Phạm Kỳ Đăng
Thuật ngữ, khái niệm không phải lúc nào cũng mang nội dung bất biến
Người dịch bị động trong hiện trạng các thuật ngữ, khái niệm chưa được chuẩn hoá đến nơi đến chốn trong tiếng Việt. Rắc rối chồng chất mỗi lúc một nhiều hơn thêm khi nội hàm của nó không chịu cho gói lại trong một đơn vị chữ với nội dung bất di bất dịch. Mỗi khái niệm đều có lịch sử, lý lịch cần ghi nhận trong những bộ từ điển. Hơn nữa dưới ngòi bút của từng tác giả hoặc trong văn ý diễn đạt điều chưa gặp, nhiều khái niệm thuật ngữ tưởng như quen thuộc lóe lên những ý nghĩa riêng chưa bao giờ thấy.
Các triết gia hành văn khác người
Nếu được chọn những nhà văn yêu thích tôi sẽ không ngần ngại bình bầu vào vị trí hàng đầu thêm vài triết gia (mà bản thân mới chỉ đọc ít ít thôi). Họ là những nhà văn hành ngôn xuất chúng. Phải thừa nhận rằng, văn mạch của bài viết có sức cuốn hút mạnh, người chuyên môn với người ngoại đạo. Cách đây ba năm, nghiên cứu bài để dịch, tôi cảm nhận văn phong Habermas như chớp biển, và tùy nghi như vậy đôi chỗ hào hứng chọn từ mạnh mẽ (entpersonalisiert/tước đi nhân tính). Nay vỡ lẽ nhiều ý hơn qua những chỉ dẫn của Bùi Thị Trạc Tuyền, tôi lại nghe mạch văn Habermas vẫn sâu kín chẳng khác mưa nguồn. Bài đáp từ của tác giả này, xét ở nội dung, xét ở văn phong nữa là một đóa hoa diễm kỳ và lạ, như một đóa xương rồng trên sa mạc.
Đương nhiên những bản dịch ngang tầm xứng giá đều thỏa đáng mọi yêu cầu “tín, đạt, nhã”. Điều thừa nhận này không gây tranh luận. Riêng đòi hỏi dễ nghe và trong sáng chi phối nhiều người dịch thụ động nắn bút cho ra đời kết quả hơi khác. Trong khả năng có thể đối chiếu với nguyên tác, tôi đã từng đọc nhiều bản dịch quá đỗi hiền lành, và dĩ nhiên trong sáng. Dịch phẩm kiểu này, nếu đọc không cảnh giác, sẽ rất nịnh cái sở thích nghe đọc còn kém cỏi và ve vuốt sở học nông cạn của mình. Đọc vào lại ra, không thêm một vết nhăn trong não.
Hiểu ý triết gia qua một bài viết
Là một điều không đơn giản. Chúng ta khó tường tận khi chưa nghiên cứu những bậc tằng tổ tinh thần của các vị đó và cả hệ thống tư tưởng nuôi dưỡng họ. Mà nhất là đối với các triết gia kiến lập nên một hệ thống, và bản thân họ là một hệ thống, thì ôi thôi, muốn hiểu họ phải theo gót suốt một đời đèn sách.
Vậy làm sao tôi hiểu thấu Habermas. Tôi nào biết đường ngang ngõ tắt trong tư duy của ông. Bài viết này tham chiếu vào sự kiện 11.09, hẳn nhiên mang những suy nghĩ mới của tác giả, nhưng có lẽ tổng kết hàm súc một phần tư tưởng trong sự nghiệp trước tác của ông cũng nên. Trong một kiến trúc hẳn là vững chắc ông còn điểm những vấn đề hóc búa như kỹ thuật gien, sinh vô tính, sinh học phân tử, thử nghiệm ngôn ngữ theo hướng mô tả khách quan hóa v.v. và cả mô thức phiên dịch (ở đây: phiên dịch ý niệm của hai thế giới thế tục và tín ngưỡng thành ngôn ngữ chung).
