Eric Hobsbawm
[1]
Một trong những nhà sử học lớn nhất của chúng ta lập luận rằng, nay chính là thời điểm thúc đẩy cái ý tưởng tươi mới lại về lịch sử và tạo ra một khối liên kết của lý trí để đáp ứng nhu cầu cấp bách đổi mới công cuộc nghiên cứu lịch sử tiến hoá của con người và các xã hội con người.
“Cho tới nay, các nhà triết học chỉ mới cắt nghĩa thế giới: mà đúng ra vấn đề phải là làm thay đổi thế giới”. Khoa học Lịch sử mác-xít đã phát triển theo hai con đường song song, tương ứng với hai phần mệnh đề nổi tiếng của Marx trong tác phẩm Luận đề về Feuerbach. Hầu hết các nhà trí thức, trong đó có những nhà sử học, những người đã trở thành môn đồ học thuyết Marx từ những năm 1880 trở lại, đều hành động như vậy bởi vì họ muốn kết hợp với các phong trào lao động và xã hội chủ nghĩa, những lực lượng nhờ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ tư tưởng Marx rồi sẽ trở thành những lực lượng chính trị đông đảo, để làm thay đổi thế giới.
Một cách tự nhiên, sự kết hợp này đã dẫn các nhà sử học nào muốn làm thay đổi thế giới hướng đến những lĩnh vực nghiên cứu nhất định, nhất là đến lịch sử con người bình thường hoặc nhân dân lao động. Mặc dù điều đó tự nhiên hấp dẫn những ai ở cánh tả, song xét từ gốc gác thì điều này chẳng có gì dính dáng đặc biệt đến cách diễn giải theo học thuyết Marx hết. Đảo lại, khi từ những năm 1890 những người trí thức ngừng không còn là những nhà cách mạng xã hội nữa, thì dường như họ cũng ngừng là những người mác-xít.
Cuộc Cách mạng xô-viết tháng Mười 1917 làm sống lại động lực này. Song, chúng ta chớ nên quên rằng, cho tới những năm 1950 hoặc lâu về sau nữa, học thuyết Marx vẫn không bị từ bỏ chính thức ở những đảng xã hội-dân chủ chủ yếu ở châu Âu. Học thuyết đó cũng tạo ra cái ta có thể gọi là Khoa Lịch sử mác-xít bắt buộc ở Liên Xô và các nước sau này nằm dưới quyền cai trị cộng sản. Thời kỳ chống phát-xít đã củng cố sự khuyến khích con người đi theo học thuyết Marx. Từ những năm 1950, động cơ này bị yếu đi tại những quốc gia phát triển – dù không nằm trong thế giới thứ ba – mặc dù sự bành trướng to lớn của giáo dục đại học và phong trào chống đối của sinh viên có tạo ra một đạo quân mới gồm đông đảo những người làm thay đổi thế giới trong đội ngũ trí thức những năm 1960. Song dù đó là những người có quan điểm triệt để, khá đông trong số họ vẫn chẳng mấy rõ ràng hoặc hoàn toàn là mác-xít.
Tới những năm 1970 thì cuộc tái trỗi dậy này lên đến đỉnh cao, sống ngắn ngủi một đoạn trước khi có cuộc phản ứng hàng loạt chống lại học thuyết Marx xảy ra chủ yếu vì những lý do chính trị. Hệ quả lớn lao của vụ này là nó tiêu diệt lòng tin vào sự thành công của một con đường đặc biệt tổ chức các xã hội con người như đã được các phân tích lịch sử tiên đoán và ủng hộ, cho dù điều này vẫn còn chiếm được lòng tin của những người theo lập trường tự do. Lịch sử đã được tách hẳn ra khỏi thần học [2] .
