Còn trước cả Pháp, Đức đã từ chối không tham gia tấn công Iraq bằng quân sự trong bất kỳ điều kiện nào. Mark Lilla, giáo sư thuộc ban Tư duy Xã hội trường Đại học Chicago, coi thái độ này là một hậu quả của trương trình cải tạo do Mỹ thực hiện sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Cách đây đúng một năm tôi có dịp ngồi nói chuyện với một giáo sư người Đức đến thăm truờng chúng tôi; chỉ sau ít phút là điều gần như không tránh khỏi đã xảy ra: chúng tôi tranh luận về hậu quả của ngày 11 tháng 9. Khách của tôi tuổi đã hơn 70, xuất thân từ một gia đình trí thức có tiếng, và tôi nhận thấy là ông có ý định chia sẻ với tôi toàn bộ cái kinh nghiệm giàu có về lịch sử mà bản thân ông đã trải qua. Chúng tôi đi từ vụ khủng bố ở New York đến tình hình ở Trung Đông, đến Hiệp nghị Kyoto và Toà án Quốc tế – tất cả đều là những chủ đề vào lúc đó đang nóng hổi. Cuối cùng thì khách của tôi cũng nói ra những lời đã nằm ở đầu lưỡi ông từ lúc ngồi vào bàn: “Ông không thấy rằng những lời phê bình nước Mỹ của Đức chính là những lời phê bình của Mỹ hay sao”, ông hỏi tôi, “chính người Mỹ đã dạy chúng tôi tất cả những gì chúng tôi biết về dân chủ – về sự cần thiết của việc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chống chủ nghĩa dân tộc, về ý nghĩa của những tổ chức quốc tế và của trách nhiệm trước pháp luật, về sự điên rồ của chủ nghĩa quân sự. Những thứ đó đã được chính các ông giảng dạy tại các truờng học sau Thế chiến, và các ông đúng. Bây giờ chúng tôi chỉ mong ở các ông mỗi một điều là các ông hãy xử sự sao cho đúng với những lý tưởng của mình”.
Vì đã từng sống ở Đức, tôi không lạ gì cái lý luận này. Nhưng cuộc nói chuyện hôm đó đã khiến tôi phải suy nghĩ một thời gian dài. Vì vị giáo sư khả kính ấy đã không làm cái việc đơn giản mà lứa trẻ ở Đức thường làm là lôi nước Mỹ vào màn kịch tâm lý của thế hệ Đức trong và sau chiến tranh; bản thân ông đã từng trải qua chương trình cải tạo của người Mỹ và giờ đây rõ ràng là bị thất vọng về một quốc gia mà ông đã học cách tôn trọng. Và cách đây không lâu, một tuần trước khi chiến tranh Iraq xảy ra, khi tôi đến Berlin, tôi lại nhớ lại cuộc gặp gỡ của mình với ông giáo sư kia. Từ báo chí, từ những cuộc nói chuyện với mọi người xung quanh, tôi có cảm giác là phần lớn người Đức, tả hay hữu, sinh viên hay cán bộ kinh tế, đều có chung một nỗi thất vọng như ông bạn đồng nghiệp của tôi. Và tôi đi đến kết luận là họ có lý: Nước Mỹ không sống đúng với những lý tưởng mà nó đã mang đến cho người Đức. Và như vậy là tốt.