Thế chênh vênh
Tôi đọc bài văn Habermas với sự hoài nghi hai phía. Chút hoài nghi này bao gồm sự ngờ vực mình chưa tỏ tường và ngờ cả ý Habermas rất nhiều tầng: không hiểu ở khái niệm này ông nhấn gợi ý gì đây.
Cũng bởi đặt yêu cầu phải đảm bảo khí chất Habermas, tôi tính chỉ còn cách men theo ý trước. Men theo ý chạy ngang chạy dọc, chẳng khác gì men theo cành túm lá, lá có xước cũng tạm phải chấp nhận. Mà rồi sự thể trớ trêu hơn: có những cây chính cành là lá, như loài xương rồng chẳng hạn. Vin cành mà đậu phải cành mềm lộn cổ… xuống ao có lần.
Nhận và trả lời góp ý của Đỗ Kim Thêm
Biết với lối dịch tay bo, phần lớn lấy một chọi một tạm gọi là dịch lụy, từng lạm bàn trên talawas như vậy, người dịch sẽ phơi lên giấy những lỗi không ém nhẹm được. Vậy nên bài ông Đỗ Kim Thêm (ĐKT) vừa hiện mạng tôi hồ hởi đọc với ý thức: nhận, nhận và nhận. Người dịch xin phản biện ý kiến ĐKT chút ít theo dàn bài của ông:
- Ngưòi đọc quan tâm Habermas có lẽ không cần chú thích về Januskopf (cái đầu Janus). Phân vân rằng làm như vậy xem thường độc giả chăng, tôi thêm hai chữ thành cái đầu Janus lưỡng diện nêu tính hai mặt của thời hiện đại tương ứng với cảm xúc lưỡng phân do sự thế tục hóa gây ra.
- Trong bài đáp từ Glaube, Wissen – Öffnung của mình ông Habermas dùng Commonsense (không viết tách trong nguyên tác) như khái niệm then chốt mà tránh từ Đức tương đương (chính là gesunder Menschenverstand: lý trí lành mạnh). Tôi đưa ra khái niệm “trí năng điều hòa” trong tương quan với khoa học và tôn giáo, hy vọng người đọc chịu ấn tượng sẽ dễ nhớ hơn. Và để nêu bật thêm ý chủ đạo này, như Bùi Thị Trạc Tuyền khái quát trong 7 dòng đầu ở bài Góp thêm vài ý về bản dịch Habermas (tiếp theo), người dịch sửa tiêu đề thành Mở hướng tới Đức tin và Tri thức.
Ở mục này, ông ĐKT nhắc tới động từ zivilisieren và cho hay nội dung của nó là truyền bá văn minh. Đúng thế, đoạn trước đó tôi đã dịch động từ này thành khai hóa trong câu: „Nicht in der Ursprungsgestalt des globalisierten Sicherheitsstaates, also in den Dimensionen von Polizei, Geheimdienst und jetzt eben auch Militär, sondern als weltweit zivilisierende Gestaltungsmacht./ Không ở hình thái nguyên thủy của nhà nước an ninh toàn cầu hóa, tức trong những phương diện cảnh sát tình báo và kể cả quân sự như bây giờ mà hình thái này phải mang tư cách là một quyền lực tổ chức khai hóa toàn thế giới“. Ngay sau khi vào đề với câu: “ngày hôm nay tôi lại chọn một chủ đề cũ Đức tin và Tri thức“, Habermas nhắc tới „die zivilisierende Rolle eines demokratisch aufgeklärten Common sense“. Trong văn cảnh khác cả về thời gian, tôi ngờ Habermas mô tả bước vận động của cộng đoàn tôn giáo trong nhà nước quân chủ chuyên chế, bằng cách mạng li khai giáo hội chuyển sang nhà nước quân chủ lập hiến và nhà nước pháp quyền. Cùng chịu ảnh hưởng của tinh thần Khai sáng, cộng đoàn đó đã thay da đổi thịt thành xã hội công dân. Còn như Việt Nam vào thời điểm lịch sử đó, dưới bậc quân vương lúc mời sư tăng vào làm quân sư, lúc mê kê đầu sư róc mía, tóm lại dưới ngai vị mê sảng, xã hội đó gồm ruộc thần dân. Ngày nay ở thể chế toàn trị cũng chỉ nhợt nhoà nhân dân bị trị bởi một thế lực trên công dân kèm bộ máy công an, quân đội tùy tiện ra oai, thì vai trò dân sự hóa của Common sense theo nghĩa phổ quát tính công dân, gì thì gì, vẫn là bước văn minh khai trí. Trong tiếng Việt khái niệm này có thể diễn đạt được quá trình đó hay không, và Việt Nam có thể hấp thụ tinh thần Common sense do Habermas đề xướng chuyển mình thành xã hội công dân trong quá trình thế tục hoá toàn cầu không đổ máu hay chăng? Dịch giả khi đó không chọn nghĩa khai hóa nữa mà chọn nghĩa dân sự hoá với ngấm ngầm hy vọng: đôi khi và cũng có khi!