Xét tới những viễn cảnh bất định của các phong trào xã hội-dân chủ và xã hội-cách mạng, tôi nghĩ rằng hình như khó mà còn có nổi việc người ta đổ dồn theo học thuyết Marx với một động cơ chính trị. Nhưng ở đây chúng ta cần tránh quá sa vào chỗ chỉ nhìn vào những việc diễn ra ở phương Tây thôi. Nếu tôi phải phán xét để đáp ứng những sách lịch sử chính tôi viết ra, thì tôi muốn lưu ý rằng, học thuyết đó đã lan rộng sang Hàn Quốc từ những năm 1980, vào Thổ Nhĩ Kỳ trong những năm 1990 và cũng có những dấu hiệu là giờ đây nó đang lan rộng trong thế giới A-rập.
Đồng thời cũng nên nghĩ thêm, “cắt nghĩa thế giới” là gì kia chứ? Ở chỗ này, câu chuyện dường như khác nhau nhưng vẫn lại đi song song cùng nhau. Đó là chuyện liên quan đến phản ứng chống lại Ranke [3] trong khoa học lịch sử, song vẫn không hoàn toàn coi học thuyết Marx là nhân tố quan trọng được thừa nhận đầy đủ. Về cơ bản thì đó là một phong trào hai mặt. Nó thách thức lại niềm tin thực chứng coi cấu tạo khách quan của thực tại là cái tự nó cắt nghĩa được nó: điều hoàn toàn cần thiết chỉ là áp dụng phương pháp luận khoa học vào thực tại, giải thích vì sao các sự vật lại xảy ra theo cách thức chúng đã xảy ra và tìm thấy cái “wie es eigentlich gewesen” – “nó thực sự là như thế nào”. Với các nhà sử học, khoa học lịch sử từng bị và đang bị bám chắc vào một thực tại khách quan, cái thực tại từng xảy ra trong quá khứ. Cái thực tại đó bắt đầu không phải bằng các sự việc mà với các vấn đề, và nó đòi hỏi chúng ta xét xem theo cách nào và tại sao các vấn đề như thế – những hệ khuôn mẫu và những khái niệm – lại được phát biểu ra trong các môi trường văn hoá/xã hội và các truyền thống lịch sử khác nhau.
Đồng thời, đó là một phong trào đã làm cho lịch sử đến gần hơn với các khoa học xã hội và do đó mà biến nó thành một bộ phận của một bộ môn tổng quát hoá đủ sức cắt nghĩa những đổi thay của xã hội con người trong suốt tiến trình quá khứ. Lịch sử gần như đang trở thành điều Lawrence Stone nói là nó “đang nêu ra những câu hỏi lớn Tại Sao”. Sự quay trở lại với tính chất xã hội này đã diễn ra không phải vì những chuyện nội tại của khoa học lịch sử mà nó bắt nguồn từ các khoa học xã hội (trong đó có những bộ môn còn đang hình thành) được xây dựng thành những bộ môn mang tính chất tiến hoá, tức là mang tính lịch sử. Cho tới nay trong chừng mực Marx có thể coi như là cha đẻ của xã hội học nhận thức, học thuyết Marx chắc hẳn có đóng góp vào phong trào thứ nhất trong những phong trào này, mặc dù nó đã bị đả kích nhầm rằng nó bị coi là có tính khách quan mù quáng. Thế nhưng, tác động dễ thấy hơn cả của các tư tưởng Marx, sự nhấn mạnh vào các nhân tố xã hội và kinh tế, thì lại không phải là cái đặc trưng cho học thuyết Marx, mặc dù nó có tác dụng lớn lao đến lối phân tích mác-xít. Nó đã là một bộ phận của phong trào viết sử chung dễ thấy từ những năm 1890, cái phong trào cuối cùng sẽ tới đỉnh điểm vào những năm 1950 và 1960 – mối lợi cho những nhà sử học thế hệ của tôi, những người có cái may mắn được làm công việc đổi thay bộ môn này.
