Những bài viết về chuyện dịch thuật của các tác giả W. Myuni Dịch ra tiếng Việt, của một bạn đọc nhà quê miệt Lấp Vò Ăn cơm với dưa (hấu), của Thạch Hãn Góp ý về ‘Bản dịch tệ hại’ của Trần Doãn Nho, và Diễn Ðàn Lĩnh Nam ‘Trích’ Quái: Trích dịch hay mắc dịch? đăng trên talawas trong 3 tháng qua đã đưa tôi trở về dĩ vãng xa xôi… để nhớ về chuyện dịch và chuyện mắc dịch.
Một ông bạn vong niên, người mà tôi đã hơn một lần ưu ái tặng cho cái danh hiệu là “người dịch hay nhất Nam Bán Cầu” (tất nhiên là dịch Anh-Việt, Việt-Anh mà thôi), đã có lần nói: “Chuyện dịch là chuyện khó vô cùng. Người làm công tác này phải thật giỏi, phải hiểu thật thấu cả hai ngôn ngữ mình phiên dịch mới mong chuyển đạt đến nơi đến chốn những điều người ta nói, người ta viết”.
Trong một buổi Hội thảo về phiên dịch tài liệu thông tin Y tế ở Tiểu bang New South Wales, Úc-đại-lợi cách nay gần hai thập kỉ, khi nêu ra khuyết điểm của các phiên dịch viên Nhà nước Úc-đại-lợi, ông đã không quên tự nhận xét về khả năng của mình thuở mới bước chân vào nghề:“Nếu ai tìm đâu ra được những tài liệu mà tôi đã dịch cách đây ba, bốn chục năm, và chỉ cho tôi thấy lỗi lầm mà tôi đã phạm phải, thì tôi chỉ có nước độn thổ”. Bất cứ bài vở nào ông đã dịch xong, khi có dịp đọc lại ông vẫn có thể tìm thấy đôi ba lỗi chưa vừa ý, cần sửa lại. Chỉ khi bài lên khuôn, đưa ra nhà in rồi ông mới đành chịu không sửa chữa lại thôi.
Ông cũng thường nói:“Có những trường hợp mình phải dịch sai nghĩa đi thì mới lột tả được đúng ý hoặc mới được người đọc hiểu đúng ý. Và như thế dịch là dịch ý chứ không phải là dịch từ”. Khi được yêu cầu duyệt lại một tài liệu thông tin y tế dài khoảng 5000 từ có tựa đề bằng tiếng Anh là “Infertility”, mà người đầu tiên đã dịch là “Sự mất khả năng sinh sản”, ông đã đề nghị đổi lại là “Hiếm muộn”, vì theo ông dịch như thế mới hợp với tinh thần tài liệu bài viết và văn hóa Việt Nam. Tôi nghĩ ông nói thế cũng phải thôi. Chủ đích của tài liệu mà tôi được giao phó tìm người duyệt lại là để cần phổ biến cho những người nào trong cộng đồng người Việt Nam tại Úc chậm trễ chưa có con vì một số những yếu tố nào đó. Và nếu muốn có con thì họ phải làm thêm những chuyện gì. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ đó, chứ đâu có ai quan tâm đến đọc thêm lấy kiến thức về “sự mất khả năng sinh sản” làm gì. Vả lại, theo quan niệm của Việt Nam chúng ta, ai không có con, ai mất khả năng sinh sản còn mang theo trong mình cái mặc cảm bị coi là “vô phúc”. Thành thử nếu dịch đúng nghĩa quá mà vô tình hoá ra dịch sai thì quả là việc làm “sát muối vào vết thương” cho đối tượng tài liệu. Là điều nên tránh.
Trường hợp đi tìm từ đúng ý định của bài viết mà dịch hoặc chọn đúng từ hợp với văn hoá và đã có sẵn trong tiếng Việt mà dùng, không phải lúc nào cũng dễ “xơi” như trên—“Infertility” dịch ra là “Hiếm muộn”. Ðiển hình là người bạn vong niên của tôi đã gặp những từ mà mỗi lần thấy nó, theo ông, là ông đều thấy “toát mồ hôi hột”. Từ “breakthrough” là một thí dụ. Ông nói là cứ mỗi lần gặp nó là ông lại dịch bằng một từ khác nhau, có lẽ vì chưa tìm ra được từ hợp ý.
Hôm nay, nhớ lại chuyện xưa, tôi bèn lật lại những từ điển Anh-Việt và Anh-Anh để xem cái khó nó nằm ở đâu. Tôi nhận thấy cả hai cuốn từ điển Anh-Việt: một của Nguyễn Văn Tạo xuất bản năm 1973 và một của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội xuất bản năm 1975 (cuốn này khoe có khoảng 65.000 từ) đều chỉ giảng ‘nghĩa thông thường’ của breakthrough là “sự phá thủng, xuyên qua” hoặc giảng ‘nghĩa quân sự’ của từ này là “sự chọc thủng (trận tuyến)”. Trong cuốn từ điển năm 1991 của Lê Khả Kế và một nhóm giáo viên thì lại còn tệ hơn nữa là không có liệt kê mục từ breakthrough.
