trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
19.5.2003
Đặng Nhật Minh
Điện ảnh còn là thị trường
 

Quản lý điện ảnh cho đến nay vẫn là một khâu lúng túng nhất trong công tác quản lý các hoạt động văn hoá nghệ thuật của Nhà nước ta kể từ khi bước vào cơ chế thị trường. Có thể viện ra nhiều lý do khách quan nhưng theo tôi có một lý do chủ yếu: những cơ quan quản lý nhà nước vẫn coi điện ảnh chỉ là một công cụ tuyên truyền, giáo dục mà quên rằng nó còn là một hoạt động kinh doanh được chi phối bởi những quy luật của nền kinh tế thị trường. Từ chỗ tuyệt đối hoá vai trò của phim ảnh như một sản phẩm của văn hoá tư tưởng, dẫn đến quan niệm cho rằng muốn quản lý điện ảnh chặt chẽ phải lập ra thật nhiều hàng rào, ban hành thật nhiều văn bản để kiểm soát nó. Trong mười năm qua đã có biết bao nhiêu cuộc cải tổ, sắp xếp lại tổ chức lại ngành điện ảnh. Từ các Xưởng phim (mà đâu đâu trên thế giới đều gọi là các Studio) bỗng nhiên đổi thành các Xí nghiệp nằm trong cái gọi là Liên hiệp xí nghiệp điện ảnh. Một thời gian sau các Xí nghiệp lại đổi thành các Hãng phim… Liên hiệp xí nghiệp giải thể để trở lại là Cục điện ảnh như đã từng có từ trước. Rồi từ các doanh nghiệp tự hạch toán kinh doanh đến các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích v.v… Tất cả những cải tổ sắp xếp ấy chỉ là những biến tướng khác nhau của một cơ chế không thay đổi: dựa vào sự bao cấp của nhà nước và sự quản lý mang tính chất hành chính sự vụ. Điện ảnh VN trên danh nghĩa đã nằm trong khu vực sản xuất kinh doanh từ năm 1989 nhưng thực chất cho đến nay vẫn được nhà nước bao cấp toàn bộ từ A đến Z núp dưới cái vỏ bọc bên ngoài là các doanh nghiệp hoạt động công ích. Bức tranh của thị trường điện ảnh nước nhà có thể thâu tóm như sau: Có một nhà sản xuất phim duy nhất là: Nhà nước. Có một nhà phân phối, tiêu thụ phim duy nhất là: Nhà nước. Đó là một bức tranh hết sức không bình thường trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần. Sự ỷ lại vào Nhà nước đã ăn sâu bắt rễ từ bao năm nay trong tâm lý những người làm điện ảnh. Có cảm tưởng như tăng cường ngân sách của Nhà nước là giải pháp duy nhất để đưa điện ảnh ra khỏi mọi sự sự bế tắc. Có người còn nói thẳng rằng: Nhà nước muốn có phim phục vụ chính trị thì Nhà nước phải bỏ tiền ra để nuôi chúng tôi. Các Hãng phim chỉ trông chờ được nhà nước đặt hàng làm những phim phục vụ những nhiệm vụ chính trị, kỷ niệm những ngày lễ lớn. Nội dung đã có trên duyệt, tiền làm phim do nhà nước cấp, làm phim xong nhà nước lại bỏ tiền ra để mua. Đã đến lúc cần phải nhìn thẳng vào sự thật để thấy rằng điện ảnh là một thị trường, nó cần được quản lý theo đúng với quy luật của nền kinh tế thị trường.

