Trần Ngọc Vương
Kiến tạo một xã hội học tập ở Việt Nam – những hạn chế từ lịch sử cần nhìn cho thấu
Ngày nay, các xã hội phát triển đều nhất loạt hướng tới nền kinh tế tri thức. Việt Nam tuy đang nằm trong số các nước kém phát triển nhưng chính vì thế càng cần nhanh chóng tìm cho được cách thức vận động sao cho ra thoát đói nghèo, tiến tới hòa nhịp với sự vận động chung của thế giới hiện đại. Kinh tế tri thức một khi trở thành bộ phận chủ đạo của nền kinh tế quốc dân đòi hỏi một lực lượng lao động tương ứng là lao động có kiến thức cao, nói khác đi đòi hỏi mọi thành viên tham gia nền kinh tế này phải là người lao động trí tuệ hoặc sử dụng trí tuệ như công cụ lao động chủ yếu. Nền kinh tế tri thức ở quy mô toàn xã hội dĩ nhiên đòi hỏi mọi thành viên của xã hội ấy đồng thời là những người năng sản bằng trí tuệ. Kiến tạo một xã hội học tập, không nghi ngờ gì nữa, là một con đường tất yếu mà Việt Nam phải khẩn trương hướng tới.
Chỉ từ những điều sở tri sở kiến của mình, chúng tôi muốn góp bàn về một vài khía cạnh liên quan đến khả năng thực tế của việc xây đắp nên một xã hội như vậy. Chắc chắn có nhiều người khác đã và đang nghĩ, đã và đang bàn ở những cấp vĩ mô, những bình diện lý thuyết của vấn đề, cũng sẽ có nhiều người nhận diện những mặt thuận lợi, tích cực ở nước ta khi thực thi nhiệm vụ ấy. Bài viết nhỏ này của chúng tôi, xuất phát từ một góc nhìn cụ thể, là góc nhìn về tính lô gic – lịch sử sự vận động của đối tượng, lại chỉ muốn đề cập chủ yếu tới những hạn chế, những khía cạnh không thuận, nói khác, những khó khăn trong việc xây dựng một xã hội như thế, ở ta. Chắc chắn là chỉ với nhiệm vụ tự định cho mình như vậy, người viết cũng không mong nói được thật sâu, thật kỹ, mà chỉ mong, như người khôn trong trường hợp này vẫn hay diễn đạt thế, “xới lên vấn đề”, bàn tới “đôi điều ba chuyện” mà thôi.
1. Giới trí thức tinh hoa trong lịch sử Việt Nam – những đặc điểm có thể thành chướng ngại cho việc xây dựng một xã hội học tập
Những người được coi là thuộc giới trí thức sớm nhất ở Việt Nam mà tên tuổi còn lưu lại, còn có thể khảo chứng được đa số lại là người Hán hoặc gốc Hán. Lý do thật đơn giản: cho đến nay, một khi chưa có bằng chứng đầy đủ để khẳng định một thứ văn tự trước Hán và khác Hán từng tồn tại trong quá khứ ở Việt Nam, thì đội ngũ những người dùng chữ viết sớm nhất là những người dùng chữ Hán (sử dụng “công cụ lao động” là chữ viết tuy không phải là tiêu chí duy nhất, nhưng chắc chắn là tiêu chí quan trọng nhất để xác định thành phần cho người trí thức. Có thể có những trường hợp đặc thù, ít hay thậm chí không dùng đến chữ viết để “hành nghề” vẫn có thể là trí thức, nhưng đó chỉ là cái cá biệt làm sáng tỏ hơn quy luật!). Nếu bắt đầu sự khảo sát của chúng ta về lịch sử tầng lớp trí thức Việt Nam từ sau khi Ngô Quyền giành lại độc lập, thì giới trí thức đầu tiên góp mặt đông đảo nhất đến từ đội ngũ các võ tướng và các nhà sư, rồi dần dà nhà nho có số lượng áp đảo. (Tuy đã thuộc về một thời đại lịch sử xa xôi, giai đoạn Lý – Trần rất đáng được nghiền ngẫm trở lại bởi theo cảm nhận của tôi, đó là một giai đoạn còn tiềm tàng nhiều bài học cho cả thời nay).