Những mối quan tâm lịch sử của hầu hết các nhà sử học theo học thuyết Marx không nhằm bao nhiêu vào hạ tầng cơ sở (kinh tế) cũng như vào mối quan hệ giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Trào lưu kinh tế-xã hội này rộng lớn hơn học thuyết Marx. Số lượng những nhà sử học thực sự đi theo học thuyết Marx bao giờ cũng tương đối ít. Tác động chủ yếu của Marx đến lịch sử là thông qua các nhà sử học và các nhà khoa học xã hội, những người đã nêu ra các câu hỏi của Marx bất kể họ có đưa hoặc không đưa ra được những câu trả lời cho ta chọn lựa. Đổi lại, khoa học lịch sử mác-xít đã tiến lên một bước so với thời Karl Kautsky và Georgi Plekhanov [4] chủ yếu là nhờ các bộ môn khác tưới bón cho (nhất là từ bộ môn nhân chủng học) và nhờ các nhà tư tưởng chịu ảnh hưởng Marx và bổ sung cho Marx chẳng hạn như Max Weber [5] .
Lịch sử đã thay đổi
Tôi nhấn mạnh vào tính chất tổng quát của trào lưu khoa học lịch sử này không phải vì tôi coi nhẹ những khác biệt trong lòng nó hoặc bên trong các thành tố tạo nên nó, như học thuyết Marx chẳng hạn. Những nhà cách tân lịch sử đều cùng đặt ra những câu hỏi đó và dấn thân vào cùng những chiến trận trí tuệ như nhau, cho dù là được gợi hứng từ khoa địa lý nhân sinh, từ xã hội học kiểu Durkheim [6] và khoa thống kê như ở Pháp (cả hai trường phái Annales và Labrousse), hoặc từ khoa xã hội học theo kiểu Weber như trường phái Historische Sozialwissenschaft ở Liên bang Đức, hoặc từ học thuyết Marx của những nhà sử học thuộc Đảng Cộng sản, những người trở thành những nhà hiện đại hoá lịch sử chuyên nghiệp ở Anh (hoặc ít ra chưa thành trường phái thì cũng ra tờ báo theo hướng này).
Tất cả bọn họ đều nhìn nhau bằng con mắt đồng minh để chống lại bệnh bảo thủ trong khoa học lịch sử, ngay cả khi họ đối địch lẫn nhau trong lập trường chính trị hoặc ý thức hệ như trường hợp Michael Postan [7] và các sinh viên mác-xít của ông. Cách diễn đạt mẫu mực của liên minh tiến bộ này là tờ báo Past & Present thành lập năm 1952 và dần có ảnh hưởng trong giới sử học. Tờ báo này thành công vì những người sáng lập mác-xít trẻ tuổi đã cố tình chối bỏ sự độc quyền ý thức hệ và những nhà cách tân trẻ thuộc các màu sắc ý thức hệ khác cũng chuẩn bị nhập vào theo họ, và hơn nữa, họ cũng biết rằng những khác biệt về chính trị và về hệ ý thức đều không trụ được trong cung cách hiệp tác. Mặt trận tiến bộ này đã đột ngột tiến lên vào hồi cuối Thế chiến II cho tới những năm 1970 và được Stone gọi là cái “dải thay đổi rộng trong bản chất phát ngôn lịch sử”. Mặt trận này kéo dài tới cuộc khủng hoảng 1985 khi có những công trình nghiên cứu từ chỗ mang tính số lượng chuyển sang chất lượng, từ lịch sử vĩ mô sang vi mô, từ phân tích cấu trúc sang mô tả, từ tính xã hội sang tính văn hoá. Từ đó, liên minh hiện đại hoá này lui về phòng ngự, ngay cả những thành phần lịch sử nghiên cứu theo định hướng tính kinh tế và tính xã hội cũng co lại.