Ngăn trưng bày của nền dân chủ
Có rất nhiều nghiên cứu khoa học về chương trình cải tạo và giải thể chủ nghĩa quốc xã tại Đức sau chiến tranh, và cho đến ngày hôm nay các nhà sử học vẫn tranh cãi câu hỏi liệu những chương trình này đã đi đủ xa. Theo như tôi biết thì chưa có ai dám đặt cái câu hỏi quan trọng hơn nhiều, là liệu những cố gắng trên có thể đã đi quá xa hoặc đã đi sai hướng. Người Đức sẽ bị sốc khi nghe câu hỏi đó và sẽ nghi ngờ đạo đức của người hỏi, và chính điều đó chứng minh cho ta thấy những chương trình cải tạo trên đã thành công đến mức nào. Thật đúng là một sự lạ kỳ, khi một quốc gia đã từng bị cả thế giới lên án vì chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa quân sự và phân biệt chủng tộc, nay lại tự định nghĩa mình bằng những khái niệm đối ngược hoàn toàn. Nhưng cái lạ kỳ cũng gây cả cảm giác khó chịu. Nó làm vô hiệu hoá những quy luật tự nhiên, và vì vậy nên nó có thể cản trở sự hiểu biết của chúng ta về những quy luật đó, hoặc nó có thể làm chúng ta nghĩ rằng những quy luật đó không hề tồn tại. Và tôi e rằng đó chính là cái kết quả mà chương trình cải tạo của Mỹ đã mang lại cho người Đức. Ai cũng biết rằng Mỹ không chỉ định giải phóng nước Đức khỏi tư tưởng của chủ nghĩa quốc xã, mà còn muốn thực sự biến nó thành một ngăn trưng bày của nền dân chủ – ngay cạnh khối phía Đông. Người Mỹ chưa bao giờ giấu những niềm tin dân chủ của họ, và họ cũng sẵn sàng đánh đồng những lý tưởng đó với “lối sống Mỹ”, điều thường để lại một cảm giác khó chịu cho toàn bộ phần còn lại của thế giới. Nếu có lúc nào họ phải nói, giữa họ với nhau hoặc với người đứng ngoài, đến những cái thực tế hơn, thậm chí kém thân thiện hơn, những cái giúp cho chúng ta có được một cuộc sống trong xã hội tự do, thì lúc đó sẽ xuất hiện một sự im lặng ngượng ngùng. Sự im lặng này có thể thấy rõ trong những thập kỷ tràn đầy lý tưởng của chiến tranh lạnh, trong phong trào đấu tranh cho quyền công dân và trong chiến tranh Việt nam; và nó có ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức người Mỹ nghĩ, hay không nghĩ, về hệ thống chính trị của nước mình.
Vậy là trong thời gian đó đã xuất hiện vô số những bài nghiên cứu pháp luật viết về bối cảnh tâm lý của “Bills of Rights”, mười điều bổ sung cho hiến pháp Mỹ, trong đó có quyền tự do ngôn luận, quyền được đối xử công bằng trước toà án… Nhưng chỉ từ sau chiến tranh lạnh, khi những chính quyền mới của khối phía Đông phải nhờ những luật gia Mỹ sang cố vấn, thì những vị này mới tự thấy cần phải xem xét đến những cấu trúc thể chế mà chỉ nhờ có chúng chính quyền Mỹ mới có khả năng bảo đảm những quyền lợi như vậy; và họ nhận ra rằng không ai còn có thể hiểu nổi bản chất và nguyên tắc của những cấu trúc này nữa. Trong thời gian gần đây xuất hiện một ngành học riêng mang tên “constitutionalism”, nhằm tìm hiểu và truyền tải những nội dung nói trên.
Lý tưởng và thực tế
Đây là một ví dụ điển hình của sự trái ngược giữa lời nói và thực hành trong chính trị Mỹ – một sự trái ngược không bắt nguồn từ giả dối nhiều đến mức như người ta tưởng. Như Tocqueville đã nhận xét trước tiên, người Mỹ hay coi lịch sử và những thể chế của họ là điều tất nhiên, và vì thế nên rất ít khi biết được những thể chế này hoạt động ra sao. Cái mà họ biết và hăm hở tuyên bố là thông điệp tươi vui của nền dân chủ – dân chủ được hiểu theo cách của chính họ. Nếu muốn hiểu được nền dân chủ Mỹ thực sự hoạt động ra sao, ta phải nhìn xuyên qua được những lý tưởng được họ tuyên bố và phải tìm cách biết được mối quan hệ giữa những lý tưởng ấy và hiện thực lịch sử cũng như thực hành của những thể chế ở Mỹ. Và nếu muốn biết nền dân chủ ở một nơi khác hoạt động ra sao thì tốt nhất là đừng hỏi một người Mỹ – hay ít nhất là một người Mỹ mà nghĩ rằng dân chủ chỉ là chuyện giữ đúng các nguyên tắc.