Như đã rõ, trong lịch sử Việt Nam cho đến tận đầu thế kỷ XX, mẫu hình trí thức tồn tại lâu dài nhất, có tác động lớn nhất đến đời sống tinh thần xã hội là nhà nho. Tinh thần văn hóa Nho giáo thấm sâu vào thành truyền thống, thậm chí thành bản sắc của nền văn hóa dân tộc. Về mặt diện mạo tổng thể, nền văn hóa Việt Nam từ thế kỷ XIV đến hết thế kỷ XIX là nền văn hóa Nho giáo. Nếu lưu ý đến “đặc điểm lớn nhất của xã hội Việt Nam thời đại ngày nay” là sự phát triển bỏ qua (hay ít nhất thì cho đến nay cũng chưa thành một phương thức sản xuất / một hình thái kinh tế – xã hội hoàn chỉnh) đối với hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa, thì phải đồng ý với nhiều nhà khoa học [1] rằng Việt Nam đi từ Nho giáo lên chủ nghĩa cộng sản. Trước khi có nền học vấn Âu hóa của thời hiện đại, và cả khi nền học vấn đó đã, đang trở thành xu thế chủ đạo thì quán tính của nền học vấn truyền thống vẫn chi phối từng bước đi của lịch sử một cách mạnh mẽ, khá vô hình nhưng vẫn khá quyết liệt. La mort saisit le vif – cái chết đang túm lấy cái sống. Sự “túm lấy” này, tuy không hoàn toàn chỉ mang nghĩa tiêu cực, nhưng những tác động tiêu cực của nó là điều không thể xem thường. (Ðã, đang và sẽ còn khá nhiều những công trình nghiên cứu tôn vinh và đặc biệt hóa các giá trị “bản sắc” của truyền thống, cả sự ca tụng chân thành lẫn sự đầu cơ. Trong các công trình “chân chính” chúng ta đã, đang và sẽ đọc thấy khá nhiều những chuyện xưa tích cũ tốt đẹp cần phải kế thừa và phát huy. Vậy về những điều như thế, xin không “nối điêu” vào đây nữa. Cảm hứng chủ đạo của tôi trong bài viết này phần nào có vẻ giống với cảm hứng của các nhà hình sự học, hay giống công việc của các bác sĩ pháp y).
Trong vòng bảy, tám thế kỷ, đội ngũ trí thức – nhà nho ở Việt Nam đã dần dần thay thế và cuối cùng là thay thế hẳn đội ngũ trí thức Phật giáo, tạo ra một nền học vấn kiểu nhà nho, và vì thế, ngả theo mô hình của nền học vấn Trung Hoa. Nhưng khác với giới trí thức Trung Hoa nói chung, tầng lớp nhà nho Trung Hoa nói riêng, chưa bao giờ tầng lớp nhà nho Việt Nam thực sự có được sự độc lập tương đối về chính trị, nhất là trong quan hệ với chế độ chuyên chế, để có thể có được những thành tựu độc lập trong sáng tạo tri thức và những giá trị tinh thần đủ để vinh danh chỉ riêng tầng lớp của mình. Lý luận Nho giáo không được khái quát lên từ thực tế Việt Nam, mà lý luận đó chỉ phù hợp nên có thể vận dụng được trên thực tế Việt Nam ở những thời gian lịch sử nhất định, dù quãng thời gian lịch sử ấy có thể và trên thực tế đã kéo dài, thậm chí quá dài. Theo cách nhìn nhận cá nhân, tôi cho rằng tuy Phật giáo ở Việt Nam chỉ thật thịnh trong một khoảng thời gian không dài, nhưng lại có những thành tựu về sáng tạo tinh thần đột xuất và có những gương mặt trí tuệ đỉnh cao, khả dĩ vinh danh và đại diện cho trí tuệ Việt hơn cả những đóng góp mà nhà Nho tạo nên trong một thời kỳ lịch sử dài hơn nhiều. (Về nhận xét này, tôi nghĩ rằng chỉ có thể kiểm chứng nghiêm túc khi tiến hành được một sự khảo cứu công phu về tiến trình lịch sử sự phát triển tư duy ở người Việt, điều mà bản thân tôi đã đôi lượt khởi động lên rồi vì nhiều lý do khác nhau, tạm phải gác lại).
Nhìn vào những sản phẩm đỉnh cao cuối cùng theo cách nhìn cấu trúc đồng đại hóa, sẽ thấy trong đội ngũ trí thức nhà nho Việt Nam thiếu một cách nghiêm trọng những trí tuệ lý thuyết, những xung năng sáng tạo lớn. Các tác giả Trần Văn Giàu, Trần Đình Hượu, Hà Văn Tấn và cả bản thân người viết những dòng này nữa đã nhiều lần lưu ý đến sự thiếu hụt ấy. Nói thiếu vắng hoàn toàn thì không phải, nhưng chắc chắn đội ngũ những người như vậy trong lịch sử Việt Nam khá thưa thớt, có những thế kỷ hầu như không thể tìm thấy được [2] . Ðiều đáng cảm thán không chỉ là “ Ôi thương sao những thế kỷ vắng anh hùng” như Chế Lan Viên từng thốt lên, mà cũng cả “Ôi thương sao những thế kỷ vắng thiên tài”! Nhận xét tương đối tỷ mỷ hơn cả về điều này là ý kiến của cố học giả Trần Ðình Hượu:
- “
Không có ai có hứng thú đi vào những tư tưởng triết học. Chưa có tác phẩm, tác giả chuyên về tư tưởng triết học. Những người mà ta phải tính là các nhà tư tưởng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Ðôn, Ngô Thời Nhậm, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… đều là như vậy.
