Bài báo Gặp lại “Vua Phật” 103 tuổi – An ninh Thế giới số 59, ngày 22-8-2002 – *) thật hấp dẫn. Nhưng sẽ còn hấp dẫn hơn nếu tác giả khai thác thêm những uẩn khúc, những éo le mà nhân vật kể chưa hết.
Uẩn khúc trước hết là ở tên các nhân vật. Ông bố vợ của “vua Phật” tên là Ibrahim, một cái tên khiến người ta tin rằng ông theo đạo Hồi ở Ấn Ðộ. Người đọc băn khoăn vì sao ông bố theo đạo Hồi mà lại đặt cho con gái cái tên phương Tây là Anna Mari, rồi sau đó lại đặt cho con rể người Việt một cái tên của người theo đạo Hindu là Chadra (chắc là tác giả viết nhầm, chỉ có Chandra, tức là tên thần Mặt Trăng, một cái tên điển hình của đàn ông Ấn Ðộ). Người đọc đành phải tự lý giải rằng ông bố vợ là người có tư tưởng cởi mở, cấp tiến ở một nước Ấn Ðộ kỳ thị tôn giáo, một nơi thời ấy hầu như người ta không kết hôn giữa các tôn giáo. Ông đã vượt lên trên cả sự thành kiến tôn giáo tầm thường khi huy động cả dòng họ theo đạo Hồi đưa con rể đến chùa Phật giáo ở New Delhi, rồi lúc con rể được chọn đi tu học thì cả “dòng họ vui mừng được phúc”…
Giá mà tác giả khai thác sâu hơn khía cạnh cởi mở này thì câu chuyện sẽ còn lạ lùng và hấp dẫn hơn. Cũng như thế, người Anh đang cai trị hà khắc Ấn Ðộ ở đầu thế kỷ XX cũng tỏ ra thật rộng lượng và biết trân trọng: khi “vua Phật” đến Thượng Hải, họ thu bộ cà sa và mũ ni bằng lá để “đưa vô bảo tàng”. Rồi sau đó “ở Luân Ðôn họ xây cho ông một ngôi chùa sang trọng”.
Mối quan hệ “dì ruột của vợ ông Danh là vợ của thủ tướng Nehru” lẽ ra cũng cần được khai thác kỹ hơn, nhờ đó người đọc có được những cảm xúc tuyệt vời khi một người Việt đã thực sự có mặt trong một đại gia đình tầm cỡ thế giới như thế. Vợ ông như vậy là chị họ con dì con già với bà Indira Gandhi (sau này 2 lần làm thủ tướng Ấn Ðộ), thời gian ấy cô Gandhi đang cùng cha và các đồng chí đấu tranh giành độc lập. Ðọc đến đây người ta nảy sinh tâm lý muốn biết về mối quan hệ họ hàng đặc biệt của ông Danh với những con người kiệt xuất trong dòng họ này.
Cũng ở đây, thêm một lần ta được thấy sự thoải mái của nhà cầm quyền Anh đối với những chiến sĩ đấu tranh giành độc lập cho Ấn Ðộ. Ông Nehru khi ấy đang hoạt động cách mạng (từ khi Ấn Ðộ độc lập năm 1947 ông mới là thủ tướng, trước giai đoạn 1941-1945 ông chưa phải là thủ tướng như bài báo viết), ông đang chống thực dân Anh, thậm chí bị bỏ tù, thế mà bố vợ ông Danh vẫn cậy danh Nehru để xin toàn quyền Anh cho con rể “về tu gần nhà”. Nếu tác giả bài báo lý giải cho được chuyện éo le này thì câu chuyện càng mở rộng thêm chiều kích với nhiều cái lạ.
Ở Trung Quốc và cả ở ta, Tây phương, Tây Trúc là khái niệm chỉ đất Phật Ấn Ðộ. Trong bài báo, ông Danh đang ở trên chính đất Ấn Ðộ lại được “chuông trống nổi lên” chọn gửi đi Tây phương? Người đọc hồi hộp theo dõi bước chân ông thì thấy ông đi qua dãy Himalaya, dám đoán là ông sang Nepal, nhưng lại thấy ông đi tiếp sang Trung Quốc, tới Tân Cương. Hình như đường ông đi ngược hẳn với con đường thế kỷ VII Ðường Tăng sang Ấn Ðộ lấy kinh? Vậy có thể “vua Phật” đã tìm ra một Tây Trúc khác? Giá mà có một bài báo khác để ông nói rõ về xứ Tây phương này, biết đâu là một phát hiện cho các Phật tử và những nhà nghiên cứu Phật giáo cùng văn hóa phương Ðông?
Mặc dù “vua Phật” đã đi ngược với hành trình của Ðường Tăng, nhưng chuyến đi của ông được miêu tả như cùng một cảm hứng với những gì diễn ra trong tác phẩm tưởng tượng huyền hoặc của Ngô Thừa Ân, “có lúc gặp bọn ăn mặc kỳ dị, cầm mác xông tới, chực như ăn thịt ông… Lần khác có đám người trói ông lại, nổi lửa rồi đưa ông lên giàn hỏa, tưởng là chết nhưng họ sụp xuống lạy ông rồi đội tới nhiều mâm trái cây, sau đó bỏ đi…”
Một bài báo ngắn đem tới nhiều điều kỳ lạ, nhiều điều như huyền thoại, khiến người đọc cứ băn khoăn mãi, muốn biết nhiều hơn, kỹ hơn.