Trước hết Nhà nước cần xác định rõ trách nhiệm của mình tới đâu và đâu là khu vực để các thành phần kinh tế khác trong xã hội được tham gia. Không có một nhà nước nào gánh trên vai toàn bộ các hoạt động điện ảnh từ sản xuất đến tiêu thụ như ở ta (và ở các nước XHCN trước đây). Đã đến lúc nhà nước cần quản lý điện ảnh theo luật, những gì luật pháp không cấm, mọi cá nhân, mọi thành phần trong xã hội đều có thể làm. Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ nền điện ảnh dân tộc bằng cách có những chính sách bảo hộ mậu dịch đối với phim ảnh sản xuất trong nước. Nhà nước đảm bảo cho điện ảnh dân tộc một thị trường để tiêu thụ các sản phẩm của mình, chống lại sự xâm lăng của những sản phẩm ngoại nhập. Cách đây 10 năm, điện ảnh Hàn quốc gặp phải cơn khủng hoảng trầm trọng trước sự tấn công ồ ạt của làn sóng phim Mỹ, Hongkong, Đài loan v.v… Trước tình hình đó những người làm điện ảnh Hàn quốc nhất loạt rủ nhau mặc áo tang, xuống đường tuần hành để đưa ma nền điện ảnh dân tộc. Họ khiêng một chiếc quan tài lớn tượng trưng cho điện ảnh Hàn quốc đã chết. Họ không xin nhà nước ngân sách, họ chỉ yêu cầu nhà nước hãy cứu lấy nền điện ảnh dân tộc bằng cách dành cho nó một thị trường để tiêu thụ các sản phẩm của mình. Kết quả Chính phủ Hàn quốc đã ban hành một quy định bắt buộc tất cả các rạp chiếu bóng trên toàn quốc phải dành mỗi năm 140 ngày để chiếu phim Hàn quốc.Thoạt đầu các nhà sản xuất phim và các rạp bị lỗ nặng. Khán giả đang quen xem phim nước ngoài không dễ dàng chấp nhận xem phim trong nước với trình độ kỹ thuật và nghệ thuật còn non kém. Nhưng chính sự thua lỗ đó buộc các nhà sản xuất phim phải bằng mọi cách nâng cao chất lượng các sản phẩm của mình, các rạp chiếu bóng phải tìm mọi cách để lôi kéo người xem đến rạp. Và họ đã làm được điều đó bởi các nhà sản xuất phim lẫn chiếu phim ở Hàn quốc đều là những nhà doanh nghiệp tư nhân, tiền sản xuất phim là tiền túi của họ bỏ ra, rạp chiếu bóng cũng là rạp do họ bỏ tiền ra xây hoặc mua lại. Nếu họ không tìm mọi cách để tồn tại thì họ sẽ bị phá sản. Bằng những nỗ lực như vậy điện ảnh Hàn quốc dần dần hồi sinh, có chỗ đứng không những trong nước mà còn ở cả nước ngoài (như ở Việt nam chẳng hạn). Điện ảnh Hàn quốc trở thành một nền điện ảnh có uy tín ở Châu Á và thế giới. Ở các nước trên thế giới, ai cũng có thể kinh doanh sản xuất phim, miễn tuân thủ đúng luật pháp. Nhà nước chỉ thể hiện trách nhiệm của mình ở việc bảo hộ nền điện ảnh dân tộc. Còn việc làm ăn lỗ lãi ra sao Nhà nước không chịu trách nhiệm, đó là trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể tự nguyện coi điện ảnh là một nghề như bất cứ mọi nghề nào khác trong xã hội. Nhà nước Pháp được coi là nhà nước có trách nhiệm nhất đối với nền điện ảnh dân tộc. Chính phủ Pháp mỗi năm dành ra một ngân sách khá lớn để tài trợ cho điện ảnh Pháp và điện ảnh các nước trong cộng đồng Pháp ngữ, nhưng không phải để bù lỗ cho các phim. Đối với khu vực sản xuất, chính phủ Pháp chỉ tài trợ cho một phần tư số phim sản xuất trong nước (phần lớn cho các phim đầu tay của các đạo diễn trẻ) nhưng tài trợ tối đa không quá 30% kinh phí sản xuất trung bình của một bộ phim. Nơi tài trợ nhiều nhất cho điện ảnh Pháp lại là một kênh truyền hình tư nhân có tên là Canal +. Mỗi năm Canal + tài trợ cho 50% số phim sản xuất ở Pháp và cũng chỉ tài trợ cho mỗi phim tối đa không quá 30% kinh phí. 70% kinh phí còn lại các nhà sản xuất phim phải tự huy động. Không có một nhà nước nào bỏ ra 100% kinh phí để sản xuất những phim gọi là phim của nhà nước (trừ một số phim tư liệu mà nhà nước thấy cần lưu trữ). Ngày nay với sự bùng nổ của thông tin đại chúng việc tuyên truyền đường lối chính sách cuả Đảng và Nhà nước đã có những phương tiện nhanh chóng và hữu hiệu hơn điện ảnh rất nhiều. Trước hết phải kể đến truyền hình. Ngân sách Nhà nước dành cho truyền hình ở ta mỗi năm là 300 tỷ trong lúc ngân sách dành cho điện ảnh hàng năm xê dịch từ 10 đến 15 tỷ. Ngày nay chỉ cần ngồi trước mày vi tính, truy cập vào mạng internet là sau 5 phút người ta đã có đầy đủ thông tin về bất cứ lĩnh vực nào. Điện ảnh không còn chức năng tuyên truyền như cách đây 10-15 năm nữa.

