 |
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
|
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
|
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
|
|
|
|
|
|
|
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
|
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
|
Lịch sử
2.11.2008
Trình Ánh Hồng
|
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
|
Lịch sử
2.11.2008
Trình Ánh Hồng
|
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
|
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
|
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
|
|
|
 |
|
2.11.2004
Đỗ Kim Thêm
Lại góp ý về vấn đề dịch Jürgen Habermas qua bản dịch “Mở hướng tới Đức tin và Tri thức”
Sau khi đọc bài của ông Phạm Kỳ Đăng và bà Bùi Thị Trạc Tuyền trên mạng talawas tôi có ý kiến bổ túc như sau:
Trả lời ông Phạm Kỳ Đăng:
- Nội dung tư tưởng Jürgen Habemas
Ông có khó khăn khi tìm hiểu Jürgen Habernas là hiển nhiên, vì ai cũng gặp. Tuy nhiên, tìm hiểu tổng quát về tư tưởng tác giả là cần thiết và có thể tương đối đạt được. Để giúp ông vượt qua khó khăn mà ông đề cập, tôi có giới thiệu một tác phẩm loại nhập môn này. Dĩ nhiên không ai chờ đợi là ông học cả đời để hiểu chính xác toàn bộ tư tưởng Jürgen Habermas và từ đó ông sẽ có một bàn dịch trung thực toàn bích. Vấn đề nội dung tư tưởng này tôi không hề đặt ra để góp ý. Việc thảo luận sẽ không có lối thoát, vì chúng ta không có thẩm quyền chuyên môn để quyết định đúng sai.
- Lý thuyết thuật ngữ
Đây là công việc của các nhà ngữ học chuyên nghiệp. Họ đã viết quá nhiều, ngay trên mạng talawas cũng có, nên tôi không đặt ra. Vấn đề thuật ngữ không chuẩn mực và biến động qua thời gian, dịch giả chưa hiểu hết ý tác giả là khó khăn quen thuộc. Khi làm việc với sinh ngữ và dịch thuật ai cũng biết đến điều này. Lập luận này do đó không mới lạ. Tôi không biết về lý thuyết nên đã không góp ý. Là một ngưòi đọc bình thường tôi có những suy nghĩ đơn giản hơn: Tác giả, dịch giả và độc giả có một mối quan hệ chung là tác phẩm. Độc giả chỉ muốn hiểu tác giả nói gì trong tác phẩm qua công trình dịch thuật cuả dịch giả. Mức độ trung thực, Việt tính hay trong sáng trong dịch thuật (hay Tín, Đạt, Nhã) là một ý niệm tương đối, không ai lại khó tính quá độ đòi hỏi một dịch phẩm toàn bích, nhất là mức độ khó khăn trong nguyên bản quá cao, như ông gặp phải. Phần trả lời của ông có mấy điểm liên hệ lý thuyết dịch thuật, nên tôi thấy cần góp ý bổ túc.
- Vấn đề chú thích
Chúng ta có cách nhìn khác nhau về trình độ của độc giả. Trước một điển cố thuộc văn hoá Âu châu (thí dụ như huyền thoại La Mã hay Hy Lạp) tôi cho là nên chú giải, diễn dịch, vì nó giúp cho độc giả hiểu rõ hơn, còn ông thì cho là không. Đa số ngưòi đọc trung bình, không có khả năng hoặc thì giờ để tra cứu thêm, sẽ cám ơn và thấy thú vị hơn khi hiểu rõ nội dung. Do đó, theo tôi chú thích của dịch giả là cần thiết. Còn chú thích và diễn giải trong mức độ nào lại là một vấn đề khác. Ý kiến cũng như quyết định của ông với tư cách dịch giả tôi xin tôn trọng, nhưng điểm này không thuyết phục.
Ông cũng là một nhà lập thuyết về dịch thuật. Qua bài „Dịch lụy“ trên mạng talawas ông đã mạnh dạn đề xuất ý kiến: „Nếu người dịch hoang mang khi chuyển tải khái niệm, xin cứ mạnh bạo viết chú giải nguyên ngữ trong ngoặc đơn ở đằng sau, để người theo dõi tiện tra cứu góp ý và biết đâu tự… sờ gáy mình“. Tôi không hiểu sao ông lại không áp dụng lý thuyết đề ra ngay trên chính dịch phẩm của mình (như trường hợp ông đã mạnh dạn sáng tạo chữ “trí năng điều hoà” cho common sense, “tồn tại” và “cần tồn” cho Sein und Sollen, “tước đoạt nhân tính” cho Entpersonalisierung – đây là những ý niệm quá xa lạ trong Việt ngữ mà ông lại không chú giải nguyên ngữ). Tôi suy diễn ngược lại là ông không hề hoang mang gì khi dịch mạnh mẽ như vậy, nên ông không cần làm.