Loại hình chính là những nhà hoạt động nhà nước,những người làm văn học, học thuật (chủ yếu là sử học), và thông qua hoạt động chính trị, học thuật hay nghệ thuật của mình mà đề cập những vấn đề tư tưởng. Những ông thầy khi giảng kinh, sử cũng bàn những vấn đề tư tưởng, mà nhiều khi chính những ông thầy đó lại nói tư tưởng nhiều hơn, nói nhiều nhưng là nói lại, có hay không sửa chữa chút ít.
- Ở đây chưa hình thành mối quan hệ tác động tương hỗ giữa khoa học kỹ thuật và triết học, tức là triết học làm cơ sở lý luận cho khoa học và phát triển theo sự phát triển của khoa học… Có thay đổi thì cũng chỉ là lấy, bỏ, thêm, bớt từ những cái có sẵn trong và ngoài từng hệ thống… Nhìn chung, tư duy lý luận không phát triển. Những vấn đề nhận thức, lô gich, phương pháp không được bàn bạc. Ở đây phát triển một cách tư duy thực tiễn nhằm không phải vào sự chính xác mà sự hợp lý (phải khoảng). Cái ngự trị ở trong nhiều phạm vi là một cái lí – lẽ phải thông thường. Triết học không tách khỏi tôn giáo, học thuật”. “Về căn bản, trong lịch sử chưa xảy ra một sự thay đổi đến nền móng sản xuất, tổ chức xã hội, văn hóa, học thuật. Tôi nói cả văn hóa, học thuật vì khi còn học theo, bắt chước, nói lại thì chưa gây ra tác động sâu từ khoa học sang triết học, không tạo ra cách mạng trong tư tưởng”
. [3]
Nền học vấn truyền thống theo Nho giáo ấy rốt cuộc ở lớp trên cùng chỉ đẻ ra được nhà nho – ông quan (đường quan hay học quan, võ quan có học hay văn quan, kể cả loại “văn võ kiêm bị” đi nữa thì nói gọn lại, cũng chỉ là quan). Các loại hình trí thức then chốt của một xã hội trí thức, một kết cấu của tầng lớp trí thức thực thụ như nhà kỹ thuật, nhà khoa học (hay học giả), nhà nghệ sĩ, tiếp đến là nhà tư tưởng – nhà triết học loại thì xuất hiện thưa thớt, mờ nhạt, loại thì hoàn toàn vắng bóng. Học giả lừng danh nhất trong lịch sử Việt Nam trước thế kỷ XX là Lê Quý Ðôn, người mà với tất cả sự ngưỡng mộ và lòng kính trọng cũng không thể gán cho là tác giả của bất cứ định lý, định luật hay nguyên lý, quy tắc nào, ý tưởng nào thực thụ mang tính đột phá tri thức, có lẽ danh xưng xứng đáng nhất trong việc phân loại chuyên gia khoa học thời hiện đại là nhà sưu tầm, nhà biên khảo hay nhà thư tịch học. Thật đau lòng khi phải nói lên điều này.
Nhà nho thuộc loại hình trí thức nguyên hợp. Ðó là loại trí thức điển hình cho một hình thái kinh tế – xã hội khi mà lao động trí óc chỉ mới là đặc quyền của một thiểu số rất nhỏ.Tuy so với loại quý tộc, loại người có được những đặc quyền chỉ nhờ quan hệ huyết thống với người hay với dòng họ cầm quyền thì sự xuất hiện và phát huy tác động trong xã hội là một bước tiến bộ, nhưng đến lượt họ, khi đã tự khẳng định và được khẳng định địa vị trong xã hội, trong cơ chế thì nhà nho cũng từng bước một kiến tạo đặc quyền theo lối huyết thống hóa, tạo ra không phải những cá nhân người trí thức sáng tạo, mà những “thế gia, vọng tộc, cự môn”, vừa theo mô hình quý tộc hóa, vừa theo lối đẳng cấp giữ những chức năng đặc thù. Họ không ngần ngại gì mà không khẳng định “Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao”, tự coi là người bề trên tự nhiên (và cũng thường được thừa nhận) là người đỡ đầu trực tiếp của các tầng lớp cư dân khác. Với tôn chỉ “Nhất nghệ bất tri nho giả sở sỉ” (Một nghề nào đó mà không biết thì kẻ làm nhà nho tự thấy xấu hổ), họ thường kiêm luôn công việc của nhiều loại “chuyên gia” trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí khá xa lạ đối với nhau. Người dân gọi họ là “thầy”, và ở nông thôn xưa thì nhà nho làm tất tật công việc của các thứ thầy như vậy: thầy đồ dạy học (nho), thầy thuốc chữa bệnh (y), thầy địa lý lo chuyện phong thủy (lý), thầy bói thầy tướng (số), cả chuyện làm… thầy dùi, “tư vấn” cho các bên tham gia vào các vụ kiện tụng. Vào đầu thế kỷ XX, khi tự tỉnh và lay tỉnh quốc dân, nhằm “khai dân trí, chấn dân khí”, các nhà nho duy tân đã đọc to lên tình trạng nghiệp dư quá quắt của tầng lớp mình:
Khỏi làng mắt chửa thấy xa
Lại toan mai mỉa hai nhà Khang, Lương
Ở nhà chân chửa ra đường
Lại toan ngang dọc bốn phương giang hồ
Hỏi: ”Ông tu những đường mô?
