trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
7.8.2004
Nguyễn Phan Thịnh
Lịch sử và văn học
 

Lịch sử nào cũng đẫm máu và nước mắt. Các dấu mốc của lịch sử hầu hết là chiến tranh. Chiến tranh khởi đầu và chấm dứt một thời đại hay một vương triều. Hòa bình là thời hậu chiến, cũng là thời tiền chiến. Nói như Henry Miller, loài người không sợ chiến tranh; nếu họ sợ chiến tranh thì trái đất này đã hết chiến tranh từ lâu rồi. [1]

Lịch sử nào cũng có những anh hùng. Anh hùng là người không sợ chết; không sợ cái chết của riêng mình và không sợ cái chết của kẻ khác. Suy cho cùng, con người suy tôn nhưng cũng kinh sợ anh hùng; rất nhiều anh hùng cũng là kẻ ác. Anh hùng không sợ giết người. Có lẽ chỉ trong số những anh hùng vô danh mới thật sự có hành động dũng cảm từ lòng nhân ái.

Lịch sử nào cũng có bạo chúa. Dường như quyền lực luôn luôn đi đôi với bạo lực. Quyền lực càng vẻ vang bạo lực càng dữ dội. Thành Cát Tư Hãn xua quân đến đâu nơi ấy không còn ngọn cỏ. Tần Thủy Hoàng đế tiêu diệt sáu nước, đốt sách chôn sống học trò, dùng pháp trị của Lý Tư tàn sát “đầu đen” (dân chúng) như giết gà, chó. Nếu Hitler không đường cùng tự sát trong hầm kín với cô thư ký riêng Eva Braun thì chắc còn thêm mấy triệu người Do Thái vào nhà hơi ngạt. Còn nhiều thí dụ nữa…

Ðiều đáng chú ý là con người ngoài lịch sử chiến tranh còn có lịch sử tôn giáo, như trang chẵn trang lẻ của một quyển sách. Nhiều khi hai trang chẵn lẻ đắp đổi hoặc bổ túc, soi rọi lẫn nhau. Cũng có những trang tôn giáo đẫm máu và nước mắt. Cuộc Thập Tự Chinh [2] thuộc về lịch sử chiến tranh hay lịch sử tôn giáo? Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá. Phật Thích Ca, có truyền thuyết cho rằng bị đầu độc mà tịch diệt (?). Có phải đáng tiếc là đạo Gia Tô theo chân thế lực Thực dân Pháp mà truyền vào nước ta? Và ngày nay ta quen nghe qua tin thời sự: khủng bố tôn giáo, chiến sĩ Hồi Giáo, lực lượng Hồi Giáo vũ trang, đội quân thánh chiến, Taliban, Al Qaeda… Chiến tranh nóng hổi ở Iraq, xung đột đẫm máu giữa Do Thái và Palestine có yếu tố tôn giáo không? Cuộc chiến khủng bố toàn cầu đang ám ảnh cuộc sống nhân loại đến độ kinh hoàng, không tưởng tượng nổi, chẳng phải gắn chặt với tư tưởng Hồi Giáo quá khích sao?

Con người không thể sống ngoài lịch sử. Người một nước không thể sống ngoài lịch sử nước mình, cũng không thể sống ngoài lịch sử đời mình. Nhưng người ta hay nói, đời mỗi con người là ti tiểu, lịch sử đất nước mới là hệ trọng. Và người ta lại nói, cho dẫu mi là nạn nhân của lịch sử, mi phải biết quên khổ đau của riêng mình để chia chung hạnh phúc lớn lao của đất nước. Vâng, lịch sử đời người ti tiểu thật đấy, nhưng nếu chẳng phải của một nhúm người, mà là của nhiều triệu người, thì lịch sử này đâu phải của riêng đời ai?

Không phải tất cả mọi đạo lý đều tốt. Kẻ gian ác tàn bạo đều có đạo lý của chúng. Machiavelli rao giảng đạo lý cho các Quân Vương: Cứu cánh biện minh phương tiện/Tất cả những gì kết thúc tốt đều là tốt (All’s well that ends well). [3] Và suy cho cùng, không hẳn đạo lý cứu người nào cũng tốt. Chúng ta đều đã biết hình ảnh một vị thánh truyền đạo một tay cầm sách Thánh, một tay giơ cao thanh gươm. Thử tưởng tượng nếu có một người dám tát vào má ngài thì chắc kẻ đó phải là người ngài đã chọn, người của ngài, đồng chí của ngài. Chúa Jesus chỉ có hai tay không, ngài tông đồ này phải giơ kinh vung kiếm làm chi? Cũng thế, lịch sử đâu đó còn ghi lại câu: Kẻ nào không đứng chung với chúng ta dưới một bóng cờ đều là kẻ thù!