Vào những năm 1970, dòng lịch sử chính thống đã đổi thay mạnh, nhất là dưới ảnh hưởng của cách đặt vấn đề theo lối mác-xít, và chính tôi cũng viết thế này: “Ngày nay thường khó có thể nói một tác phẩm nào đó là do một người mác-xít hoặc không mác-xít viết, trừ phi tác giả nói rõ lập trường của mình ra… Tôi những muốn rằng đến lúc nào đó sẽ chẳng có ai đặt câu hỏi tác giả nào là mác-xít hay không mác-xít nữa”. Thế nhưng qua quan sát của tôi, chúng ta còn xa mới tới được điều không tưởng đến mức ấy. Ngược lại là khác. Cái nhu cầu đòi hỏi học thuyết Marx có thể đem lại gì cho khoa học lịch sử kể từ đó lại to lớn hơn lên rất nhiều so với thời gian dài trước đó. Đó là vì lịch sử cần thiết phải tự vệ chống lại những ai không thừa nhận rằng nó có khả năng giúp con người nhận thức thế giới, và bởi vì những phát triển mới trong các khoa học đã làm thay đổi chương trình nghị sự của khoa học lịch sử.
Xét về mặt phương pháp luận, mặt phát triển tiêu cực chủ yếu là việc tạo ra một loạt những rào chắn giữa những cái đã xảy ra hoặc đang xảy ra trong lịch sử và khả năng chúng ta quan sát được và nhận thức được chúng. Như vậy là khước từ việc có cái thực tại tồn tại một cách khách quan, và người quan sát không thể tạo dựng lại được nó nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau và biến động. Như thế là cho rằng chúng ta không khi nào có thể thâm nhập xa hơn những giới hạn của ngôn ngữ, tức là những khái niệm coi là con đường duy nhất để ta nói về thế giới, kể cả về quá khứ.
Tầm nhìn này hẳn là sẽ loại trừ câu hỏi để biết xem có chăng những khuôn mẫu và những sự bất quy tắc trong lịch sử để các nhà sử học có thể đưa ra những phát ngôn có ý nghĩa. Có những nhà sử học ít tư duy bằng lý thuyết lập luận rằng tiến trình của quá khứ là gộp lại của rất nhiều điều, nên khó có thể tổng quát hoá hoặc đưa ra một sự giải thích bằng nguyên nhân, bởi vì các chọn lựa trong lịch sử là vô cùng tận. Gần như mọi cái đều có thể xảy ra hoặc đã có thể xảy ra. Hàm chứa bên trong, các lập luận này chống lại bất kỳ khoa học nào. Tôi cũng chẳng muốn làm phiền bạn đọc vì những nỗ lực tầm thường nhằm quay về cách cũ: cố sức quy tiến trình quá khứ vào tay những kẻ ra quyết định chính trị hoặc quân sự bậc cao, hoặc quy về sức mạnh đa dạng của các tư tưởng hoặc các “giá trị”, hoặc tìm cách thu gọn cách nghiên cứu lịch sử vào việc đi tìm sự đồng cảm với quá khứ, điều này cũng quan trọng đấy nhưng không đủ.
Nguy cơ trực tiếp về chính trị to lớn hơn cả đối với khoa học lịch sử ngày nay là “tính phản-phổ quát” hoặc còn diễn đạt như là «bất kể với chứng cứ nào thì chân lý của tôi cũng ngang giá trị như của bạn”. Một cách tự nhiên, điều này hấp dẫn các dạng lịch sử về bản sắc nhóm, ở đó giải pháp trung tâm của lịch sử không phải là cái đã xảy ra, mà là cách thức nó quan hệ tới những thành viên của một nhóm. Điều quan trọng đối với kiểu lịch sử này không phải là sự cắt nghĩa duy lý mà là “cái nghĩa”, không phải cái gì đã xảy ra mà là cách thức các thành viên một tập thể nhóm xác định họ trong thế đối lập với kẻ bên ngoài – về tôn giáo, tộc người, quốc gia, giới tính, lối sống hoặc cách nào đó khác nữa – cảm nghĩ về nhóm họ. Đó là sự hấp dẫn của chủ nghĩa tương đối với lịch sử bản sắc-nhóm. Vì nhiều lý do khác nhau mà 30 năm qua là thời hoàng kim của sự phát minh rộng rãi các phi chân lý và huyền thoại lịch sử sai lệch nhưng xúc động lòng người. Có những thứ đã thành nguy cơ với công chúng: tôi đang nghĩ đến những quốc gia như Ấn Độ thời gian đảng BJP [8] cầm quyền, Hoa Kỳ, nước Italia của Silvio Berlusconi, và vô số các thứ dân tộc chủ nghĩa mới lạ có hoặc không có sự tăng cường của tôn giáo toàn thống. Điều này tạo ra những chuyện vô giá trị trên những thứ hoa hoè hoa sói dân tộc chủ nghĩa khác nữa như chủ nghĩa nữ quyền, đồng tính luyến ái, da đen và các lịch sử tiểu nhóm khác, những đồng thời nó cũng kích thích một số cách làm lịch sử mới đáng chú ý trong các công trình nghiên cứu văn hoá, như loạt mới “vụ nổ hồi ức trong các công trình nghiên cứu lịch sử đương đại” theo cách gọi của Jay Winter [9] trong đó tập Les Lieux de Mémoires (Những miền ký ức) [10] là một thí dụ rõ nét nhất.
