trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
17.1.2005
Đỗ Xuân Phương
Thượng đế trong mắt ai!
 

Phải thú nhận rằng sau khi đọc hết bài viết của tác giả Thích Bình Thường (TBT), tôi đã khá bối rối vì những ý kiến đơn giản trong bài viết trước của mình không ngờ lại có thể bị hiểu sai đến thế. Đã biết rằng bàn về Thượng đế là chuyện không dễ dàng, một phần vì “Thượng đế” không có ngôn từ nào chính xác để diễn tả, phần khác là những khái niệm có thể trỏ đến Thượng đế thì lại không được hiểu như nhau ở tất cả mọi người, tôi phải kêu gọi sự thông cảm và chia sẻ hiểu biết của độc giả và của tác giả TBT, như tôi đã thông cảm với ý kiến phê phán của mọi ngưòi.

Lý thuyết vũ trụ học của Giáo sư Hawking có một trình bày tối quan trọng mà Quentin Smith đã phát biểu chính xác, đó là vũ trụ hữu hạn nhưng không có biên [1] (No-boundary Universe). Mô hình vũ trụ này được xây dựng dựa trên sự kết hợp ý tưởng “tổng lịch sử các quỹ đạo” (sum over histories) của Richard Feynman với thuyết tương đối tổng quát của Albert Einstein. Điều lý thú là mô hình này không có những điểm kỳ dị (Singularity), vụ nổ lớn và hố đen chỉ là những điểm bình thường trên một quả cầu có 4 chiều không gian. Vũ trụ trong mô hình này bộc lộ đặc tính tự thân tồn tại và bất sinh bất diệt, không cần dến một nguyên nhân nào có trước hay nằm ngoài vũ trụ.

Điều đáng lưu ý là lý thuyết này cũng chỉ ra vũ trụ có thể có nhiều “hình dạng” khác nhau. Nó có thể tựa như quả cầu trơn nhẵn, mà cũng có thể có bề mặt hơi nhăn nhúm như một hạt dẻ. Bằng cách tính toán như các chủ sòng bạc, Giáo sư Hawking đã cho chúng ta biết xác suất để vũ trụ có hình dạng như một hạt dẻ là rất cao (95%). Vũ trụ hạt dẻ ấy là hình ảnh song chiếu (holographic) về vũ trụ có 3 chiều không gian đối xứng và 1 chiều thời gian bất đối xứng (hay thời gian thực) mà chúng ta hằng quan niệm. Những ý kiến vũ trụ học của tác giả TBT dù rất đúng, song lại không trùng khít với cơ sở lý thuyết vũ trụ học mà Quentin Smith đã dựa vào.

Vậy thì, cùng dựa trên một lý thuyết vũ trụ học, tại sao lại có thể rút ra nhận định “vô thần” (theo Q. Smith) và “hữu thần” (theo ĐXP)? Vấn đề là ở chỗ định nghĩa thế nào là “thần”! Trong bài viết trước tôi đã nói, chỉ cần nhận Thượng đế như 100% các khả năng của vũ trụ thì hữu thần luận cũng trở nên có lý không kém gì vô thần luận. Với xác suất 95%, thì rõ ràng là vẫn có nguyên nhân nội tại để cho Thích Bình Thường và Đỗ Xuân Phương ngồi viết bài cho talawas, chứ không phải cùng chơi bóng rổ trên sao Hoả. Nguyên nhân nội tại đó, là một thế lực mà con người hay bất kỳ dạng thông minh nào khác, chỉ có thể hiểu chứ không thể chinh phục hay chiếm hữu được. Không giống như việc hiểu biết định luật vạn vật hấp dẫn có thể giúp chế tạo phi thuyền không gian, việc hiểu biết Khởi thuỷ của Vũ trụ chỉ cho phép chúng ta có đức tin và hy vọng. Lý do thì rất đơn giản vì như tác giả TBT đã viết: vũ trụ là một hệ khép kín, và cái hệ khép kín ấy chứa đựng cả loài người lẫn trí thông minh của họ; loài người không thể có bất cứ can thiệp gì vào sự sáng thế, tương tự như đứa trẻ không thể can thiệp vào việc bố mẹ đẻ ra nó.

Trên đây là phần bổ túc cho quan điểm hữu thần dựa trên lý thuyết vũ trụ học, tôi không có ý định và cũng không muốn đi sâu thảo luận về những tranh cãi giữa Q. Smith và W.L. Craig. Để trả lời cho những phê phán liên quan đến ý chí và tự do của tác giả TBT, tôi xin trích lại một lá thư của thầy Thích Nhất Hạnh mà theo tôi, đã trình bày một cách xuất sắc thế nào là “ý muốn của Thượng đế” và tự do của con người.

Cây bưởi trước nhà 

Tôi đã nói với Thiều về phương pháp quán niệm duyên khởi. Thiều cũng biết tất cả các phương pháp quán niệm trong đạo Phật đều phải được xem là phương tiện mà không phải cứu cánh hay chân lý tuyệt đối. Quán niệm duyên khởi là phá tan những biên giới giả tạo giữa các hiện tượng để thể nhập vào hòa điệu đại đồng của sự sống mà không phải xây dựng và cố chấp một triết thuyết gọi là triết thuyết duyên khởi. Herman Hesse trong cuốn “Câu chuyện dòng sông” chưa thấy được nên đã đặt vào miệng chàng Tất Đạt Đa một lời phẩm bình về triết lý duyên khởi nghe còn non nớt. Nhà văn nói rằng lý duyên khởi cho thấy hình ảnh một vũ trụ trong đó mọi vật tương quan duyên mà hiện hữu, không có một kẽ hở nào để chứng tỏ có sự sai lệch ra ngoài luật tương quan tương duyên ấy. Do đó, ông không thể quan niệm được vấn đề giải thoát trong vũ trụ này.