Tôi đã tìm hiểu đến một mức độ nào đấy về những chương trình cải tạo do người Mỹ thực hiện tại Đức, nhưng chưa bao giờ đi vào chi tiết – và có lẽ điều này cũng không quan trọng. Cái đáng quan tâm hiện nay là những chương trình này đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của người Đức như thế nào. Từ những cuộc tranh luận chính trị, đặc biệt là đối ngoại, ta có thể kết luận rằng những gì đọng lại trong đầu người Đức về chương trình cải tạo nói trên tập trung ở ba điểm chính: chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chống chủ nghĩa dân tộc, chống chủ nghĩa quân sự. Danh sách này có vẻ hơi kỳ quặc, trước tiên là vì mọi thứ đều có hình thức chống-X. Xem xét kỹ hơn ta sẽ thấy rằng chúng chẳng liên quan gì mấy đến tâm lý và lịch sử Mỹ. Trong suốt gần một thế kỷ, nước Mỹ, một nền dân chủ hoạt động tốt, đã dung túng chế độ nô lệ; suốt một trăm năm sau đó các công dân da đen bị từ chối những quyền lợi cơ bản nhất. Người Mỹ luôn có ý thức dân tộc cao – không phải theo kiểu “Máu và Đất”, nhưng nhất định là với nhiều nhiệt huyết hơn là hiến pháp đòi hỏi. Và giả sử nước Mỹ không phải là một quốc gia hiếu chiến, thì tình hình thế giới hiện tại cũng đủ để nhắc nhở chúng ta rằng người Mỹ chưa bao giờ nhìn thấy có một mâu thuẫn gì giữa hiến pháp của họ và việc tham gia tấn công quân sự một nơi khác trên thế giới. Những người dân nước khác, và cả nhiều người Mỹ, chỉ nhìn thấy sự giả dối khi họ so sánh những lý tưởng của nước Mỹ với hiện thực lịch sử của nó – và coi như không còn gì để bàn thêm. Tất nhiên là không thể nói Mỹ không giả dối được, nhưng có ai không giả dối trong chính trị. Trường hợp nước Mỹ phức tạp hơn ở chỗ, người Mỹ thường đánh đổi một trong những nguyên tắc dân chủ mà họ vẫn thích công bố để bảo vệ một nguyên tắc dân chủ khác, có thể không được họ công bố lớn tiếng bằng, nhưng không phải vì thế mà họ có ít niềm tin vào nó hơn. Điều này có thể thấy rõ nhất trong chuyện dùng vũ lực quân sự. Người Mỹ tin rằng quân sự về bản chất là không tốt, và họ cho rằng một trong những lợi thế của những chính quyền dân chủ là những chính quyền này tìm cách tránh được chiến tranh với nhau. Nhưng nếu một là có hoà bình và chấp nhận có một tay bạo chúa, hay phải có chiến tranh để lật đổ tay bạo chúa kia, thì người Mỹ sẽ không do dự và chọn cách thứ hai. Tất nhiên, trong vô số trường hợp, Mỹ đã dung túng những tay bạo chúa, thậm chí còn giúp đỡ chúng – hoặc để chống lại một tay bạo chúa khác (như trong thời chiến tranh lạnh) hoặc để bảo vệ quyền lợi sống còn. Nhưng dù thế nào, bản năng chính trị của người Mỹ vẫn bảo họ phải cho phép có chiến tranh để bảo vệ tự do chính trị và luôn luôn đặt giá trị của sự tự do này lên trên hoà bình. Điều đó có thể dẫn đến những sai lầm to lớn, như cuộc chiến tại Việt nam, nhưng ta sẽ không hiểu được những sai lầm của Mỹ nếu như ta không xem xét đến cái bản năng nói trên.
Phương Tây – hai thế giới?
