tôn giáo như Haddad-Adel thì ẩn sau ý tưởng này, không có gì khác hơn là thủ đoạn tuyên truyền của bọn đế quốc Tây phương. Họ như nghe thấy một âm điệu mê hoặc bảo rằng mọi con người, dù có đức tin hay vô thần, dù theo Cơ đốc hay Hồi giáo, đều phải được đối xử bình đẳng trước luật pháp, nhưng thực chất thì nó chỉ xúi giục giương cao những tư tưởng cá nhân và thế tục của phương Tây và áp bức những tín đồ Hồi giáo.

Thế thì dù Christoph Menke có phát biểu khôn khéo đến mấy đi nữa về nhân quyền, một khái niệm hiện hữu trong cả giáo lý Hồi giáo lẫn Cơ đốc, nhưng các bên tham dự hội nghị đã không thể cùng chia sẻ tính phổ quát, chung cho mọi nền văn hoá, của nhân quyền.

Buổi tối, các triết gia Đức dạo bước trong thành phố muôn mầu ánh sáng, đèn đỏ, đèn lục và các chuỗi đèn giăng treo tưng bừng nhân ngày quốc lễ, nơi hàng ngàn người đang tham gia kỷ niệm cách mạng trên các đường phố và quảng trường.

Trên màn ảnh khổng lồ tại nhà khách ảm đạm của Bộ Ngoại giao, các cuốn phim không lời bình của năm 1979 được chiếu xoay vòng: những đám đông hân hoan đón mừng sự giải phóng khỏi chế độ phong kiến của quốc vương Ba Tư tham nhũng và chuyến hồi hương từ chốn lưu vong ở Paris của một Ayatollah Khomeini đau yếu vì bệnh tật.

Màn ảnh cứ chiếu đi chiếu lại những đoạn phim câm về sự nồng nhiệt đón chào một xã hội công bằng hơn và bình yên hơn sắp tới. Nhưng hình ảnh về những đứa con của cách mạng thuở nào, nay đang thất vọng, đóng kín cửa xem phim Tây phương và hẳn đã từng nhậu nhẹt rượu chè, thì không thấy.

Nhưng chính việc chiếu đi chiếu lại các hình ảnh cách mạng này lại làm nổi bật tính phức tạp của cuộc thảo luận về nhân quyền: ngay ở các trí thức cấp tiến nhất, vấn đề hiện đại hoá cũng lập tức đánh thức hồi tưởng về những thử nghiệm cưỡng bức Âu hoá dưới thời quốc vương Mohammed Resa, kẻ đã hạ lệnh cho cảnh sát công khai giật bỏ khăn choàng đầu của phụ nữ trên đường phố. Trong kí ức tập thể nơi đây thì khai sáng và hiện đại không hẳn chỉ đã sát cánh với tự do và tự chủ, mà còn gắn với cưỡng ép và thô thiển hóa.

Phát biểu mới nhất của tổng thống George W. Bush đề cập đến bước tiến chiến thắng của tự do trên toàn cầu, không loại trừ những đòn quân sự giáng lên các chế độ độc tài. Thêm một lần nữa, cả những người Iran cới mở nhất lại nhấm thấy vị dối trá của nền dân chủ phương Tây, rằng những kẻ tuyên bố như thế cũng sẽ cộng tác với ngay cả các quốc gia bất lương, nếu các quốc gia này vẫn bất lương, nhưng bất lương dưới trướng phương Tây.

Luận điệu hiếu chiến từ nước ngoài này, vì thế, nay lại thật sự trở thành chỗ núp của chính những thế lực mà nó muốn chống: thế lực bảo thủ.

Nhưng vào ngày thứ nhì, cuối cùng thì hội nghị cũng có được một đối thoại trực tiếp, không vòng vo che đậy, về các khác biệt và tương đồng lớn trong cách lý giải về Kant qua tư tưởng Hồi giáo và Tây phương. Bà Nasrin Mosaffa, Chủ tịch Trung tâm Nhân quyền đại học Tehran, đồng thời là phó trưởng khoa luật, đã vào ghế chủ toạ và bất ngờ đem đến cho hội nghị một không khí cởi mở và vui vẻ. Trong khăn trùm trang nhã màu sẫm che kín mái tóc, bà cầm tấm bảng nhỏ ghi tên tuổi chức vụ lên, để vào đúng vị trí trước mặt, nhẹ nhàng cười và tuyên bố: “Quyền phụ nữ cũng là nhân quyền, vì thế trong tương lai đúng hơn phải gọi chủ tịch bằng “chairperson” chứ không được gọi bằng “chairman” nữa.” Đến đây, cả những người Đức tham dự cũng phải bật cười.