Đã đến lúc xác lập lại khối liên minh những người muốn tin vào lịch sử như là sự thăm dò duy lý vào tiến trình các đổi thay con người, chống lại những người bóp méo lịch sử một cách có hệ thống vì những mục đích chính trị – và nói rộng ra hơn nữa, chống lại cả những người theo chủ nghĩa tương đối và những người hậu hiện đại không thừa nhận khả năng này. Một khi có những người theo chủ nghĩa tương đối và hậu hiện đại tự coi mình là thuộc cánh tả, điều này có thể chia cắt các nhà sử học ra theo những cách bất ngờ về chính trị.
Tôi nghĩ rằng cách tiếp cận mác-xít là một thành tố quan trọng của công việc tái tạo dựng mặt trận lý trí này như nó từng có vào những năm 1950 và 1960. Thật vậy, sự đóng góp của chủ nghĩa Marx ngày nay có lẽ còn thích hợp hơn nữa một khi những thành phần khác của liên minh gần như đã quy hàng – thí dụ như nhóm Annales hậu Braudel và những người có cảm hứng nghiên cứu từ khoa nhân chủng học xã hội theo lối cấu trúc-chức năng. Nhân chủng học xã hội với tư cách một bô môn đã đặc biệt chịu ảnh hưởng vì cuộc chạy tứ tung theo hướng chủ nghĩa chủ quan hậu hiện đại. Trong khi chủ nghĩa hậu hiện đại khước từ khả năng nhận thức lịch sử và các nhà sử học đã thấy điều đó thật rành rành, thì những cái mới trong các khoa học tự nhiên đã đặt lại lịch sử tiến hoá nhân loại lên bàn nghị sự. Và làm được điều đó theo cả hai chiều hướng.
Kế thừa văn hoá
Trước hết, cách phân tích DNA mới đã xác lập được vững chắc hơn lịch trình tiến hoá kể từ khi xuất hiện Homo sapiens với tư cách loài, đặc biệt là lịch trình phát tán các loài từ nguồn nguyên thuỷ ở châu Phi ra toàn bộ thế giới và những hệ quả phát triển khác trước khi xuất hiện các nguồn chứng cớ ghi bằng chữ viết. Điều này một mặt cho thấy sự ngắn ngủi kinh ngạc của lịch sử con người theo các chuẩn địa chất học và cổ sinh vật học, và một mặt thủ tiêu giải pháp quy nạp theo xã hội-sinh vật học của thuyết Tân-Darwin.
Những thay đổi trong cuộc sống con người cả tập thể lẫn cá nhân trong quá khứ 10 nghìn năm, chỉ kể riêng mười thế hệ vừa rồi, thật quá to tát để có thể giải thích toàn bộ bằng cơ chế tiến hoá các gen theo thuyết Darwin [11] . Rốt cuộc cho thấy đó là sự kế thừa các đặc tính thu được qua các cơ chế văn hoá chứ không chỉ là các cơ chế di truyền. (Tôi giả định đây là ông Lamarck trả thù ông Darwin thông qua lịch sử con người. [12] ) Nhưng biết làm thế nào khi nó lại thích hợp với các ẩn ngữ sinh học – các “meme” [13] thay vì là các “gene”. Sự kế thừa văn hoá và kế thừa sinh học không hoạt động theo cùng một kiểu.