“Lịch sử là một cuộc tắm máu,” William James đã nói thế. [4] “Iliad là một bản trường ca về Diomedes và Ajax, về Sapedon và Hector đã giết như thế nào. Không một chi tiết nào về các vết thương họ gây ra lại bị bỏ sót, và câu truyện này đã nuôi dưỡng tâm trí người Hy Lạp. Lịch sử Hy Lạp là toàn cảnh của chủ nghĩa sô-vanh hiếu chiến và chủ nghĩa đế quốc – chiến tranh vì chiến tranh, mọi công dân đều là chiến sĩ. Ðọc lại thật kinh khủng, vì tính phi lý của tất cả – ngoại trừ mục đích làm “lịch sử” – lịch sử của sự phá sản hoàn toàn về các lãnh vực trí tuệ có lẽ là cực điểm mà trái đất từng chứng kiến.”

(“History is a bath of blood. The Illiad is one long recital of how Diomedes and Ajax, Sarpedon and Hector killed. No details of the wounds they made is spared us, and the Greek mind fed upon the story. Greek history is a panorama of jingoism and imperialism – war for war’s sake, all the citizens being warriors. It is horrible reading, because of the irrationality of it all – save for the purpose of making “history” – and the history is that of the utter ruin in intellectual respects perhaps the highest the earth has ever seen.” [5] )

Lịch sử là những trang kể về những anh hùng và tiểu nhân, những minh quân và bạo chúa, những quốc gia và lãnh thổ, những triều đại và chính thể, những chiến trận và âm mưu, những hội nghị và hiệp định, những thỏa ước và vi phạm, những số liệu lạnh lùng, những danh xưng vang dội… Phần nhiều lịch sử xem dân chúng như mặt bằng đương nhiên của các sự việc, nằm dưới sự việc, nhận chịu tác động của sự việc, gần như không có giá trị phản hồi nào cả. Dân chúng như một khối lượng vật thể có thể cai trị, chiếm đoạt, tàn sát, di dời, cầm cố. Dân chúng là quần chúng (mass) ngây thơ và dốt nát, là đối tượng dễ dàng của tuyên truyền, vận động, giật dây, xúi giục, dụ dỗ và dọa nạt… Cho sống thì sống, cho chết thì chết, vì dân chúng cũng có thể được xem là động vật người yếu hèn, hạ cấp (dân đen, dân ngu khu đen, con đỏ …), được sử dụng làm lực lượng hay phương tiện khi cần. Dưới con mắt “trùng nhĩ” của những bạo chúa như Tần Thủy Hoàng đế liệu có người dân không? Hỡi ôi, dân vi quý xã tắc thứ chi…

Lịch sử không có văn chương. Có lịch sử văn chương, nhưng không có văn chương lịch sử. Người làm văn chương không bao giờ là những anh hùng làm lịch sử. Văn chương khởi thủy và chung cục là tiếng nói của thân phận người, của đời riêng mỗi con người. Văn chương không phải của lịch sử như người ta cưỡng ép, văn chương là của cá nhân trong một dân chúng cụ thể trước khi là của con người khái quát. Như Cao Hành Kiện nói, “Văn chương chỉ có thể là tiếng nói của cá nhân và đã luôn luôn là thế.” [6]

Dân chúng bị cuồng lưu lịch sử cuốn phăng đi và lịch sử luôn áp đặt đóng mộc lên mặt dân chúng. Nhưng văn chương là của con người, trước hết là của con-người-cá-nhân, sau là con-người-dân-chúng và cuối cùng, con-người-nhân-loại. Không có văn chương của một chế độ, chính phủ, lãnh tụ… Không có cả văn chương của Thượng đế. Văn chương là phẩm tính và giá trị của con người, biểu hiện trung thực những nghĩ suy và cảm xúc của nhà văn sống giữa lòng dân chúng, kinh qua những vận động và biến chuyển của lịch sử. Vì thế trong những giai đoạn lịch sử hắc ám, dân chúng không có tiếng nói của những cá nhân và văn chương đích thực bị xóa sổ hoặc hóa thành trầm tích.