Một cảnh tiêu biểu trong hội nghị: Một sinh viên cao gầy, trang phục đen, ngồi ở hàng đầu, đã lặng lẽ và chăm chú lắng nghe bài tham luận tuyệt vời của giáo sư Stefan Gosepath về tính tự quản của mỗi cá nhân. Bỗng anh ta ghé lên hàng các học giả Đức và hỏi bằng tiếng Anh rất sõi: “Thế thì phải hiểu cái gọi là nhân quyền cơ bản như thế nào, trong khi ở Pháp, tín đồ Hồi giáo không được công khai biểu lộ mình là tín đồ Hồi giáo? Khi tôn giáo còn bị cấm đoán nơi công cộng thì các vị phương Tây kết hợp điều ấy thế nào với những lời tuyên bố thiêng liêng về lòng khoan dung và về những quyền có giá trị toàn cầu?”

Và như thế, chỉ một sinh viên duy nhất mà đã phá tung được vỏ bọc xơ cứng của các trò chơi chữ nghĩa cũng như của những thảo luận thuần lý thuyết. Các triết gia tự nhiên cảm thấy bị thách thức, đồng loạt phát biểu rất trực tiếp và sâu sắc về những mâu thuẫn cụ thể giữa các nền văn hoá.

Một ngạc nhiên khác cho các thính giả Iran là sự tan rã của mặt trận thống nhất giữa các trí thức phương Tây. Khi phải đương đầu với những luận điểm thật sự bất đồng, chứ không phải chỉ dưới dạng giả thuyết của người đồng phường hội với nhau, họ đã cụ thể hoá những tư tưởng triết học thành những thế đứng chính trị rõ rệt. Axel Honneth, nhân vật kế vị Habermas, đồng thời là đại biểu đương thời của Trường phái Frankfurt, đã hoài nghi, một cách tự phê phán, tính trung lập, tách khỏi tín ngưỡng của nhà nước mà Gosepath đã đòi hỏi trước đó.

Về lời chỉ trích thường gặp từ phía tín đồ Hồi giáo đối với sự tách rời giữa môi trường công cộng và môi trường riêng tư, Honneth cũng bày tỏ thái độ thông cảm: “Khi mọi ý tưởng về luân lý và tôn giáo bị đẩy vào lãnh vực tư cả, thì đời sống công cộng sẽ bị nghèo nàn đi.”

Mặt khác ông Gosepath lại tìm được nơi nhà xã hội học Ghasem Eftekhari của đại học Tehran một người cộng sự can đảm bảo vệ quan điểm tách ly tôn giáo và chính trị.

“Luật pháp phải xuất phát từ tính nhân bản và tính xã hội, chứ không phải từ tính tôn giáo”, Eftekhari lý luận rất điềm tĩnh, như thể cái giá phải trả cho những tư tưởng này tại Iran chẳng cao hơn tại phương Tây là bao.

Và Eftekhari cũng khẳng định quan điểm tách ly hai môi trường công và tư, và như thế đã tỏ ra cởi mở hơn cả Axel Honneth.

“Chúng tôi đã rút được bài học, rằng những khác biệt trong nội bộ chúng ta cũng vẫn có thể là những nối kết với người khác”, Christoph Menke đúc kết cuộc thảo luận táo bạo giữa hai nền văn hoá với kết thúc may mắn này. Đoạn ông trao món quà mang theo đến cử toạ: Bộ Toàn tập tác phẩm của Kant, rồi phát biểu: “Xin quý vị đừng để toàn tập này trong tủ kính ngoài kia, vì đây là một món quà hàm chứa ước muốn sẽ được sử dụng”.

© 2005 talawas

 
© talawas 2026