- Người dịch hiểu die juristische Bedeutung là ý nghĩa tư pháp và cho rằng Habermas đề cập tới luật pháp được thiết chế hóa thành quyền lực nhà nước tư sản với chế độ tam quyền phân lập (lập pháp/hành pháp/tư pháp).
- Mới đầu tôi có nghĩ về cụm chữ (…) kognitiv verarbeiten hàm ý: “ở cấp độ nhận thức (…) ý thức tôn giáo phải xử lý đuợc (…). Nhưng tôi cho rằng cách nói đó liệu chưa quen với người đọc nên đã cụ thể hóa xử lý đó bằng từ „chịu đựng được cuộc gặp gỡ“.
Mà các dịch giả có thấy rằng chúng ta đều phải ra sức đối với kiểu diễn đạt này không? Tiếng Việt của chúng ta vẫn chưa phát huy được tính nội hoạt, tính tích cực để cho phép khái niệm làm chủ thể hành động.
- Tôi hiểu hai chữ geozentrisch und anthropozentrisch như ông, nhưng nghe lời ông mách bảo sẽ gắng gỏi diễn đạt lại cho rõ nghĩa.
- Thế giới sau 11.09 có lẽ vẫn „nhạy cảm về mặt đạo đức“ (chữ của Habermas) càng đòi hỏi một ngôn ngữ chung thoát khỏi mọi định kiến, nên khi chuyển những chữ Autorschaft và Zurechnungsfähigkeit, tôi cả sợ không dám liên tưởng đến cấu thành tư cách tội phạm và năng lực phạm tội (Täterschaft und Zurechnungsfähigkeit) ở bộ Luật hình mà ông ĐKT lưu ý.
- Chỗ này, tôi hiểu entpersonalisiert trong câu ông trích khác ý ông về cơ bản. Mong sao bản thân phải rèn giũa nữa để có đức quảng bác như Bùi Thị Trạc Tuyền khi nhận định rằng dịch như ĐKT như vậy e chưa lột tả hết hàm ý, tôi nán chờ mong ông cùng xem lại.
- Tựu trung phần này kích thích tôi quan tâm hơn về ngôn ngữ. Càng về cuối ông ĐKT thiếu bình tĩnh dồn mỗi lúc một dữ, do đó người „bạo hiểu“ ngôn ngữ cũng xin quyền „khiêu khích“ lại ông, thêm vui lòng độc giả vốn đã nhàm chán chuyện. Thí dụ như vai trò dân sự hóa, uống nguồn trần tục không vô nghĩa trong tiếng Việt; privatrechtlich là luật tư chứ chưa chắc là tư pháp, vì chắc chúng ta cũng không gọi ông bộ trưởng bộ tư pháp nào đấy là Privatrechtsminister; persönliche Eigenschaft không độc chiếm nội dung nhân tính, mà cũng có thể là cá tính; sich zehren không là hủy diệt, phá hoại; sich speisen không hẳn là cung ứng (dĩ nhiên trong văn cảnh); Perspektivenstruktur là cấu trúc mở hướng (tồn tại bên những cấu trúc chết và cấu trúc đóng…) và religiöse Überlieferung quyết không phải là truyền giáo. Trên cơ sở Lesart (mà dịch giả còn ngờ rằng ông Habermas nói đến văn hoá đọc nữa kia!) riêng rẽ như vậy, các câu được ông sửa chữa trong phần 2 tiếc rằng chưa được sáng tỏ.