Ông rằng : “Tu những làng nho đã thừa”
Hỏi: “Ông mộ những gì ư?
Ông rằng: “Mộ những người xưa là thầy”…
Hỏi rằng : “Dây thép sao mau?”
Ông rằng : “Khí học cũng màu mà thôi”
Kìa như dây sắt, roi lôi
Nào ai bày đặt mọi ngôi cho đành?
Hỏi rằng: “Xe khí sao nhanh?”
Ông rằng: “Nghề máy cũng lành mà thôi”
Kìa như lửa ống, nước nồi
Nào ai bày xét đến nơi nhiệm màu?
Năm châu tên gọi hay đâu
Lại chê người rợ mà gào ta hoa
Mắt nhìn chính học không ra
Lại chê người bá mà nhà ta vương” [4]
-“Hỏi cụ việc thực
Thì cụ làm thinh
Hỏi trận pháp binh thư thì cụ ù ù cạc cạc
Hỏi địa dư quan chế thì cụ u u minh minh;
Cụ chẳng biết kèn sao kêu, súng sao nổ?
Cụ không hay xe sao chóng, tàu sao lanh? …
-“Khí học làm sao? Hóa học làm sao? Cụ dẫn Dịch tượng Thư trù chi Cổ đế
Cơ khí là thế, điện khí là thế, cụ rằng mộc ngưu lưu mã chi Khổng Minh
Cụ phải đeo thẻ đóng sưu, cụ muốn nước Nhật, nước Tàu sang bảo hộ
Cụ mà ngâm thơ đọc phú, cụ mong ông Chèm, ông Gióng chi phục sinh
Ai nói chuyện tân học tân văn, cụ ghét hơn người đầu thuốc độc
Ai dâng câu cổ thi cổ họa, cụ mừng hơn trẻ được cái đinh” [5]
Bộ phận hiển nho – các nhà nho hữu danh và thành đạt – cũng hầu như không có ai đủ can đảm để chỉ “đi đến cùng một con đường đã chọn”, có lẽ trừ Hải Thượng Lãn Ông. Ngay Hải Thượng Lãn Ông cũng chọn con đường trở thành một danh y vào lúc tuổi đời không còn trẻ và tình huống cơ hồ không thể khác. Nói tổng quát, mẫu trí thức nhà nho ở ta chuyên môn hóa khá muộn màng và không trở nên là đội ngũ chuyên gia thực thụ, ở hầu như bất cứ bình diện nào của lao động sáng tạo tinh thần. Trong các hoạt động nghệ thuật, chỉ thơ là có thành tựu nổi bật, nhưng không có ai, kể cả nhà thơ vĩ đại nhất trong lịch sử văn học dân tộc là Nguyễn Du, trở thành nhà thơ “chuyên nghiệp”.
Một khi hoạt động sáng tạo tinh thần, lao động trí óc chưa được chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, thì mọi hoạt động lao động khác gắn liền với các hệ thống tri thức chuyên nghiệp sẽ chỉ trở thành các loại lao động thủ công, nghiệp dư. Tình trạng đó là phổ biến từ các loại làng nghề gắn bó xa gần với hoạt động nghệ thuật cho chí các loại làng nghề sản xuất ra các sản phẩm thuần túy mang tính thương mại. “Công tượng”, gọi nôm na là thợ, xếp loại ba, sau nông dân, còn được an ủi là xếp trên loại người tiêu thụ sản phẩm cho họ, tức thương nhân, tầng lớp “dưới đáy”, bị gọi miệt thị là loại “con buôn”, ý coi ngang ngang như các loại người bị gọi là conb… gì gì khác. Việc cất giữ các bí mật nghề nghiệp thành tâm lý phổ biến không đơn thuần chỉ để giữ gìn phương tiện mưu sinh: theo ý tôi trong cách hành xử ấy còn tiềm ẩn cả tâm trạng ẩn ức, cả sự chống đối theo kiểu tiêu cực, cả niềm kiêu hãnh về những phẩm tính và kỹ năng ưu việt không được thừa nhận.