- Vai trò dịch giả
Ông cho biết khi dịch zivilisierende Rolle là “vai trò dân sự hoá” nhằm để diễn tả niềm hy vọng của riêng mình, và khi không dịch AutorschaftAutorschaft, một khái niệm về hình luật, vì ông cả sợ. Cách trả lời này không thuyết phục. Thông thường, độc giả chỉ muốn biết tác giả nói gì chứ không ai lại muốn biết hy vọng hay lo sợ của dịch giả. Ông xa rời mạch văn của tác giả, vì tự sáng tạo để diễn tả niềm hy vọng và không dịch vì lo sợ của riêng mình (hay không biết?). Tôi hoàn toàn tôn trọng những suy nghĩ cuả ông về common sense. Nhưng khác biệt của common sense là academic understanding (hiểu biết một cách khoa học) và dừng lại ở đó để đối chiếu nhau. Tiêu chuẩn để phân biệt là kiểm soát lại bằng phương thức thực nghiệm (empirische Überprüfung, systematische Nachvollziehbarkeit). Còn hy vọng của ông về vai trò dân sự hoá, tôi xin miễn bàn, vì là nỗi niềm riêng. Chuyện sư sãi Việt Nam do ông dẫn chứng không liên hệ ở đây. Do đó, mối quan hệ giữa tác giả, dịch giả và độc giả qua tác phẩm cũng là một vấn đề lý thuyết cần nên xét lại, khi ông đã tự ý đi quá xa trong thực tế.
- Sử dụng thuật ngữ
Tôi không đề ra những thuật ngữ do chính Jürgen Habermas sáng tác để thảo luận, mà là những khái niệm cơ bản, những thuật ngữ nhập môn. Xin lần nữa liệt kê: Common Sense (Xã hội học nhập môn); juristisch (Luật học nhập môn); Kognition (Tâm lý học nhập môn); Autorschaft und Zurechnungsfähigkeit (Hình Luật nhập môn); geozentrisch và anthropozentrisch (Triết học); Ansätze (Phương pháp luận); Sein und Sollen (Đạo đức học nhập môn). Tất cả các khái niệm này, bất cứ ai dù chưa đọc hoặc đọc mà không hiểu Jürgen Habermas, đều có thể tham gia thảo luận. Nếu tra cứu nghiêm túc, thì ai cũng có khả năng để nắm bắt được, từ đó hiểu rõ hơn và dịch chính xác hơn. Trả lời của ông cho thấy là ông không tra cứu lại một lần nữa trước khi trả lời. Tôi chỉ nêu lên một ví dụ để góp ý bổ túc, đó là chữ tư pháp mà ông đề cập.
Bộ tư pháp, cơ quan tư pháp và chuyển nhượng tư pháp, tuy gọi chung là tư pháp, nhưng đều có ý nghĩa khác nhau do những chức năng riêng biệt (funktionale und kontextspezifische Differenzierung der Bedeutung). Tôi xin ngắn gọn như sau:
Bộ tư pháp: Bộ chức năng của chính phủ, chuyên lo về giữ gìn pháp luật, còn gọi là chấp pháp (nhân danh pháp luật khởi tố khi có nghi ngờ phạm pháp), soạn thảo mọi thứ luật lệ (bất kể công hay tư pháp, cả hiệp ước), quản lý hình sự và tội phạm (Justizministerium: Rechtspflege + Justizverwaltung).
Cơ quan tư pháp trong ý nghĩa tam quyền phân lập, dầu gọi là tư pháp, nhưng ý nghĩa nội dung ở đây nhấn mạnh đến tính cách độc lập của tòa án trước hai cơ quan hành pháp và lập pháp và đặc biệt vai trò của án lệ và học thuyết (Die Rechtsprechende Gewalt khi xưa còn gọi là Judikative: richterliche Unanhängigkeit + gerichtliche Leitentscheidung). Ý niệm tam quyền phân lập này thuộc hệ tư tưỏng của Montesquieu, không liên hệ đến Jürgen Habermas.
“Chuyển nhượng tư pháp”: xin xem lại. Trong mạch văn của Jürgen Habermas là sự chuyển giao tài sản của giáo hội cho nhà nước, không bị chi phối bởi Privatrecht.
Ông có thể tìm thấy lời giải đáp này trong bất cứ sách vở, từ điển loại kiến thức phổ thông, cả Đức lẫn Việt. Nếu hiểu được chữ tư pháp trong từng chức năng riêng, thì câu hỏi của ông sẽ đưọc giải quyết thoả đáng. Chúng ta không bao giờ gọi ông bộ trưởng tư pháp nào đấy là Privatrechtminister, vì ông này không chỉ lo giải quyết các chuyện tranh chấp trong mối quan hệ của tư nhân với nhau (Privatrechtliche Streitigkeiten), ông còn nhiều chuyện khác phải làm. Trong trưòng hợp này tư pháp không còn tương đương với Privatrecht như ông đã mạnh bạo dịch nữa, mà là Justizminister, mặc dầu Justiz trong nghiã gốc là công lý hoặc công bình. Còn cơ quan tư pháp (Judikative, die Rechtsprechende Gewalt) trong ý nghiã tam quyền phân lập không liên hệ gì đến die juristische Bedeutung trong mạch văn của Jürgen Habermas.