Trong Duy thức học, ta thấy có phép quán niệm về ba tự tánh của thực tại: Tự tánh biến kế chấp, Tự tánh y tha khởi và Tự tánh viên thành thật.

Quán duyên khởi nên theo sự hướng dẫn của Duy thức, vì quên lãng và thành kiến nên ta thường phủ lên thực tại một lớp cố chấp. Vì vậy thực tại bị mang màu sắc biến kế chấp. Biến kế chấp là cái sai lầm về thực tại, cho rằng thực tại là những thể tách biệt, những cái ngã. Đó là nguyên nhân của sự phân biệt, kỳ thị, giận hờn. Để phá biến kế chấp, người hành giả quán niệm tự tánh y tha khởi, tức là sự tương quan tương duyên của vạn hữu trong quá trình sinh thành, tồn tại và hủy diệt. Y tha khởi cần được sử dụng như một dụng cụ quán chiếu mà không được nhận thức là một triết thuyết.

Quán chiếu y tha khởi là để thực chứng thực tại, thể nhập thực tại, chứ không phải là để bị kẹt vào y tha khởi. Cũng như dùng chiếc bè để qua bờ chứ không phải để đội lên đầu, do ngón tay chỉ mặt trăng mà thấy được mặt trăng chứ không phải lầm ngón tay là mặt trăng. Hành giả coi cố chấp và y tha khởi như một hệ thống khái niệm thì sẽ bị mắc kẹt.

Vì vậy, phải có tự tánh viên thành thật. Viên thành thật là một danh từ để chỉ thực lại một khi thực tại đã được thoát khỏi màu của biến kế chấp. Viên thành thật có nghĩa là thế này: Thực tại là thực tại, siêu việt khái niệm. Bất cứ khái niệm nào cũng không thể miêu tả được nó, dù cho nó là khái niệm y tha khởi. Cho chắc hơn, Duy thức đề ra Tam Vô tánh để trung hòa Tam Tự tánh, tránh cho người học đạo không mắc kẹt vào ba tự tánh. Tinh hoa của Đại thừa là ở chỗ ấy.

Khi mà thực tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của nó thì người hành giả đạt được thứ nhận thức gọi là vô phân biệt trí. Nhận thức ở đây là sự cảm thông màu nhiệm trong đó không có sự phân biệt chủ thể và đối tượng. Như tôi đã nói với Thiều một lần rồi, đây không phải là một cái gì xa xôi đâu Thiều. Bất cứ ai trong chúng ta có thực tập chút ít đều có thể nếm được mùi vị.

Trên bàn tôi có một xấp hồ sơ cô nhi. Mỗi ngày tôi dịch một ít phụ với các bạn. Khi khởi đầu dịch một hồ sơ, tôi nhìn vào tấm hình em bé và tự nhiên những nét mặt của em gợi nhiều hình ảnh về bản thân tôi và sự liên hệ giữa tôi với các em khiến tôi đi vào một sự cảm thông rất mầu nhiệm. Bây giờ viết những dòng này, tôi thấy rằng trong giờ phút cảm thông ấy, tôi đã dịch những dòng chữ trong hồ sơ với tâm trạng không phân biệt. Tôi không thấy có tôi là người dịch hồ sơ giúp cho em bé, tôi không thấy có em bé là đối tượng của sự thương yêu và giúp đỡ. Em bé và tôi lúc ấy là một, không có ai thương ai, không có ai nhờ ai, không có ai giúp ai. Không có bổn phận cũng không có công tác, không có từ bi, không có Ba La Mật. Cái giờ phút cảm thông đó, nếu chẳng là một tia sáng của vô phân biệt trí thì còn là gì nữa hả Thiều. Khi thực tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của nó thì cây bưởi trước nhà cũng biểu hiện tự thân của nó một cách toàn vẹn. Cây bưởi lúc bấy giờ là chân như, là Phật tánh, là thực tại, là mình. Bao nhiêu người đi qua sân mà đã có mấy người thấy được cây bưởi. Người nghệ sĩ có tâm hồn thế nào đó cho nên thấy được cây bưởi nhiều hơn, sâu hơn kẻ phàm phu. Sở dĩ có một sự cảm thông nào đó vì lòng anh rộng mở. Ăn thua là ở lòng mình. Nếu lòng mình không bị kiến chấp ràng buộc thì tự nhiên mình đi vào chỗ cảm thông với cây bưởi và cây bưởi sẵn sàng biểu lộ tự thân toàn vẹn của nó với mình. Thấy cây bưởi tức là thấy đạo.

Có một Thiền sư được hỏi về chân lý mầu nhiệm của thực tại bèn chỉ ra gốc Bạch dương mà nói: “Nhìn cây Bạch dương kia kìa”. Thiều có hiểu ngụ ý của vị Thiền sư không? Có chứ phải không!” [2]

© 2005 talawas


[1]Hawking, Stephen W., A brief history of the time, bản dịch Việt ngữ, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 1996
[2]Thích Nhất Hạnh, Phép lạ của sự tỉnh thức, Nxb Lá Bối, San Jose 1976

 
© talawas 2026