Gia nhập xã hội hiện đại theo con đường bị cưỡng bức, không hề được chuẩn bị đầy đủ về mọi phương diện để thích nghi, thiếu nghiêm trọng những kinh nghiệm và thực tế tương ứng được với xã hội hiện đại từ truyền thống, tóm lại, với tính nhược tiểu thể hiện khá “hoàn hảo”, giới trí thức Việt Nam khi trở thành “tầng lớp trí thức bản xứ” thêm một lần nữa bị chủ nghĩa thực dân vầy vò, ép ướp, hoàn toàn có chủ đích chỉ nhằm biến đổi họ thành đám vong quốc nô có chữ nghĩa. Lịch sử còn lưu lại vô số bằng chứng cả trực tiếp cả gián tiếp chứng minh cho đường lối chính trị, chính sách trí thức thuộc địa này của thực dân Pháp [6] .
Hệ quả cuối cùng của chính sách thực dân, dù những chính sách cụ thể trong từng thời kỳ nhất định có đổi thay theo hướng xoa dịu sự phản ứng của một cư dân bản địa dù sao cũng có hàng ngàn năm lịch sử đồng thời trên từng bình diện nhất định phải đáp ứng những đòi hỏi của tình hình khó khăn mà “mẫu quốc” lâm vào, vẫn cứ là một tầng lớp trí thức bản xứ với rất ít những cá nhân thực sự đạt tới trình độ tinh hoa, đội ngũ chuyên gia tuy có số lượng khá hơn nhưng không toàn diện, gắn bó quá trực tiếp với sự điều tiết từ chính quốc chứ không phải gắn bó với xã hội và nền kinh tế tại chỗ, và một lượng đông đảo nhất những trí thức cấp thấp. Chất lượng của một tầng lớp trí thức như vậy, xét trên tương quan của một sự so sánh lịch đại, nghĩa là so sánh về khả năng đáp ứng những nhu cầu phát triển trong từng thời điểm lịch sử khác nhau, chắc chắn là còn kém hơn thời kỳ tiền thực dân.
Từ sau Cách mạng tháng Tám, thân phận con người, thân phận công dân của người trí thức được đổi thay về chất. Ðại đa số những trí thức trong xã hội cũ vì thế hăng hái tham gia bằng sở học của mình vào các công việc của xã hội mới. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, tuy có quá nhiều khó khăn khách quan, một thế hệ trí thức mới đã xuất hiện, trưởng thành trong thời chống Pháp. Ðội ngũ này, tuy về số lượng không thật đông đảo,nhưng lại đặc biệt có chất lượng. Ða số những tên tuổi lớn trong các lĩnh vực khoa học- kỹ thuật và nghệ thuật thời gian qua của ta là thuộc về hoặc cơ bản là thuộc về thế hệ này. Phần lớn họ là những người ra đời trong khoảng từ 1920 đến 1932. Không phải ngẫu nhiên tôi chọn những mốc này: cho đến khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, hầu hết họ đều đã có một thời kỳ học phổ thông và có được một “lưng vốn” tri thức nói chung, tiếng Pháp hay một ngoại ngữ nói riêng đủ để tự đọc sách và tự học tiếp tục. Những người sinh trước năm 1920 nếu thành danh thì đã thành danh trước Cách mạng, mà những người sinh sau 1932 thì “không kịp” có điều kiện như vừa tính tới.
Nhưng cũng từ sau cách mạng tháng Tám xã hội Việt Nam trải qua hơn 30 năm là xã hội thời chiến hoặc bị chi phối mạnh mẽ bởi những hoàn cảnh thời chiến. Trừ một vài lĩnh vực đặc biệt, chiến tranh không phải là điều kiện dương tính cho sự phát triển của lĩnh vực lao động tri thức. Không quá khó khăn để chỉ ra các lĩnh vực đặc biệt ấy. Dù muốn dù không, tính phục vụ trực tiếp, tính ứng dụng là những yêu cầu được đặt lên hàng đầu đối với lao động của người trí thức trong hoàn cảnh ấy. Cũng khó mà tạo ra những diện mạo trí thức, những tên tuổi lớn theo lối hàng loạt trong điều kiện như vậy. Xét cho cùng, sức sản xuất các giá trị tinh thần – cả trong khoa học xã hội lẫn khoa học nhân văn, cả trong nghệ thuật, trong văn hóa đều tùy thuộc vào nền sản xuất vật chất của xã hội. Ngay cả việc phản ứng lại một thực tiễn lớn cũng đòi hỏi tiền đề là sự tồn tại của cái thực tiễn ấy đã.