© Talawas 2002
————
*) Phụ lục:
Nhất Thống
Gặp lại “Vua Phật” 103 tuổi
Ông là một nhà sư từng đắc đạo ở Ấn Ðộ, được người Anh đưa về Thượng Hải, Hong Kong rồi London, trở về Campuchia. Cách mạng Tháng Tám 1945, ông về Việt Nam, tham gia kháng chiến, ủng hộ 1 valy bạc và chiếc xe hơi Renault. Năm 1945, ông tập kết ra Bắc, du học ở Liên Xô… Và hiện nay đã 103 tuổi, đang sinh sống tại đường Lâm Quang Ky, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Ông tên thật là Lưu Công Danh, sinh năm 1900 tại làng Mỹ Lâm (chợ Mỹ Hiệp Sơn), huyện Hòn Ðất, tỉnh Kiên Giang. Cha ông là công nhân đào kinh Rạch Giá – Hà Tiên – Cái Sắn. Mẹ ông theo chồng trôi nổi trên sông nước và sinh ông ra trong cảnh bềnh bồng ấy. “Tuổi thơ dữ dội” của ông trôi đi trong cảnh nghèo khó, ít áo cơm, nhiều khổ nhọc…
Khi trưởng thành, ông Danh hòa cùng thanh niên ở Rạch Giá, Châu Ðốc, Long Xuyên chống Pháp. Ðó là lúc Việt Nam Thanh niên Cách mạng Ðồng chí Hội ra đời, rồi An Nam Cộng sản Ðảng với những tên tuổi mà ông ngưỡng mộ như: Châu Văn Liêm, Hà Huy Giáp, Ung Văn Khiêm… Thực dân lùng bắt những người yêu nước gắt gao, ông trốn về Cần Thơ và tìm đường sang Campuchia.
Ở Ðom Boong (Campuchia), ông đi vác mướn. Thấy ông siêng năng, ông Ibrahim (người Ấn Ðộ) thuê làm giao dịch với kiểm lâm trong việc khai thác gỗ. Là người giàu có với nhiều cơ sở làm ăn ở Phnompenh, hằng tháng Ibrahim mang tiền lên đồn điền phát lương cho công nhân. Lần nọ, ông để quên valy bạc và được Lưu Công Danh cất giữ rồi trao lại. Cảm kích nghĩ cử đó, ông chủ đã đưa ông về Phnompenh cai quản cửa hàng vải rất lớn.
Nhờ thạo tiếng Campuchia và Hindu nên ông được chủ tin cậy, gả con gái, đặt tên Ấn Ðộ là Chadra và nhập quốc tịch cho ông. Cô tên là Anna Mari, rất đẹp… Vì muốn cha mẹ vui nên cô chấp nhận lấy chồng, nhưng cả năm trời không chăn gối với ông.
Ðể ra mắt họ hàng và cầu tự ở chùa, Ibrahim đưa con rể và gia đình về New Delhi. Ở đó, dòng họ này rất danh giá và sùng đạo. Hôm đi lễ Phật, chùa đang tuyển người đi Tây phương tu Phật, đã có 2 người xin đi nhưng còn thiếu một. Lưu Công Danh tình nguyện. Tức thì chuông trống nổi lên, dòng họ vui mừng được phúc, người chung quanh reo hò… Ông ở lại chùa 7 ngày để làm lễ, xông hương, xuống tóc, mặc cà sa và thiền định. Sau đó được về thăm nhà, Anna Mari bấy giờ rất trân trọng ông, chính thức làm vợ trong một tháng ngắn ngủi ấy, để sau này có đứa con trai tên là Xôchim.
Trở lại chùa, Lưu Công Danh được làm lễ tiễn rất quan trọng: người đọc kinh 2 bên đường, cờ phướn rợp trời, rước ông lên kiệu vàng… Rồi ông đi chân đất vào rừng, bắt đầu hành trình tu Phật.
Suốt 10 năm trường, ông đi học ở 10 chùa, mỗi khi tới chùa nào đó phải học thuộc 10 bài kinh rồi mới được đi tiếp. Hai người cùng đi với ông chỉ một khoảng thời gian ngắn là mất dấu, ông một mình, có lúc cheo leo trên những vách núi Hymalaya hoặc giữa rừng sâu đầy thú dữ.
Ðến ngôi chùa thứ 10, thuộc phía Bắc Ấn Ðộ, phía Tây của Tây Tạng, vị sãi cả bảo đọc tất cả những bài kinh đã thuộc. Lưu Công Danh đọc mấy tháng trời mới hết, được sãi khuyên về giúp đời và cho ông 2 viên ngọc.
