Thương người, ừ… thương cái con khỉ!
Hà Nội trời rét hại. Lác đác trên đường thủ đô những cây bàng nổi vai u như tấm lưng người nông dân Việt Nam, giơ cành trụi lá lên trời tựa những bàn tay xương xẩu che gió lạnh. Chúng cứ lùi dần… lùi dần mãi vào ngõ hẻm nhỏ, nhường chỗ cho những cao ốc, khách sạn năm sao của các bậc đế vương để thu mình lại làm chỗ nghỉ chân cho những người dân quê của chợ lao động. Hôm nay dưới một trong những gốc bàng đó, tôi gặp một bà già nặng trĩu trên vai hai bu gà rù. Bà mệt mỏi ngồi bệt xuống bên gốc bàng thân thương ấy mà dáng dấp cũng nghiệt ngã như chính số phận của bà. Bà tìm mấy tờ báo cũ, dăm cành củi khô nhóm lên một ngọn lửa sưởi ấm cho mấy con gà đang rúc mỏ vào nhau.
Đàn gà như cảm thương với số phận của chủ, “ra đi không đành”, thỉnh thoảng lại “tóoc” lên một tiếng rồi mở bừng mắt dậy. Gió vẫn từng cơn, từng cơn lay xào xạc và tàn nhẫn, thúc cho dãy bàng trút sạch hết những chiếc lá cuối cùng mới thôi. Mầm non của bàng thì chưa kịp nhú.
Cả đất nước Việt Nam đang trong cơn dịch cúm gà. Người nông dân vừa vét những hạt thóc giống cuối cùng cho nương mạ chết rét, nay đàn gà cũng lại ra đi nốt. “Tết là của nhà giàu”, câu nói xưa, nay ta càng thấm thía. Hàng chục siêu thị thủ đô người vào, kẻ ra tấp nập. Họ chọn những táo Mỹ, cá hồi châu Âu mà bỏ lại gánh rau, bu gà… lang thang, lếch thếch khắp chợ Long Biên, Cầu Giấy… Những bà già, đố ai có thể đếm nổi nếp nhăn hằn sâu trên má, đang hối hả chạy công an, anh quản lý thị trường, tản vào khắp ngõ phố. Đâu đâu họ cũng bị xa lánh như là ma dịch. Mà ma dịch thật. Vốn liếng của họ cuối năm chỉ trông vào đàn gà và vườn rau. Đó là nguồn chi trả cho manh áo Tết của đàn cháu, hàng triệu đồng tiền học cho con, mỗi lần về Tết hay chính là về để xin tiền mẹ trả tiền khất trọ và tiền nộp cho thầy?
Tôi đi lang thang dọc phố Kim Mã, tay giữ túi, chỉ có hơn hai trăm ngàn đồng. Đó là gần một phần tư suất lương hưu anh công chức trung lưu như tôi, được vợ giao cho đi sắm Tết. Mặc
dù đã được vợ dặn là năm nay không mua gà nhưng với tính hiếu kỳ, tôi rẽ vào hẻm chợ Cầu Giấy. Đâu đâu cũng chỉ thấy gà rù với những cái mồng xám ngắt như những cặp môi cắn trầu sần sùi nứt nẻ của người bán, tái tê trong gió rét. Với lòng trắc ẩn, tôi chăm chú nhìn một bà già ngồi dưới gốc bàng đầu ngõ. Đắn đo, thương cảm, nhưng vẫn cứ sợ không dám mua. Vì hôm Tết ông Táo, vợ tôi đã mua phải một con chờ sáng hôm sau giết thì đêm lăn quay ra chết. Tôi phải vội vàng túm vào nilông đưa ra xe rác ngay, sau đó không quên rưới cồn đốt sát trùng chỗ nhốt…
Nỗi lo âu đi liền với suy nghĩ “sống chết mặc bay” khiến tôi không dám dừng lâu ở chỗ bán gà. Tôi chen chân vào siêu thị Marko…
… Chiều đã tối mịt, tôi hớn hở cầm một cân giò bò cùng các thứ chả giò, tôm sú… về lại qua chợ Cầu Giấy. Chiếc xe công an giữ trật tự và mấy người dẹp chợ đã về hết. Nhưng bà già vẫn ngồi đó, cạnh gốc bàng, đống lửa đã tàn tự bao giờ. Nhìn vào bu gà, tôi thấy vẫn còn nguyên trên một chục con mà xem ra con nào bệnh cũng đã trầm trọng. Chúng nằm gục xuống, mặc cho bà vừa xoa vừa nắn, xách lên mời chào.
Tôi e ngại cất tiếng:
- Tết này người Hà Nội không dám ăn gà cụ ạ.Tối rồi, cụ về đi kẻo lạnh!
- Nhà già ở Mỗ, gần đây thôi mà! Chờ lát nữa… may ra đưa đến đến hàng phở còn kiếm được ít chục. Chú mua giúp tôi một con đi. Gà còn tươi đây! Mà đài nói gà rù nhưng nấu chín ăn thì có can chi!
Tôi sờ túi, tiền đã hết nhẵn. Tôi chua xót nhìn cây bàng xương xẩu, nhìn bầu trời tái ngắt, nhìn bà cụ. Rồi tôi tự vấn và xỉ vả mình: -Mày cũng là hạng đạo đức giả. Sao lúc nãy trong túi mày có mấy trăm mà mày không dám bỏ ra mấy chục mua cho cụ một con? Cho dù mày có cho vào xe rác thì chắc gì đã lây bệnh cúm gà? Thôi chẳng qua lòng thương người của mày cũng chỉ là “thương người, ừ… thương cái con khỉ!”.