Mặt khác, kể từ sau Cách mạng tháng Tám, nền khoa học non trẻ của Việt Nam nhận được sự bổ sung về nguồn tri thức từ các nước xã hội chủ nghĩa có nền khoa học tiên tiến, chủ yếu là từ Liên Xô, và mức độ khác, từ Trung Quốc. Nhưng chỉ chưa hết một khóa học từ sau 1954 thì giữa Liên Xô và Trung Quốc đã nổ ra những bất đồng. Vừa bối rối vì vấn đề phân liệt giữa các đảng cộng sản lớn cầm quyền, hết chống tệ sùng bái cá nhân lại rơi vào tình trạng phải đối phó với chủ nghĩa xét lại. Tiếp theo đó là Ðại Cách mạng văn hóa vô sản, tuy diễn ra và tác động tai hại trước hết và chủ yếu là ở Trung Quốc, nhưng không thể nói Việt Nam nằm ngoài vòng ảnh hưởng của biến cố kinh hoàng này. Một trong những đặc điểm nổi bật của cái gọi là Đại Cách mạng văn hóa này lại chính ở tính chất phản văn hóa, phản tri thức của nó. Chắc chắn rằng những cuộc “đấu tố” diễn ra trong giới khoa học Việt Nam những năm 1967 – 1970 với nhiều nạn nhân bị quy kết là chuyên môn thuần túy, thiên tài chủ nghĩa mà nhiều người trong họ hiện vẫn tại thế, không những thế, dù sao một số khá đông trong họ vẫn còn kịp có những cống hiến khoa học xuất sắc, kịp được nhận những giải thưởng khoa học cao quý như giải thưởng Hồ Chí Minh hay giải thưởng nhà nước, những cuộc “đấu tố” như vậy há chẳng là sự “cộng hưởng”, sự đồng vọng của cách mạng văn hóa sao?
Giới trí thức tinh hoa ở mọi dân tộc đều là báu vật, nói như ngôn từ được làm sống lại gần đây đối với những ý tưởng truyền thống, thì họ là “hiền tài”, tức “nguyên khí quốc gia”. Vậy nhưng nạn “chảy máu chất xám” đã là điều nguy hại, mà nạn “lãng phí chất xám”, thực tế còn khó nhận dạng hơn và khó khắc phục hơn, theo thiển ý, cũng cần nêu lên thành vấn đề lớn hiện nay. Có thể nói, ở ta mới có những người trí thức lớn, – không đông lắm mà nói thực thì cũng chưa được “lớn” lắm – nhưng chưa thể nói rằng đã có giới trí thức tinh hoa. Mà chừng nào trí thức tinh hoa chưa thành một giới, nôm na là núi không có đỉnh, thì khó lòng bàn đến “tầm” trí tuệ Việt Nam, tuy đó là điều không hiếm người thành tâm khao khát khẳng định.
2. Từ chuyện người có học đến chuyện kiến tạo một xã hội học tập
Một xã hội học tập là một xã hội mà cơ hội được học tập phải dành cho tất cả các thành viên của nó. Ngày nay trên thế giới mọi quốc gia muốn xây dựng nền kinh tế tri thức đều buộc phải coi giáo dục là cơ sở đột phá. Nhưng việc tạo ra được những điều kiện thực tế để mọi thành viên đều được học tập lại là điều tuyệt đối không dễ dàng. Bên cạnh đòi hỏi về một nguồn ngân sách nhà nước khổng lồ, một nguồn tài chính từ trong nhân dân hùng hậu, còn cần tạo ra được một cương lĩnh, một chương trình giáo dục vừa phải ưu việt vừa phải mang tính khả thi. Một xã hội học tập lại cũng là một xã hội đòi hỏi một đội ngũ cực đông đảo những người giáo dục và quản lý giáo dục có chất lượng, dù yêu cầu tự học có tăng lên đến mức tối đa chăng nữa.
Một hệ vấn đề tưởng như đã cũ nhưng do việc tìm lời giải đáp cho đến nay còn mơ hồ nên hóa ra lại thành hệ vấn đề thời sự, đó là đáp án đúng cho những câu hỏi nền tảng: ai là người cần học, học cái gì, học ở đâu, học đến đâu, học để làm gì? Ðiều lạ lùng là, theo tôi, đối với tất cả các câu hỏi này, tìm từ trong lịch sử, đều chỉ thu về được những lời đáp đáng thất vọng trên thực tế.