Cuộc cách mạng DNA đòi hỏi một phương pháp lịch sử đặc biệt để nghiên cứu sự tiến hoá của loài người. Cuộc cách mạng đó cũng đem lại cho chúng ta một bộ khung duy lý nghiên cứu lịch sử thế giới xem xét quả địa cầu như là đơn vị nghiên cứu lịch sử trong toàn bộ tính chất phức tạp của nó, chứ không lấy một môi trường đặc biệt nào hoặc một tiểu vùng nào trong môi trường đó ra làm đơn vị nghiên cứu. Lịch sử là sự tiếp nối cuộc tiến hoá sinh học của Homo Sapiens bằng những phương tiện khác.
Hai là, khoa sinh học tiến hoá mới loại bỏ đi sự phân biệt cứng nhắc giữa lịch sử và các khoa học tự nhiên, cái trong thập niên vừa qua đã bị yếu đi rất nhiều nhờ sự “lịch sử hoá” các khoa học đó. Luigi Cavalli-Sforza, một trong những nhà tiên phong đa bộ môn của cuộc cách mạng DNA nói về “niềm vui sướng trí tuệ khi tìm thấy vô số sự tương đồng giữa các trường nghiên cứu tản mát, trong đó theo truyền thống có những trường nghiên cứu được nằm trong hai phía văn hoá đối lập nhau: khoa học và các bộ môn nhân văn”. Nó tránh được những cuộc tranh cãi dởm về việc liệu lịch sử có phải là một khoa học hay không.
Thứ ba là, cuộc cách mạng DNA tất yếu đưa chúng ta quay về lại với cách tiếp cận cơ bản cuộc tiến hoá người đã được các nhà khảo cổ và tiền sử học đi theo, đó là nghiên cứu các phương thức tương tác giữa loài người chúng ta và môi trường của nó với sự kiểm soát ngày càng gia tăng của loài người đối với môi trường của mình. Điều đó có nghĩa là đặt những câu hỏi Marx từng đặt ra. Các “phương thức sản xuất” (hoặc bất kỳ tên gọi nào chúng ta dùng để gọi chúng), dựa trên những đổi mới chủ chốt trong công nghệ sản xuất, trong giao thông liên lạc và trong việc tổ chức xã hội – cả trong sức mạnh quân sự nữa – là những yếu tố trung tâm đối với sự tiến hoá của loài người. Như Marx đã biết rõ, những đổi mới này không tự dưng mà có. Các lực lượng vật chất và văn hoá và các mối quan hệ sản xuất không tách rời khỏi nhau. Chúng là những hoạt động của mọi con người trong các hoàn cảnh lịch sử không phải do họ tạo ra, tác động vào và ra các quyết định (“làm nên lịch sử”) nhưng chúng cũng không diễn ra trong chân không, kể cả cái chân không của một sự tính toán duy lý què quặt.
Từ đồ đá mới sang hạt nhân
Thế nhưng, những viễn cảnh lịch sử mới cũng sẽ bắt chúng ta quay trở lại với cái mục tiêu căn bản, cho dù là mục tiêu không bao giờ hoàn toàn thực thi nổi, của những con người nghiên cứu quá khứ: “lịch sử toàn bộ”. Không phải cái “lịch sử của mọi thứ”, mà là cái lịch sử của một mạng liên kết không thể phân chia trong đó mọi hoạt động của con người đều tương liên tương tác. Những người mác-xít không phải là những người duy nhất đã có đựoc mục đích đó (xin coi công trình của Fernand Braudel) nhưng họ từng là những ngưòi đeo đuổi dai dẳng nhất hạng mục đích đó, như một người trong bọn họ Pierre Vilar đã nói [14] .