Đối với những người Mỹ có trách nhiệm phải giải thể chủ nghĩa quốc xã Đức, mục tiêu chính không thể là đưa đến cho người Đức cái tinh thần chiến đấu nói trên để nhằm bảo vệ tự do, mà là những tư tưởng như chống phân biệt chủng tộc, chống chủ nghĩa dân tộc và chống chủ nghĩa quân sự. Họ thoả thuận và chấp nhận một hình thức xã hội tự do và dân chủ, mặc dù họ không thể là cơ sở cho một xã hội như vậy được. Tiến triển của cuộc chiến tranh lạnh dẫn đến cần thiết phải mài sắc sự cảnh giác của Đức đối với khối phía Đông; nhưng như những năm 60 và 70 cho thấy, thái độ chống đối Liên-xô thuộc về nhóm chính trị gia theo Mỹ ở Bonn nhiều hơn là đông đảo quần chúng Đức. Có một mâu thuẫn là cái “lối sống Mỹ” vẫn hay bị dè bỉu lại tìm được chỗ đứng trên nước Đức sau chiến tranh một cách dễ dàng hơn hẳn toàn bộ những lý tưởng và bản năng chính trị của Mỹ. Nhạc Mỹ, mốt quần áo Mỹ, nghệ thuật Mỹ, thậm chí cái cung cách thoải mái kiểu Mỹ đã trở thành một phần quan niệm về bản thân của người Đức hiện đại. Động cơ thúc đẩy khiến người Mỹ muốn củng cố những mô hình xã hội tự do và thỉnh thoảng dùng đến vũ lực để đương đầu với chuyên chế thì lại ít được ủng hộ hơn hẳn – như có thể thấy rõ ở Kosovo.
Trong nghiên cứu mới đây của Robert Kagan mang tên “Quyền lực và Bất lực”, học giả này chỉ ra rằng Mỹ và Châu Âu trong thời gian qua đã trôi khỏi nhau quá xa nên không thể coi là một khối phương Tây được nữa. Cách hiểu khái niệm dân chủ cũng như những giá trị chính trị khác ở hai nơi khác nhau quá nhiều nên chúng ta không còn sống chung trong một thế giới nữa, theo như Kagan. Rất tiếc là có nhiều chỉ số cho thấy cái thuyết này là đúng. Nguồn gốc của sự xa cách này thì có nhiều; nhưng một trong số đó, theo tôi, là quan hệ đầy mâu thuẫn giữa nước Mỹ và những lý tưởng dân chủ của chính nó, những lý tưởng có ảnh hưởng quyết định đến châu Âu và đặc biệt là nước Đức. Có thể Kagan đúng khi ông nói người châu Âu phần lớn đang sống trên sao Vệ nữ, nhưng nói người Mỹ đến từ sao Hoả thì là sai. Ngược lại: Ngôn ngữ của dân Vệ nữ mà chúng ta nghe thấy ngày hôm nay là một thứ thổ ngữ của Mỹ – một thổ ngữ có thể dùng để trình bày một số mục tiêu dân chủ nhất định, nhưng không phải là tất cả; một thổ ngữ hoàn toàn vô dụng khi ta cần phải gọi tên một số những sự thật đau lòng của cuộc sống trong xã hội tự do. Và ta đi đến kết luận rằng những cố gắng trong việc cải tạo của Mỹ đã đóng góp nhiều vào tình hình căng thẳng hiện nay. Không ai trách Mỹ là đã giúp nước Đức thoát khỏi thời kỳ đen tối trong lịch sử chính trị của mình; nhưng cũng đã đến lúc ta phải nghĩ đến cái giá của việc thuyết phục cả một dân tộc tin rằng mục tiêu đầu tiên của dân chủ là tránh chiến tranh. Ta không cần phải là người ủng hộ chiến tranh Iraq (bản thân tôi là một người chống chiến tranh) để nhận ra được những nguy hiểm của cách suy nghĩ này; và nếu như người ta vẫn khăng khăng giữ nó thì có thể bi kịch vùng Balkan vẫn chưa phải là kinh nghiệm khủng khiếp nhất của lịnh sự cận đại. Đến một lúc nào đó có thể sẽ cần phải hồi phục chương chình cải tạo và bổ sung những lý tưởng Mỹ đem đến châu Âu năm 1945 bằng việc xem xét và thảo luận một cách nghiêm túc giá trị của những mô hình xã hội tự do – cũng như sự cần thiết của việc thỉnh thoảng phải dùng đến vũ khí để bảo vệ chúng.
© 2003 talawas