Sự thật là cường quyền lịch sử không o ép được văn chương. “Văn chương không phải là thứ trang điểm cho quyền thế hay món thời trang xã hội, nó có chuẩn mực giá trị riêng của mình: phẩm chất mỹ học.” Cao Hành Kiện tuyên bố, “Văn chương không nhắm các đề tài chính trị mà thuần túy là vấn đề của cá nhân. Nó là sự thỏa mãn của trí tuệ kết hợp với quán sát, chiêm nghiệm những gì đã kinh qua, những hồi ức và cảm xúc hoặc thể hiện một trạng thái tâm thức. Kẻ được mệnh danh nhà văn không là gì khác hơn một người nói hay viết, và việc anh ta được nghe hay được đọc hay không tùy thuộc vào chọn lựa của những người khác. Nhà văn không phải là một người hùng hành động theo mệnh lệnh của nhân dân, cũng không đáng được tôn thờ như một thần tượng, và chắc chắn anh ta không phải là tội phạm hay kẻ địch của nhân dân.”

“Literature is neither an embellishment for authority or a socially fashionable item, it has its own criterion of merit: its aesthetic quality….

Literature is not concerned with politics but is purely a matter of the individual. It is the gratification of the intellect together with an observation, a review of what has been experienced, reminiscence and feelings or the portrayal of a state of mind. The so-called writer is nothing more than someone speaking or writing and whether he is listened to or read is for others to choose. The writer is not a hero acting on orders from the people nor he is worthy of worship as an idol, and certainly he is not a criminal or enemy of the people.” [7]

Những đế quốc lừng lẫy nhất trong lịch sử trước sau đều tiêu vong; những đế quốc của hôm nay và của ngày mai cũng không thể khác. Chỉ nhân dân là tồn tại. Còn dân chúng, còn nhân dân, là còn tổ quốc, còn lịch sử. Văn chương, văn học chân chính, thể hiện khát vọng chân thiện mỹ của con người sống trong lịch sử đồng thời ở ngoài và vượt qua lịch sử. Chúng ta hãy xem giá trị nhân văn và mỹ học của văn chương bị đánh tráo, bôi bẩn, cưỡng hiếp, lạm dụng, chà đạp, thậm chí sát hại, như thế nào trong những xã hội không có quyền con người!

Văn chương như vậy có phải là lịch sử của đời người, đời riêng mỗi người, trong bối cảnh đời chung của các nhân vật không? Lịch sử các triều đại áp bức bằng quyền lực đúc khuôn dân chúng thành một khối thuần nhất, ngoan ngoãn, dễ dạy. Nó cấm đoán, xuyên tạc, hoặc đàn áp những phát biểu cá nhân không theo giọng điệu tập thể cò mồi. Nó dựng lên những lý tưởng lớn lao, những chiêu bài mỹ lệ cho cả quốc gia dân tộc, cho tập thể nhân dân trừu tượng. Lịch sử của chế độ không phải là tổng thể lịch sử của mỗi đời người. Nó là lịch sử của quyền lực cai trị.



Tư Mã Thiên (145-86 trước C.N.), tác giả Sử Ký, từng than, “Ôi! Viết sách làm thơ, đó là điều trong lúc cùng dùng để truyền đạt cái ý nghĩ của mình. Xưa Tây Bá bị tù ở Dĩu Lý nên diễn giải Chu Dịch; Khổng Tử gặp nạn ở đất Trần, đất Thái nên viết Xuân Thu; Khuất Nguyên bị đuổi, viết Ly Tao; Tả Khâu Minh bị mù làm Quốc Ngữ; Tôn Tẫn cụt chân bàn binh pháp; Lữ Bất Vi bị đầy sang Thục, đời truyền lại sách Lữ Lâm; Hàn Phi bị tù ở Tần làm những thiên Thuyết Nan, Cô Phẫn; ba trăm bài ở Kinh Thi phần lớn đều do thánh hiền làm ra để giãi bày các nỗi phẫn uất. Những người ấy đều vì có những điều uất ức không biểu lộ ra được, cho nên thuật lại việc xưa mà lo truyền lại đời sau.” [8] Ông làm quan chép sử, bị khép vào tội ‘coi thường vua’ (Vũ Ðế nhà Hán) phải bị thiến. Trong thư trả lời Nhâm An, ông nói lên cái chí sống còn để viết Sử Ký, “Nhưng khởi thảo chưa xong thì gặp phải cái họa này! Tiếc sách chưa xong nên chịu cực hình mà không có vẻ giận. Giá tôi đã làm xong sách ấy rồi, cất giấu nó vào nơi danh sơn, truyền cho con người của nó, phát khắp các ấp lớn, đô thị to, thì tôi cũng xin liều với cái nhục kia, dù bị giết vạn lần cũng có gì là hối hận!…Cho nên đành nổi chìm theo tục, luồn cúi theo đời để mong thỏa được cái điều điên dại này.” [9]