Không phải điều nhỏ nhặt nhất trong các vấn đề lý thuyết nhờ đó viễn cảnh lịch sử như là sự tương tác trở thành vấn đề sống còn để nhận thức được sự tiến hoá lịch sử của Homo Sapiens. Mà đây là sự xung đột giữa một bên là các thế lực góp phần thay đổi Homo Sapiens từ thời đồ đá mới sang một nhân loại thời hạt nhân, và một bên kia là các thế lực có mục đích duy trì sự tái sinh sản bất biến và sự ổn định trong các tập đoàn người hoặc các môi trường xã hội. Phần lớn trong lịch sử, những thế lực kìm hãm sự thay đổi bao giờ cũng cản trở có hiệu quả – cho dù đôi khi cũng có ngoại lệ – vào sự thay đổi luôn luôn để ngỏ.
Ngày nay, tình trạng thăng bằng này đã hoàn toàn nghiêng về hướng khác. Và sự mất thăng bằng, cái có thể nằm ngoài khả năng hấp thụ của con người, thì hầu như cũng nằm ngoài khả năng kiểm soát của các thiết chế xã hội và chính trị của con người. Rất có thể các nhà sử học mác-xít, những người từng có cơ hội tư duy sâu xa về những hệ quả không định có và không muốn có của các dự án tập thể của con người thế kỷ 20, ít ra có thể giúp chúng ta hiểu chuyện đó đã xảy ra như thế nào.
© 2005 talawas
[1]Xem tác phẩm của Eric Hobsbawm:
Thời đại cực đoan: Lịch sử Thế kỷ 20 ngắn gọn: 1914-1991 (The Age of Extremes: The Short 20th Century: 1914-1991, Abacus xuất bản, London, 1995). Bài này trích từ Lời kết luận của ông tại cuộc Hội thảo tháng trước về Khoa học lịch sử theo học thuyết Marx tại British Academy.
[2]Học thuyết cho rằng có bằng chứng trong vũ trụ về tính mục đích hoặc là có thiết kế sẵn.
[3]Một phản ứng chống lại Leopold von Ranke (1795-1886), được coi như cha đẻ của trường phái khoa học lịch sử kinh viện thống trị trước 1914.
[4]Các nhà lý luận của phong trào dân chủ xã hội Đức và Nga đầu thế kỷ thứ 20.
[5]Nhà xã hội học Đức (1864-1920)
[6]Theo Emile Durkheim (1858-1917) một trong những người cha đẻ của xã hội học hiện đại.
[7]Michael Postan giữ ghế giáo sư lịch sử kinh tế tại Đại học Cambridge từ năm 1937.
[8]Bharatiya Janata Party (đảng BJP) cầm quyền từ 1999 đến tháng 5-2004.
[9]Giáo sư tại Đại học Yale, Hoa Kỳ và chuyên gia về lịch sử chiến tranh thế kỷ 20, đặc biệt về chủ đề các địa chỉ hồi ức.
[10]Gallimard xuất bản, Paris, Pierre Nora chủ biên, 7 tập, 1984-1992.
[11]Theo Charles Darwin (1809-1882) nhà tự nhiên học người Anh chịu trách nhiệm về lý thuyết tiến hoá các loài dựa cơ
sở trên chọn lọc tự nhiên.
[12]Jean-Baptiste Lamarck (1744-1829), nhà tự nhiên học người Pháp người đầu tiên từ chối không thừa nhận ý tưởng về
sự tồn tại thường trực của loài, coi là khả năng di truyền các đặc tính đã thu được.
[13]Theo Richard Dawkins, một nhà tân-Darwin hàng đầu, các
meme là đơn vị cơ bản của kí ức, giả định là những vectơ
truyền gửi và tồn vong văn hoá, cũng hệt như các
gen là những vectơ của tồn vong các đặc tính di truyền.
[14]Jacques Revel và Lynn Hunt chủ biên,
Histories: French Constructions of the Past, The New Press xuất bản, New York, 1995.