Eduardo Galeano
Dưới đây là diễn văn do Eduardo Galeano, nhà văn Uruguay, đọc ngày 8.5.2004 tại Paris, trong buổi lễ kỉ niệm 50 năm báo Le Monde Diplomatique. Sinh năm 1940, Galeano nổi tiếng với hai tác phẩm Memoria del fuego (Kí ức của lửa) và Las venas abiertas de América Latina (Những mạch mở tung của châu Mĩ Latinh) đã được dịch ra hai mươi thứ tiếng.
Bí ẩn
Cái gì khiến đầu lâu cười?
Ai là tác giả những chuyện bông đùa không tác giả? Ai là cái anh già bịa ra những chuyện bông đùa rồi gieo rắc chúng khắp thế giới? Lão trốn trong hang động nào? Vì sao Noah lại đem muỗi lên con tàu của mình [1] ? Có phải thánh Francesco d’Assisi [2] cũng thích muỗi?
Những bức tượng thiếu vắng có nhiều bằng những bức tượng tồn tại hay chăng?
Nếu công nghệ truyền thông mỗi ngày mỗi phát triển, cớ sao chúng ta càng ngày càng câm điếc?
Vì sao không ai, kể cả Chúa Trời, hiểu được những gì các chuyên gia truyền thông nói?
Vì sao sách vở giáo dục tình dục khiến ta mất hết ham muốn làm tình hàng năm trời?
Trong các cuộc chiến, ai bán vũ khí?
Quan điểm
1.
Theo quan điểm con cú, con dơi, người du cư hay gã ăn trộm, hoàng hôn là giờ ăn sáng.
Mưa là tai hoạ cho du khách và là tin lành cho nông dân.
Theo quan điểm dân bản địa, cái đẹp kì thú, ấy là du khách.
Theo quan điểm người da đỏ các hải đảo Carib, Cristoforo Colombo, với cái mũ gắn lông chim và cái áo choàng nhung đỏ, là một con vẹt lớn chưa từng thấy.
2.
Theo quan điểm phương Nam, mùa hè phương Bắc là mùa đông.
Theo quan điểm con sâu, một đĩa mì spaghettis là một đại tiệc.
Người Ấn Độ thấy một con bò thiêng thì kẻ khác lại thấy một cái bánh hamburger to đùng.
Theo quan điểm Hippocrates, Galenos, Maimonides và Paracelsus [3] , có một bệnh kêu là bội thực, nhưng không có bệnh nào gọi là đói.
3.
Theo quan điểm phương Đông thế giới, ngày bên phương Tây là đêm.
Ở Ấn Độ, những người chịu tang mặc đồ trắng.
Bên châu Âu thời cổ, màu đen, màu đất phì nhiêu, là màu sự sống, và màu trắng, màu xương cốt, là màu cái chết.
Cứ theo các bậc trưởng lão vùng Chocó xứ Colombia, Adam và Eve là người da đen, và cũng là người da đen hai con trai Cain và Abel của họ. Lúc Cain phang gậy giết em mình, Thượng Đế nổi trận lôi đình. Trước cơn cuồng nộ của Chúa Trời, tên sát nhân tái người vì phạm tội và kinh sợ, y tái người, tái người và thành trắng bệch cho đến khi chết. Chúng ta, người da trắng, thảy đều là con cháu của Cain.
4.
Giả như các thánh viết nên các bộ Phúc âm là các nữ thánh, thì đêm đầu tiên của kỉ nguyên Thiên chúa giáo sẽ ra sao nhỉ?
Thánh Joseph, theo lời các nữ thánh kể, không hài lòng. Chỉ có mình ông giận dỗi trong máng cỏ nơi hài đồng Jesus, sơ sinh, rạng ngời trong cái nôi rơm. Ai ai cũng tươi cười: đức Mẹ Đồng Trinh, các tiểu thiên thần, những người chăn chiên, những con dê, con bò, con lừa, các đạo sĩ đến từ phương Đông cùng ngôi sao đã đã dẫn đường cho họ tới tận Bet Lehem. Ai ai cũng tươi cười, trừ một người. Thánh Joseph, mặt sa sầm, làu nhàu:
“Tôi muốn con gái kia.”