Mải mê trong nỗ lực kham dịch bản văn này, tôi như ông, do lướt do nhấn hoặc do thiển cận đều có thể mắc lầm lỗi, không kiểu này thì kiểu kia, và đó chưa phải là điều quan trọng. Hệ trọng hơn là thái độ trung thực xây dựng cần có mà ông đôi ba lần nhắc nhở. Xin nói trước cùng độc giả rằng: người dịch không có lý do gì để lòe, để xạo bởi bản dịch đi kèm nguyên tác trên talawas. Khi đọc lại bài viết của ông ĐKT cùng đối chiếu với bản dịch, thật tiếc là tôi lại thấy trích dẫn của ông trong đoạn sau đây không hoàn toàn trung thực:
“Nhưng bức tranh này không ăn nhập gì đến (nguyên văn trong bản dịch của tôi là không ăn nhập gì với) xã hội hậu thế tục đang xoay xỏa theo sự tiếp tục (bản dịch của tôi: tiếp tục tồn tại) của những cộng đồng tôn giáo trong một xã hội không ngừng thế tục hóa. Trong bức tranh quá hẹp này, chỉ còn thấy lu mờ dần vai trò dân sự hóa của một trí năng điều hoà khai sáng dân chủ đóng vai trò phái thứ ba (bản dịch của tôi: như phái thứ ba [1] ) đang mở đường riêng (bản dịch của tôi: mở một đường riêng) cho mình giữa khoa học và tôn giáo trong muôn giọng ồn ào xung lệnh (bản dịch của tôi: hô xung lệnh) văn hóa [2] “.
Người đọc, có ở đây một từ bị bóp và mất đi bốn từ, liệu có thể cho đó là sơ suất chăng? Riêng câu trích què cụt này mà ông dùng để chẹt dịch giả „ra trò!“, không đắn đo gì, tôi xin trả lại. Dẫu sao tôi vẫn nói cám ơn.
Tạ lời góp ý của Bùi Thị Trạc Tuyền
Bùi Thị Trạc Tuyền (BTTT) nêu tình anh em chân thật luôn dành cho người dịch lòng ưu ái. Ngay từ đầu không những châm chước những sai sót cho tôi và nêu công quá mức, BTTT còn đề xuất nhiều sửa đổi xác đáng. Những chỉ dẫn quan trọng, vượt ra ngoài khuôn khổ mà BTTT khiêm nhường gọi là „bếp núc“ nhiều lắm. Tất cả được truyền đạt vui tươi, từ tốn như tiếng nói của người tôi coi quả đáng bậc thầy. Trước khi nộp độc giả bản cuối vào một ngày không xa tôi xin được nhờ BTTT hiệu đính. Tôi lĩnh hội hầu như hết thảy những ý góp thêm đặng truyền đạt hợp tình hợp lý trong niềm cảm phục và rồi còn tiếc cho mình chưa có dịp được thụ giáo nhiều nơi ông.
© 2004 talawas
[1]BTTT ở bản góp ý trước nhận thấy thấy thiếu đi chữ
gleichsam này, lúc đó BTTT chưa có bản dịch và nguyên tác của Habermas trong tay..
[2]Câu tiếng Đức (được ông ĐKT trích hoàn toàn đúng): “Dieses Bild passt nicht zu einer postsäkulären Gesellschaft, die sich auf das Fortbestehen religiöser Gemeinschaften in einer sich fortwährend säkularisierenden Gesellschaft einstellt. Ausgeblendet bleibt in diesem zu engen Bild vor allem die zivilisierende Rolle eines demokratisch aufgeklärten Commonsense, der sich im kulturkämpferischen Stimmengewirr geleichsam als dritte Partei zwischen Wissenschaft und Religion einen eigenen Weg bahnt.“