Trong những phẩm chất mà nhiều người muốn đề lên thành phẩm chất dân tộc, liên quan đến chuyện học hành, có đức tính hiếu học, và vì thế, truyền thống tôn sư trọng đạo. Thật đáng ngạc nhiên, người ta có thể gán một phẩm chất cho một chủ thể không có khả năng thực tế để thể hiện phẩm chất đó. Ít nhất, từ Cách mạng tháng Tám trở về trước, căn cứ vào các con số điều tra và thống kê, tuy có sai khác, nhưng dao động trong khoảng từ 95% đến 99% người Việt Nam mù chữ. Một cộng đồng với tuyệt đại đa số người không được học, không đi học, không biết chữ, làm sao xác định rằng cộng đồng đó hiếu học hay không? Tôi nêu lại vấn đề này không phải vì hiếu sự hay thích gây sự, mà nhằm tìm kiếm câu trả lời đúng cho câu hỏi đầu tiên đã nêu ở trên: Ai cần học?
Nhu cầu học tập là một loại nhu cầu thứ sinh, không phải là nhu cầu mang tính tự nhiên như những nhu cầu mà Marx đã đề cập ở con người trước khi nó xây dựng nên những cộng đồng xã hội như ăn, mặc, ở, đi lại, sinh con đẻ cái… Loại nhu cầu có tính tự giác, duy lý, mang tính định hướng mục tiêu này chỉ được thỏa mãn thật sự khi mục tiêu thật sự rõ ràng.
Như đã rõ, tuy nói rằng nhà nho từng tự đòi hỏi phải tinh thông “lục nghệ” (lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số), và với những người được ca ngợi là thông minh cái thế, thì “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” nhưng nền giáo dục Nho giáo, căn cứ vào việc khảo sát các loại đề thi ở cấp cao nhất là Ðình thí hay Ðiện thí, yêu cầu chủ yếu đối với người đỗ Tiến sĩ (kể cả đệ nhất giáp, tức đỗ đến Trạng nguyên, Bảng nhãn hay Thám hoa), cũng chỉ tập trung vào hai nội dung chủ yếu: văn chương và đạo lý. Nho giáo khởi đầu là một học thuyết đạo đức và cốt lõi của nó cho đến cùng vẫn là những nội dung đạo đức, nền giáo dục mà nó triển khai trong hàng vài nghìn năm bị trói buộc chặt chẽ vào những yêu cầu hiểu và thực hành trước hết là những nội dung đạo đức. Quanh quẩn với những “tu, tề trị, bình”, với những “hành, tàng, xuất, xử”, cả hai nội dung lớn mà một nền giáo dục lành mạnh bất kỳ nào cũng phải hướng tới là tri thức và kỹ năng lại đã chỉ được nền giáo dục Nho giáo đáp ứng một cách cực tiểu, tối thiểu. Ðối diện với chủ nghĩa thực dân, dù vững tin vào đạo lý, vào chính nghĩa của mình, nhà Nho đã phải nhanh chóng cay đắng thừa nhận “gươm nhân giáo nghĩa” không trụ nổi với “giáp bền gươm sắc”, càng không thể đương đầu có hiệu quả với “tàu thiếc tàu đồng, ngư lôi đại bác”. Sự tỉnh thức của chính các nhà nho Duy tân đầu thế kỷ XX là một tình huống thời sự kéo dài, cho đến nay lại càng ngày càng thêm cấp bách.
Nhưng tri thức, kỹ năng toàn diện và ở trình độ cao, có được là nhờ những nỗ lực cá nhân to lớn và những chi phí còn to lớn hơn, lại là điều quá ư xa xỉ trong một xã hội nông nghiệp sản xuất nhỏ. Không hình thành nổi nhu cầu học tập mạnh mẽ và đích thực một khi không / hay chưa có chỗ ứng dụng những tri thức và kỹ năng học tập được ấy. Chưa bao giờ giáo dục ở ta được hạch toán như là đầu vào (imput) của một chu trình liên tục trong nền kinh tế quốc dân, như là một tham số hữu cơ của nền kinh tế mà chỉ mới được quan niệm như là một vấn đề thuộc phúc lợi xã hội. Những năm gần đây, khi vỡ lẽ ra (chẳng lẽ mãi mà không vỡ lẽ ra cái điều tối thiểu ấy?) rằng giáo dục là động lực để cải tạo nền kinh tế, các quyết sách về giáo dục vẫn chỉ mới chuyển động ở cấp vĩ mô: không ai giải thích với chúng ta, từ ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cho đến các ông Hiệu trưởng các trường chuyên nghiệp, các bộ chuyên ngành rằng tại sao năm nay, thời gian này, từng trường một lại cần và có thể tuyển số lựợng sinh viên là như thế như thế, mà không phải là những con số khác. Các giám đốc Sở Giáo dục không thuyết trình rõ tại sao tỉnh này cần đến ngần này loại trường, ngần này loại lớp… Cho đến nay, kể cả ở các trường Ðại học lớn, vốn được tiếng, hay nói theo ngôn ngữ hành chính là đảm nhiệm chức năng “máy cái”, vẫn có lượng sinh viên tại chức đông hơn chính quy, trong khi tỷ lệ mà báo chí nêu, có đến 70 – 80% sinh viên chính quy tốt nghiệp không có việc hay làm việc không đúng chuyên môn được đào tạo.