Những thuật ngữ khác tôi xin miễn bàn tiếp, vì tôi đã góp ý rồi, không thể đi sâu thêm nữa.
- Kỹ thuật chuyển ngữ
Ông cho biết đã bị khiêu khích trong phần này. Tôi cũng thất vọng nhiều vì không đem lại cho ông những cảm hứng mới và thoải mái như tôi hy vọng. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi đã mạnh dạn viết thư góp ý trong một vấn đề khó khăn. Tôi tự xét mình không có văn tài để truyền đạt một cách vui tươi. Khi tôi viết “vai trò dân sự hoá là vô nghiã” (Das macht keinen Sinn), hay “nguồn gốc không ăn uống được” (Das hat mit dem Essen nichts zu tun), đây là một sự diễn đạt thông thường trong tất cả những ý nghĩa thường tình của nó, trong ngôn ngữ Đức lẫn Việt, (im üblichen Sinne, au sens ordinaire du mot), không hề “thiếu bình tĩnh dồn một lúc một dữ”, như ông đã cảm nhận khi bị khiêu khích. Tôi rất lấy làm tiếc vì không biết cách làm cho ông vui hơn, vì là lời thật đành phải mất lòng thế thôi.
Tôi tha thiết mong tiếp tục trao đổi với ông với tinh thần tương kính và chân thành xây dựng, vì có quá nhiều điều để góp ý trong chi tiết, kể cả những sai lầm cuả tôi, để chúng ta và bạn đọc cùng có cơ hội học hỏi chung. Sau nhiều suy nghĩ tôi quyết định chấm dứt vấn đề, vì hai lý do. Thứ nhất mục đích của tôi góp ý là để ông xem lại bản dịch cuả mình. Điều này ông sẽ làm, (dù không vui), như vậy mục đích cuả tôi đã đạt được (mà tôi cũng không vui). Nên việc đi sâu vào chi tiết là không còn cần thiết. Lý do thứ hai, quan trọng hơn, là thái độ trao đổi của ông làm tôi thất vọng sâu xa. Ngôn ngữ của ông sử dụng ngoài sự tưởng tượng của tôi. Tôi cũng không thể đi vào chi tiết. Nếu ông đã bị khiêu khích thì chúng ta nên dừng lại, để giữ sự tương kính. Về phần góp ý của tôi, tôi tự xem như chấm dứt ở đây. Dĩ nhiên tôi cũng xin nhường phần nhận xét lại cho các độc giả có quan tâm theo dõi vấn đề này.
Gởi Bà Bùi Thị Trạc Tuyền:
Cám ơn bà quan tâm và trao đổi những điều tôi đề ra. Đặc biệt hơn nữa bà đã tận tình bỏ công sức dọn dẹp bếp núc vô cùng bề bộn của ông Đăng bày ra, mà một mình tôi thú thật làm không xuể nổi, mà cuối cùng bà cũng phài dành bỏ dở, vì như bà xác nhận „nhiều quá, nhiều chỗ“. Thoạt đầu, tôi cũng làm theo cách của bà đã làm trong phần tái bút, liệt kê từng chỗ và phân tích để cho riêng tôi học hỏi. Tôi dự định tiếp tục phần bỏ dở của bà để gọi là giúp ông Đăng cho đến nơi đến chốn. Tôi cũng nhận được nhiều trao đổi riêng tư qua E-Mail về đề tài này, khá thú vị. Tôi cũng dự định tổng hợp nhiều ý kiến khác để chúng ta cùng học hỏi chung. Nhưng cuối cùng tôi đã quyết định chấm dứt thảo luận đề tài này, nên rất tiếc không thể đào sâu vấn đề mà chúng ta đáng lý ra cần phải tiếp tục để bổ túc cho nhau. Lần đầu trong đời góp ý, tôi đã đắm hồn mình trong thế giới tư duy của Jürgen Habermas, nô đùa trên những nẻo đường trừu tượng với những ngôn ngữ cực kỳ xa lạ và tài năng dịch thuật đầy mạnh bạo của ông Đăng và thích thú trước những chỉ dẫn uyên bác của bà, cuối cùng còn vang động trong tôi một nỗi sầu riêng rất mơ hồ “thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi“. Tôi rất mong được tiếp tục trao đổi với bà trên diễn đàn này.
© 2004 talawas
|
|