Văn học đích thực là của dân chúng, là cách tồn tại của dân chúng dưới ách áp bức của các cường quyền và các chủ nghĩa toàn trị. Văn chương, văn học là tiếng nói của cá nhân giữa lòng dân tộc và luôn luôn là thế. Cao Hành Kiện gọi đó là văn học lạnh, văn học ủ đông (tạm dịch cold literature). Ông giải thích, “Văn học lạnh là văn học sẽ đào thoát để tồn tại, nó là văn học từ chối bị bóp nghẹt bởi xã hội nhằm tìm kiếm sự cứu rỗi tinh thần. Nếu một dân tộc không thể dung nạp loại văn học bất vụ lợi này thì không chỉ là một bất hạnh cho nhà văn mà còn là một thảm kịch cho chính dân tộc ấy.”

(“Cold literature is literature that will flee in order to survive, it is literature that refuses to be strangled by society in its quest for spiritual salvation. If a race cannot accommodate this sort of non-utilitarian literatue it is not merely a misfortune for the writer but a tragedy for the race.”) [10]

Dân chúng nào cũng biết ơn những trang lịch sử vẻ vang của tổ quốc. Nhưng lịch sử sang trang còn dân chúng tồn tại mãi. Những trang sách của dân chúng là văn chương, văn học đích thực của con người ở bên cạnh và bên ngoài những trang lịch sử của anh hùng và tiểu nhân, những người chiến thắng và những kẻ chiến bại… Lịch sử chỉ là bối cảnh không gian và thời gian của xã hội, anh hùng và tiểu nhân chỉ trở thành các nhân vật trong văn học của nhân dân mà thôi. Trong tự tại cô đơn và tỉnh thức chân thực, nhà văn viết như cất lên tiếng nói con người, kinh qua mọi tồn vong vinh quang lẫn nghiệt ngã của lịch sử, triều đại, văn minh của dân tộc mình và của cả nhân loại. Văn chương là tuyệt đích của mỹ học, là phẩm tính và giá trị của con người trên mặt đất.

4/2004

© 2004 talawas


[1]Henry Miller, The Wisdom of the Heart, ND Paperbook, NY 1960, tr. 96: “As we see whenever a war breaks out, the fear of war is overcome the moment one is really in it. If war were really as terrible as people imagine it to be it would have been wiped out long ago.” (Như chúng ta thấy,††††††† một cuộc chiến tranh bùng nổ, nỗi sợ hãi chiến tranh bị lấn át ngay khi con người thật sự bị ném vào. Nếu chiến tranh quả thật khủng khiếp như người ta tưởng tượng thì nó đã bị quét sạch từ lâu rồi.)
[2]Chiến Tranh Thập Tự Giá (The Crusades) là những cuộc viễn chinh của Châu Âu Thiên Chúa Giáo từ t.k. 11 dến 13 nhằm chiếm lại Ðất Thánh Jerusalem khỏi các thế lực Ả Rập và Ðạo Hồi.
[3]Machiavelli (1469-1527), tác giả The Prince (1513), chủ thuyết chính trị chiếm đọat bá quyền bất chấp thủ đọan gian ác.
[4]William James (1842-1910), triết gia Mỹ, một trong những người sáng lập chủ nghĩa thực dụng (pragmatism) – một phong trào triết học chủ trương ý tưởng và lý thuyết phải được kiểm chứng qua thực hành để đặt định giá trị. Về tâm lý học, ông nêu lên ý niệm về “dòng ý thức” (stream of conciousness) rất có ảnh hưởng trong triết học và văn học. Nội dung trích dẫn trong bài lấy từ The Moral Equivalent of War, do The Association for International Conciliation xuất bản năm1910.
[5]nt.
[6]Gao Xingjan (Cao Hành Kiện), Nhà văn Trung Quốc, quốc tịch Pháp, giải Nobel Văn Học năm 2000. Mấy câu trích dẫn lấy từ The Case for Literature, diễn văn tác giả đọc trong lễ nhận giải.
[7]nt.
[8]Sử Ký Tư Mã Thiên, Nhữ Thành dịch, nxb.Văn Học, Hà Nội 1988, tr.29.
[9]Sđd; tr.39.
[10]Xem chú thích 6 và 7.

 
© talawas 2026