Ta nói ta đi lên từ cây lúa củ khoai, ta xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa bằng cách “dọn tý phân rơi nhặt từng ngọn lá – mỗi hòn than, hạt thóc cân ngô – ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ” (thơ Tố Hữu), vậy gom góp bao nhiêu, bao nhiêu người gom góp, gom góp trong bao lâu để đủ kinh phí đào tạo ra một cử nhân chuyên ngành, rồi vứt ra bên lề đường “sống chết mặc bay”?
Từ thực tế nền sản xuất nhỏ mà đi lên, lao động dư thừa trong nông thôn – “nông nhàn”, mỹ tự của từ ngữ chính xác là thất nghiệp – là điều từ lâu đã có thể nhìn thấy. Nhưng đối với biển người có khả năng lao động và muốn lao động ấy, lượng nhân lực mà vào thời kỳ tích lũy tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã không từ bất cứ thủ đoạn tàn độc nào để tạo ra, để lùa gom vào các đại công trường thủ công, các xí nghiệp, nhà máy, lượng nhân lực mà ta có được một cách “tự nhiên” ấy, trong một thời gian khá lâu, ta không biết phải làm gì với họ. Một giải pháp đáng rơi nước mắt cuối cùng cũng được thực thi: xuất khẩu lao động. Ðã vài chục năm Bộ Lao động và Thương binh – Xã hội thầu công việc này, vậy mà tình hình lao động xuất khẩu vẫn tủi nhục không hơn gì giữa những năm 80 mà tôi biết.
Hình thành cho được hệ thống các trường dạy nghề đa dạng, phong phú, số lượng lớn, vừa kế thừa và phát huy được những thứ nghề truyền thống, vừa đón bắt nhu cầu của các loại ngành nghề mới của công nghiệp và dịch vụ hiện đại, khiến cho tuyệt đại đa số người lao động còn có khả năng lao động hay lớp trẻ khi nhìn vào tương lai có được sự bình thản khi nghĩ tới chỗ làm, nghĩ tới “đầu ra”, phải chăng một sự tiên lượng về những việc phải làm trong quỹ đạo này, từ trước tới nay, vốn là bất khả, và từ giờ trở đi, vẫn cứ là “chưa phải lúc”? Theo ý tôi, cái xã hội học tập mà ta mong muốn kiến tạo, cần trước hết tập trung vào đối tượng này.
Bài viết nhỏ của tôi đề nghị lưu tâm đến hai thực thể dường như ở hai vị trí nghịch đảo, là kiến tạo giới trí thức tinh hoa và thỏa mãn nhu cầu học tập, nhu cầu việc làm cho một đa số người lao động. Trên thực tế, đó là hai bộ phận lao động cùng có vai trò quyết định đến sức mạnh của bất cứ nền kinh tế nào, bản chất của bất cứ chế độ xã hội nào. Một xã hội học tập thực thụ cũng chỉ có thể được triển khai khi về cơ bản đã giải quyết được những vấn đề liên quan tới hai thực thể ấy.
Hà Nội, tháng 12/2004
Tác giả: Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Ngọc Vương, Trường đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Các công trình nghiên cứu chính: Loại hình tác giả văn học: Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 1995, 394 trang; Văn học Việt Nam – Dòng riêng giữa nguồn chung, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 1999 (Tái bản lần thứ nhất), 404 trang.
Nguồn: Bài viết vốn là một báo cáo khoa học, trình bày trong hội thảo về “Xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam” do Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật chủ trì. Bản rút gọn đã in trên tạp chí “Tia sáng”, bản đầy đủ đăng trên talawas.
[1]Tham khảo, chẳng hạn: Trần Ðình Hượu,
Ðến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hóa thông tin 1996;
Le contact colonial franco – vietnamien le premier demi-siècle (1858-1911), Nxb Université de Provence (PUP), 1999; Trịnh Văn Thảo,
Vietnam du confucianisme au communisme, Nxb Presse universitaire francaise (PUF) 1992; Nguyễn Văn Ký.
La société vietnamienne face à la modernité L’Harmattan, 1995.
[2]Tham khảo những tài liệu liên quan đến cuộc thảo luận về việc viết lịch sử tư tưởng Việt Nam. Viện Triết học, 1984.
[3]Trần Ðình Hượu , Sđd
[4]Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 -1930) Nxb Văn học Hà Nội 1976
[5]Xem chú thích 4.
[6]Các bộ lịch sử, lịch sử tư tưởng Việt Nam của cả các tác giả người Việt lẫn người Pháp đều cung cấp nhiều tàI liệu liên quan đến điều này.