Không biết từ đâu hình thành một quan niệm cho rằng những phim đề cập đến những sự kiện chính trị lớn của đất nước là những phim phục vụ những nhiệm vụ chính trị. Nhà nước phải bỏ tiền ra để làm. Những phim như vậy người trong ngành thường gọi là những phim đặt hàng của nhà nước. Hãng phim nào cũng mong có được những phim đặt hàng như vậy (có phim kinh phí lên tới 12 tỷ, gấp hơn mười lần kinh phí những phim bình thường khác). Nhưng thử hỏi: những phim nghệ thuật sâu sắc, giáo dục nhân cách, đề cao phẩm giá con người, những phim đó không được coi là những phim phục vụ những nhiệm vụ chính trị sao? Hay nhà nước chỉ quan tâm đến một nền điện ảnh phục vụ những ngày lễ lớn mà thôi? Rõ ràng đã đến lúc cần phải thay đổi nhiều quan niệm cũ kỹ cố hữu để từ đó tìm ra một cách quản lý mới ngõ hầu đưa nền điên ảnh VN ra khỏi tình trạng bùng nhùng hiện nay. Gần đây Chính phủ vừa có quyết định bãi bỏ 2 giấy phép trong điện ảnh: giấy phép xin sản xuất phim nhất thời và giấy phép thành lập cơ sở sản xuất phim, mở đường cho việc thành lập các Hãng phim tư nhân. Theo như quyết định ký ngày 26 tháng 4 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước thì các Hãng sản xuất phim khoa học, phim thời sự, phim tài liệu, phim thiếu nhi được coi là những doanh nghiêp nhà nước hoạt động công ích. Và như vậy các Doanh nghiệp khác trong điện ảnh ắt sẽ được cổ phần hoá, giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động hoặc bán doanh nghiệp. Nếu thực hiện được như vậy thì đó là những quyết định rất sáng suốt để đưa hoạt động điện ảnh VN đi vào quy luật chung, hội nhập với sinh hoạt điện ảnh trong khu vực và trên thế giới. Những chủ trương trên chắc chắn sẽ gây ra sự phản ứng mạnh mẽ của một số người. Người ta sẽ viện dẫn đủ lý do: nếu để tư nhân có Hãng phim, có cỗ phần trong các doanh nghiệp nhà nước thì làm sao quản lý được nội dung tư tưởng của phim ảnh? Ai làm phim, để kỷ niệm những ngày lễ lớn? cổ phần hoá các Hãng phim chưa chắc đã có người mua v.v… Những lập luận trên thực chất chỉ để che đậy một động cơ duy nhất: kiên quyết bám chặt vào Nhà nước. Thực ra mọi việc đơn giản hơn nhiều: quản lý nội dung phim ảnh trước khi đến với người xem đã có Hội đồng duyệt phim của Bộ Văn hoá thông tin. Hội đồng có quyền cho phép hoặc không cho phép các phim được phát hành. Nhà nước vẫn tiếp tục đặt hàng để làm những phim về những đề tài mà mình thấy cần (về các sự kiện lịch sử trọng đại, về lãnh tụ v.v… ) cho những Hãng phim nào có kịch bản hay nhất, có khả năng thực hiện tốt nhất (không phân biệt Hãng phim của Nhà nước hay của tư nhân). Một thị trường không có cạnh tranh là một thị trường chết. Đó là điều mà điện ảnh chúng ta hiện nay đang thiếu. Dĩ nhiên đó phải là sự cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy số lượng và chất lượng của phim ảnh Việt Nam. Trước đây đã từng có một số tư nhân bỏ tiền làm phim, nhưng phải núp bóng các Hãng phim của Nhà nước hoặc của các tổ chức xã hội. Do đó sau một thời gian háo hức ban đầu nhiều nhà sản xuất phim tư nhân dần dần bỏ cuộc. Nếu nay Chính phủ chính thức cho phép thành lập các Hãng phim tư nhân, cho tư nhân được có cổ phần trong những Hãng phim mà Nhà nước nắm cổ phần chủ đạo, chắc chắn sẽ có nhiều người hưởng ứng nếu họ thấy được khuyến khích, và không bị phân biệt đối xử.

Để kết luận bài viết này tôi xin dẫn ra một câu chuyện sau: Cách đây 3 năm một đoàn đại biểu Bộ Văn hoá Iran sang thăm Việt Nam theo lời mời của Bộ trưởng Bộ Văn hoá ta. Trong đoàn có ông Thứ trưởng phụ trách điện ảnh Iran. Trong cuộc tiếp xúc tại Cục điện ảnh, khi được hỏi: Tại sao điện ảnh Iran những năm gần đây có những bước phát triển nhẩy vọt, nổi lên như một hiện tượng của điện ảnh Châu Á và thế giới? (xin mở ngoặc: hàng năm điện ảnh Iran đoạt vài chục giải thưởng quốc tế là chuyện bình thường). Ông Thứ truởng đã trả lời một cách ngắn gọn như sau: Là vì nền điện ảnh Iran càng ngày càng ít lệ thuộc vào nhà nước. Phải chăng đấy là bí quyết để làm cho một nền điện ảnh chóng trưởng thành? Sang năm 2003 điện ảnh Việt nam vừa tròn 50 tuổi, cái tuổi không còn được gọi là trẻ nữa. Với những chuyển biến mới trong cách quản lý Nhà nước về điện ảnh, hy vọng rằng điện ảnh VN sẽ đứng vững được trên đôi chân của mình một cách mạnh mẽ, tự tin ở vào cái tuổi 50.

 
© talawas 2026