Khi đi đã gian nan thì lúc về càng nguy hiểm. Có lúc gặp bọn ăn mặc kỳ dị, cầm mác xông tới, chực như ăn thịt ông… Thiền định, đọc kinh, lần tràng hạt rất lâu thì họ bỏ đi, ông mệt lăn ra ngủ. Khi dậy thấy có trái cây, rượu, nhang, đèn, ông ăn uống khỏe lại rồi đi. Lần khác, có đám người trói ông lại, nổi lửa rồi đưa ông lên giàn hỏa, tưởng là chết nhưng họ sụp xuống lạy ông rồi đội tới nhiều mâm trái cây, sau đó bỏ đi. Ông ăn no và bỏ vào túi số còn lại rồi tiếp tục đi.
Về tới Tân Cương, người ta biết tin đã lập hương án, cờ phướn rợp trời, nhiều người đi theo sau ông để hưởng phúc của “Vua Phật”. Ít ngày sau, Sứ quán Anh mang 3 ôtô tới, đưa ông về Thượng Hải, cho bác sĩ khám bệnh, họ thu bộ cà sa và mũ ni bằng lá để đưa vô bảo tàng. Một tuần sau, họ đưa ông về Hong Kong chờ tàu rồi đưa về London. Người Anh muốn cách ly ông với nhân dân Ấn Ðộ, họ sợ ông sẽ là người lãnh đạo tinh thần rồi nổi lên đấu tranh, giành độc lập, vì Ấn Ðộ đang là thuộc địa của Anh. Ở London, họ xây cho ông một ngôi chùa sang trọng, nhiều người tới viếng…
Dì ruột của vợ ông Danh là vợ của Thủ tướng Nêru, do đó ông Ibrahim làm đơn gửi Toàn quyền Ấn Ðộ, xin cho ông Danh về tu gần nhà. Họ đã làm việc với Toàn quyền Ðông Dương và cho phép “Vua Phật” về Campuchia, qua cảng Nhà Rồng. Một đoàn ôtô đón và đưa ông về Phnompenh. Vua cha của Xihanúc xây cho ông một ngôi chùa lớn ở Prệppra, cách cầu Sài Gòn (ở Phnompenh) 5km. Ông ở đây từ năm 1941-1945, trị bệnh cứu người.
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ông muốn về thăm cha mẹ và quê hương. Nhà chùa cho người lái ôtô đưa ông về Châu Ðốc thì Việt Minh giữ lại. Họ báo lên cấp trên ở Long Xuyên, rồi đưa ông về đó chiêu đãi cơm nước đàng hoàng. Khi biết được cán bộ tiếp ông là ông Ung Văn Khiêm, phụ trách Công an Nam Bộ, ông mừng rỡ vì ngưỡng mộ từ trước. Ông xin ở lại với Kháng chiến và hiến 1 valy bạc cùng chiếc ôtô Renault.
Trong 9 năm kháng chiến, ông làm Giám đốc Ðề lao binh, lại giỏi trị bệnh cứu người.
Người vợ Việt Nam, trước khi đi Campuchia (do cha mẹ cưới) tên là Huỳnh Thị Tống đã lặn lội đi tìm ông. Họ sống hạnh phúc trong chiến khu và có với nhau mấy người con.
Năm 1954, ông về Chắc Băng chuẩn bị xuống tàu tập kết ra Bắc, bà Anna Mari được gia đình đưa ôtô xuống Tân Hiệp và tìm gặp ông. Cuộc hội ngộ ấy, ông làm phiên dịch cho 2 bà vợ và họ sống nghĩa tình trong 2 đêm rồi xuống tàu Kilinxki Ba Lan ra Bắc.
Hai bà vợ chia tay ông rồi về lại quê cũ. Ở miền Bắc, ông ở Sư đoàn 338 được một thời gian rồi về Sư đoàn 330, làm kinh tế ở nông trường Thọ Xuân – Thanh Hóa do Tướng Ðồng Văn Cống làm Tư lệnh.
Nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Ấn Ðộ, Praxat, trong lúc nói về quan hệ hữu nghị Việt – Ấn với Bác Hồ, ông đã nhắc tới người cháu rể của Thủ tướng Nêru là Lưu Công Danh.
Ít lâu sau, ông Danh được đưa sang Liên Xô đào tạo ở Học viện Quân đội cấp cao. Sau một năm học tập không có kết quả, ông được đưa về nước, tạm trú tại chùa Quán Sứ – Hà Nội. Cấp trên dự kiến bổ sung ông vào Ban đại diện Phật giáo Việt Nam nhưng ông thôi vào chùa, chỉ nhận làm Chủ nhiệm hợp tác xã xe ba gác chở vật liệu xây dựng ở Phúc Xá, rồi Bí thư chi bộ ở đây.
Do giỏi trị bệnh bằng cây cỏ nên có nhiều bệnh nhân tới nhờ. Chuyện tới tai bác sĩ Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch, ông cho Cục Dược và Ban Ðông y tới phối hợp nghiên cứu. Rồi ông Lưu Công Danh được chuyển về một cơ sở Ðông y cho tới năm 1975.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông về lại Rạch Giá sống với các con cháu trong nghĩa Ðảng tình dân, thường ngày trị bệnh cứu người. Hiện nay ông đã 103 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn dù sức khỏe có kém nhiều.