Hai cuốn từ điển xuất bản cùng năm 1993 của Trung Tâm Khoa Học và Nhân Văn Quốc Gia và của Trần Kim Nở cho 2 nghĩa của breakthrough tương tự nhau, có lẽ là dịch ra từ cùng một nguồn là cuốn Oxford Learner’s Dictionary of Current English (1992) nên có nghĩa tiếng Việt na ná nhau như sau:
- hành động chọc thủng phòng tuyến quân địch.
- phát triển hoặc phát minh quan trọng, nhất là về tri thức khoa học: a major breakthrough in cancer research: một tiến bộ trong việc nghiên cứu ung thư □ a breakthrough in negotiations: một bước đột phá trong thương thuyết. (Trung Tâm Khoa Học và Nhân Văn Quốc Gia).
- Sự đột phá (hàng phòng thủ của địch).
- Bước tiến triển quan trọng (trong khoa học). a major breakthrough in cancer research: Một bước tiến triển quan trọng trong việc nghiên cứu bệnh ung thư. a breakthrough in negotiations: một bước tiến quan trọng trong việc đàm phán. (Trần Kim Nở).
Nhìn kĩ lại, ta thấy từ breakthrough ở thời điểm này đã được dịch ra từ tương đương là “sự đột phá/bước đột phá”.
Còn các từ điển Anh-Anh từ những năm 1992 đến 2002 đã định nghĩa breakthrough như sau:
BBC English Dictionary (1992): “an important development or achievement” (một tiến triển hoặc một thành quả quan trọng); Oxford American Workpower Dictionary (1999): “an important discovery or development” (một khám phá hoặc phát triển quan trọng); The Penguin English Dictionary (2002): “a sudden advance, especially in knowledge or technique” (một tiến bộ đột xuất, đặc biệt về kiến thức hoặc về kĩ thuật).
Tóm lại ta có thể nói breakthrough là “một thành quả/một khám phá/một tiến bộ quan trọng đột xuất”.
Từ điển thì thế, nhưng muốn để từ ngữ mới được dịch ra trở thành ngôn ngữ, đi vào hiện thực, thì điều kiện cần và đủ là từ ngữ đó phải có người sử dụng, và được luân lưu trong cộng đồng nói ngôn ngữ ấy, hoặc qua lời nói hoặc trên chữ viết. Ðấy là chưa kể trường hợp từ điển đi sau ngôn từ đã được sử dụng ngoài đời. Nếu tôi không lầm thì chính tôi đã được nghe hay đọc đâu đó“sự bứt phá” để diễn tả cái “breakthrough” này. Mà làm sao tránh được, một khi trong đa số các ngôn ngữ trên thế giới hàng năm đều có đến 3000 từ mới xuất hiện mà từ điển của ta cứ ít nhất 15 năm mới có một cuốn mới ra đời.
Trong cuộc hành trình vào ngôn ngữ, trên đoạn đường đi tìm cái tương đương trong phiên dịch của tôi, nói theo của Cụ Tú Xương thì quả là “… ba cái lăng nhăng nó quấy ta!”. Ðây xin hiểu là chuyện ngôn ngữ-dịch thuật. Tất nhiên, việc đời cái gì mà chẳng có cái giá phải trả. Có hưởng thì có chịu. Có sướng thì có khổ. Có được cái thú trong “sự bứt phá” thì phải chịu nhọc nhằn, đắng cay. Có vậy thôi!
Trong cuộc vật lộn với chữ và nghĩa mới đây, tôi phải đối đầu với hai từ “baby” và “boom” [1] . Hai từ này ai đã học tiếng Anh rồi mà chả biết! Nhược bằng không biết thì cứ việc giở từ điển Anh-Việt ra là xong ngay. Dễ mà! Thế nhưng, hai từ “baby” và “boom” đem kết hợp lại với nhau như trong tiếng Anh đã có là “baby boom” thì tiếng Việt ta có vấn đề. Cho đến năm 1993 chưa có từ điển Anh-Việt, Anh-Anh nào liệt kê kết-hợp-từ này. Ðể chứng minh điều này, tôi xin mời quí vị cùng tôi duyệt qua mấy cuốn từ điển song ngữ của Việt Nam ta nhé! Tưởng cũng xin nói thêm ở đây là tôi chỉ xin tập trung vào từ “boom” thôi, còn từ “baby” là “em bé, trẻ sơ sinh” thì xin miễn bàn.
- Tự Ðiển Phổ thông Anh-Việt (1973) và Tân Ðại Tự Ðiển Anh-Việt (1986), Nguyễn Văn Tạo: boom = sự tăng vọt, bạo phát; thịnh thời.
- Từ Ðiển Anh-Việt (1975), Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam: boom = (1) sự tăng vọt (giá cả); (2) sự phất (trong buôn bán); (3) sự nổi tiếng thình lình (nhờ quảng cáo rùm beng).