Quyền mê sảng
Một thiên niên kỉ ra đi, một thiên niên kỉ khác tới.
Thời gian chẳng thèm biết những giới hạn chúng ta đặt ra để tin rằng nó tuân ý chúng ta; nhưng cả thế giới ăn mừng và lo sợ cái biên thuỳ đó.
Cơ hội thuận tiện cho các nhà hùng biện dông dài sôi nổi về số kiếp loài người và cho các phát ngôn nhân của cơn giận của Thượng Đế thông báo ngày tàn thế giới cùng sự tan rã toàn bộ, trong khi thời gian, nín thinh, tiếp tục ngao du xuôi theo vĩnh cửu và huyền bí.
Nói cho ngay, chẳng ai đừng được: cái ngày ấy có tuỳ tiện đến mấy, người nào cũng rạo rực tự hỏi tương lai rồi ra sao. Nhưng ai mà biết được? Chúng ta chỉ biết chắc một điều: chúng ta đã là người của thế kỉ qua rồi, và, tệ hơn nữa, của thiên niên kỉ qua rồi.
Tuy nhiên, nếu không thể đoán được thời đại sẽ ra sao, ít ra ta có quyền tưởng tượng ta muốn nó ra sao.
Vào các năm 1948 và 1976, Liên Hiệp Quốc lập ra một danh sách dài các nhân quyền; thế nhưng tuyệt đại đa số loài người chỉ được quyền thấy, nghe và nín lặng.
Hay là chúng ta bắt đầu hành xử cái quyền, chưa bao giờ tuyên cáo, cái quyền mơ mộng? Hay là chúng ta hãy mê sảng đôi lúc?
Không tưởng
Ta sẽ đưa mắt vượt qua ô nhục mà dự đoán một thế giới khả hữu khác. Một thế giới khác, ở đấy:
không khí sẽ không nhiễm bất cứ chất độc nào không phải do những kinh sợ và đam mê của loài người;
ngoài đường phố, xe sẽ bị chó cán;
người ta sẽ không bị xe lái, hay bị máy tính lập trình, hay bị siêu thị mua, hay bị truyền hình xem;
máy truyền hình sẽ thôi còn là phần tử quan trọng nhất trong gia đình, và sẽ được dùng như bàn là hay máy giặt;
người ta sẽ làm việc để sống thay vì sống để làm việc;
sẽ được đưa vào trong hình luật tội ngu xuẩn, tội những kẻ sống để chiếm hữu hay trục lợi, thay vì sống chỉ để mà sống, như chim hót mà chẳng hay mình hót và như trẻ thơ chơi mà chẳng hay mình chơi;
sẽ không còn bỏ tù những thanh niên từ khước quân dịch, mà bỏ tù những kẻ muốn đi quân dịch;
các nhà kinh tế sẽ thôi gọi mức tiêu thụ là mức sống, sẽ thôi gọi số lượng vật thể là chất lượng sống;
các đầu bếp trưởng sẽ không tin là loài tôm rồng thích thú được luộc sống;
các sử gia sẽ không tin rằng các nước hoan hỉ được xâm lăng;
các chính khách sẽ không tin là người nghèo hoan hỉ nuôi thân bằng những lời hứa hẹn;
sự trịnh trọng sẽ thôi tưởng mình là một đức hạnh, và chẳng ai sẽ để tâm đến kẻ không biết tự cười chính mình;
cái chết và tiền bạc sẽ mất đi ma lực của chúng, và thác vong hay của cải sẽ không khiến tên vô lại thành người đức hạnh;
không ai sẽ được coi là anh hùng hay là đứa ngu vì làm những gì mình cho là đúng thay vì làm những gì thuận lợi cho mình hơn cả;
thế giới sẽ thôi chiến tranh chống người nghèo khổ mà chiến tranh chống nghèo khổ, và công nghiệp vũ khí sẽ không có giải pháp nào khác hơn là tự tuyên bố phá sản;