- Từ Ðiển Anh-Việt (1991), Lê Khả Kế và một nhóm giáo viên: boom = sự tăng vọt, bột phát; sự phất.
- Từ Ðiển Anh-Việt (1993), Trần Kim Nở cùng một số người cộng sự: boom = sự bùng nổ (giá cả, dân số); thời kỳ thịnh vượng.The oil market is enjoying a boom Thị trường dầu lửa đang thích thú với một cuộc thương mại bùng nổ của ngành. (thuộc) a boom year (for trade, exports, etc.) Năm thịnh vượng (về xuất khẩu, thương mại…)
- Từ Ðiển Anh-Việt (1993) Trung Tâm Khoa Học và Nhân Văn Quốc Gia: boom = sự gia tăng đột ngột (về dân số, thương mại v.v..); bùng nổ, tăng vọt; thời kỳ phát đạt, thời kỳ phất: The oil market is enjoying a boom: Thị trường dầu lửa đang ở thời kỳ tăng vọt.
Nhìn chung, thì từ “boom” xem ra chỉ gắn liền nghĩa với “thương mại, mậu dịch, kinh tế” và mang thêm những chuyện đó một “sự bột phát, bạo phát, phất, nối tiếng, thịnh thời, nở mày nở mặt”.
Ðể chua nghĩa cho kết-hợp-từ “baby boom”, lúc đầu tôi đã dùng phương pháp giảng nghĩa là: “thời kì trẻ em sinh ra đời nhiều hơn bình thường sau Ðệ Nhị Thế Chiến”. Ít lâu sau tôi thêm nghĩa tương đương cho từ “boom” là “nở rộ, được mùa” , bởi nghĩ rằng cái gì “phát, phất” cũng có thể là “nở rộ, được mùa”, nên tôi tạm hài lòng với cách dịch “thời kì sinh sản nở rộ” hoặc “thời kì sinh nở được mùa” [sau Ðệ Nhị Thế Chiến (khoảng từ 1946 đến 1960)].
Sau này khi tra lục thêm từ điển Anh-Anh Oxford Collocations Dictionary for Students of English (2002), Oxford University Press, tôi mới thấy định nghĩa của boom = period of sudden increase (thời kì gia tăng đột xuất). Từ điển này có cho thêm những tính từ đi chung với từ “boom” như: great (lớn); post-war (hậu chiến); consumer (người tiêu thụ), credit (tín dụng), economic (kinh tế), investment (đầu tư), spending (chi tiêu); building (xây cất), housing (gia cư), property (tài sản), oil (dầu hỏa); baby (em bé/trẻ em). Như vậy là kết-hợp-từ “baby boom” được liệt kê trong đó lần đầu tiên và có mang ý nghĩa mà tôi dịch ra là “thời kì trẻ em gia tăng đột xuất.”
Câu chuyện như thế tưởng là tạm ổn, thì bỗng một hôm mới đây, nhân đọc bài Nói chuyện hôn môi của tác giả Nguyên Nguyên trên Website Bản Tin Khoa học, thì thấy ông này tản mạn từ chuyện “hôn hít” sang chuyện “baby boom”, mà ông gọi là “thế hệ sinh sung”. Có lẽ là ông đã đem kết hợp “sinh sản sung mãn” để tạo sinh “sinh sung”. Theo tôi,“sinh sung” nghe hơi lạ, từ nào mới mà chẳng lạ tai, nhưng còn có thể chấp nhận được. Vả lại,“sinh sung” có cái lợi là về “alliteration” (sự lập lại âm đầu) ở chỗ tử âm đầu “s-” của từ “sinh” giống với tử âm đầu “s- của từ “sung” trong “sinh sung” giống như “baby boom” cả hai từ đều bắt đầu bằng âm “b-”. Nhưng nếu nói “thế hệ sinh sung” thì, theo tôi, có lẽ dùng “baby boomers” sẽ có sức thuyết phục hơn. Thông thường ‘từ mới dịch’ được người ta sử dụng nhiều thì về lâu về dài rồi ‘từ’ đó sẽ được người ta nghe quen tai, và như thế nó sẽ đi vào ngôn ngữ.
Cựu Tổng thống Bill Clinton của Mỹ, nay đang trong tình trạng thập tử nhất sinh vì phải giải phẫu tim mạch, chính là một“baby boomer”, chính là “một người thuộc thế hệ sinh sung”, “một người ra đời trong thời kì sinh sản nở rộ”, hay nói theo nhạc sĩ Phạm Duy, “một người thuộc thế hệ tan chiến tranh chồng về”, và theo ý tôi, được suy rộng ra là “một thế hệ em bé được mùa”, kết quả của chuyện “phu ‘sướng’ phụ tùy” sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Sydney, tháng 10.2004
© 2004 talawas
[1]Từ Ðiển Kết-hợp-từ Anh-Việt [English-Vietnamese Collocational Dictionary] của Trịnh Nhật (chưa xuất bản).