thực phẩm sẽ không phải là hàng hoá, truyền thông sẽ không phải là thương mại, bởi thực phẩm và truyền thông là những nhân quyền;
không ai sẽ chết đói, bởi không ai sẽ chết vì bội thực;
trẻ bụi đời sẽ thôi bị xem như rác rưởi, bởi sẽ không có trẻ bụi đời;
trẻ nhà giàu sẽ thôi bị xem như tiền bạc, bởi sẽ không có trẻ nhà giàu;
giáo dục sẽ không phải là đặc quyền của những kẻ có thể trả tịền;
công an sẽ không phải là tai hoạ cho những ai không mua chuộc được họ;
công lí và tự do, song sinh nhưng buộc phải sống ngăn cách, sẽ tái hợp vai kề vai;
một phụ nữ da đen sẽ là tổng thống Brasil và một phụ nữ khác, da đen, sẽ là tổng thống Hoa Kì; một phụ nữ da đỏ sẽ điều khiển Guatemala và một phụ nữ da đỏ khác sẽ điều khiển Perú;
tại Argentina, những mẹ điên quảng trường Tháng Năm – las locas de la plaza de Mayo [4] – sẽ là một tấm gương lành mạnh tinh thần, bởi các bà đã từ khước quên vào một thời bệnh mất trí nhớ là bắt buộc;
Giáo hội Thánh thần của chúng ta sẽ chữa lại những lầm lẫn trong Luật Moshé, và điều răn thứ sáu sẽ ra lệnh mừng thân xác;
Giáo hội cũng sẽ đặt ra thêm một điều răn mà Thượng Đế đã bỏ quên: “Ngươi sẽ yêu thiên nhiên, mà ngươi là một thành phần”;
các sa mạc trên thế giới và các sa mạc trong hồn người sẽ được trồng cây lại;
những kẻ tuyệt vọng sẽ được hi vọng và những kẻ lạc lối sẽ được tìm lại, bởi chính họ tuyệt vọng vì đã quá hi vọng và lạc lối vì đã quá tìm tòi;
chúng ta sẽ là người đồng hương và là người đương thời của tất cả những ai ham muốn công lí và ham muốn cái đẹp, dù họ sinh ra nơi nào và sống ở thời nào, chẳng chút đếm xỉa đến những biên thuỳ địa dư hay thời gian;
sự toàn thiện sẽ vẫn là đặc quyền chán ngắt của các thần linh, nhưng, trong cái thế giới điên rồ và hết chữa này, mỗi đêm sẽ được sống như đấy là đêm cuối cùng và mỗi ngày sẽ được sống như thể ngày đầu tiên.
© 2004 talawas
[1]Trong Kinh Thánh của Do Thái giáo, Noah được Chúa Trời chọn là kẻ sống sót duy nhất sau cuộc đại hồng thủy. Noah đóng một con tàu đưa gia đình đi lánh nạn, lại đem theo một con đực và một con cái mỗi loài vật. (N.D)
[2]Thánh Francesco d’Assisi (1182-1226) lập ra một dòng tu, tâm nguyện với cuộc sống khổ hạnh và sự thuần khiết của giáo lí. (N.D)
[3]Bốn tên tuổi lẫy lừng của y học phương Tây. Hippocrates: Hi Lạp, 460-377 trước công nguyên, Galenos: Hi Lạp, 129-199; Maimonides: Do Thái, 1135-1204 (cũng là triết gia và nhà thần học); Paracelsus: Thuỵ Sĩ, 1493-1541. (N.D)
[4]Tướng Videla đảo chính năm 1976 và thành lập một chế độ độc tài sắt máu tại Argentina. Tháng 4/1977, mười bốn bà mẹ mặc đồ đen họp nhau tại quảng trường Tháng Năm, trước cửa dinh tổng thống, thủ đô Buenos Aires, đòi được biết tin tức con họ bị bắt mất tích. Bị buộc giải tán, các bà bèn nối hàng đi quanh quảng trường. Dù một số trong bọn cũng chịu số phận mất tích, các bà vẫn không nản lòng tranh đấu. Vì dám thách đố chế độ, các bà được dân gian gọi là các
mẹ điên. (N.D)