trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
29.9.2003
Nguyễn Hữu Liêm
Lý của Thời & Sự của Hữu
 
Do What Thou Wilt shall be the whole of the Law.

Love is the law, love under will.

There is no law beyond Do What Thou Wilt.

(Aleister Crowley, The Law of Thelema)





Tôi sẽ nói đến mười cái sai của triết học, vốn phát xuất từ mười sự nhầm lẫn tri thức, để giải thích cái lý của Thời (Time) và cái sự của Hữu (Being).

Sai lầm số Một – và căn bản nhất trong triết học – là sự chấp nhận như là vững cứ và hiển nhiên rằng có những mệnh đề diễn đạt được một thực tại khách quan. Rằng ngôn ngữ triết học có khả năng chỉ dẫn tới một sự thật hay là giá trị như là sự kiện. Nay đã đến lúc, chúng ta không còn chấp nhận tình trạng một chiếc thuyền trống rỗng đòi đổ cái gì vào cho một chiếc thuyền không khác. Stop pouring emptiness into the void. Hãy minh xác rằng ngôn ngữ không phải là một hệ thống biểu dấu hay là hiển thị cho sự kiện. Trái lại, ngôn ngữ triết học trong Thời Lý & Hiện Hữu là cung nhịp của Thời – năng lực tạo nên sự Hữu từ trong ý chí Sẽ Là. Ðiều này sẽ được giải thích ở phần sau.

Sai lầm thứ Hai: Sử dụng triết học như là một phương tiện để truyền đạt kiến thức. Khi không có một thực thể khách quan gọi là chân lý – như là một đối tượng cho kiến thức – thì bản chất và chức năng của triết học là ý chí và tinh thần. Thời Lý & Hiện Hữu cảnh giác rằng kiến thức, nếu làm điểm tựa cho triết học, là sự dừng lại, là sự tĩnh, là Thời quán hòa giải với cái Ðã Là của ý chí. Từ đó, đối thể (object) của triết học về Thời là hành động trong ý thức Thời Mệnh. Hành động là phủ định Thời quán bằng Thời Ý: năng lực tự-Ngã nhận ra chính mình qua Chiến Thắng. Khi Chiến Thắng là tự-Ngã làm chủ Mệnh bằng Hữu. Với chủ đích đó, triết học của Thời không nhân danh kiến thức vì kiến thức chỉ là biểu tượng của sự dừng lại nếu ý chí đã đứng yên trên một nấc thang hiện hữu. Triết học, do đó, là tiếng còi lệnh đánh thức ý chí để tác hành cái Sẽ Là vào cõi Ðang Là bằng sinh hữu.

Sai lầm thứ Ba: Bản thể luận (ontology) trong triết học Tây phương cho đến nay vẫn nhắm đến một biện minh căn bản cho sự Hữu. Nói khác đi, nó là một nỗ lực đi tìm nơi dừng chân cho một loại tri kiến muốn nghỉ ngơi. Ở đây, Thời Lý & Hiện Hữu minh định rằng không có một sự Hữu như là một sự kiện khách quan đón chờ tri kiến. Triết học không thể với tới một sự Hữu ngoại thân nào cả. Bản thể luận chỉ có thể minh xác và cấu tạo một bản sắc Thời Ý cho chính mình. Triết học là năng ý leo lên bậc thang mới không ngừng nghỉ. Tất cả những bậc thang đi qua là những nghịch-Thời cần phải được kinh qua để rồi phủ định và đào thải. Ðây là một bản thể luận bằng và của ý chí – an ontology of Will. Muốn hiểu cái lý của Thời thì phải hiện thực hóa ý chí Sẽ Là vào Ðang Là bằng năng thức Khát Sống và Hiếu Thắng.

Sai lầm thứ Tư: Rằng sự Hữu được kiến lập trên một trật tự phạm trù (categorical order) khách quan, thường hằng – và tri thức cũng được cấu trúc trên cơ bản này. Ở đó, những mệnh đề triết học như là những chiếc cầu, thiết lập bởi khái niệm, để chủ thể ngôn ngữ bắc đến, chỉ tới trật tự khách quan đó. Và với sự tương đồng giữa cấu trúc khách quan và chủ quan, tri thức thông hiểu được sự Hữu. Tôi gọi vấn đề này là the mistake of categorical correspondence. Ðây là sai lầm của Aristotle và Kant mà Wittgenstein có nói đến trên một phương diện khác. Ðối với cái lý của Thời, an ontology of Time, Kant chỉ khái niệm hóa rằng Thời, Không, và Nhân Quả là những phạm trù tiên thiên (a priori) của tri thức. Cũng như Hegel cho Thời và Không như là hai sự thể ngoại thân của Geist – một chủ thể tiên nghiệm trên cơ sở giả định. Nietzsche thì chưa nắm vững cái lý của Thời, lấy tư tưởng mật tông Ba Tư để nói đến cái thuyết “trùng lập vĩnh cửu” (eternal recurrence). Tất cả là từ một di sản của truyền thống “triết học phân loại và đặt tên” vốn phát xuất từ Hy Lạp – khi các triết gia vẫn còn là khoa học gia – mà Tây phương vẫn chưa thoát ra được.

Trong Thời Lý & Hiện Hữu, Thời là hơi thở (vâng, hơi thở) của ý thức tự-Ngã nhìn lại chính mình và cảm nhận thể tính ngoại thân trong sự vướng mắc bởi ảnh tượng của cái khác (the otherness) như là đối tượng của tâm thức. Thời, do đó, là thể tính xung động của ý thức khi mà hư vọng về cái ta không vươn thoát khỏi sự hữu hạn của chính mình – vốn chỉ là một phản ảnh của tự-Ngã. (Với các triết gia Tây phương, có Bohehme đã nói lên điều này bằng ngôn ngữ thần học). Từ đó, hệ thống phạm trù cho triết học của Thời chính là năng thức tương tác giữa tự-Ngã và sự Hữu: Lý, Ý, Tính, Mệnh, Quán, Thể và Lượng. Tất cả là những chiều kích sinh thức từ Thời. Từ cơ sở trên, sự Hữu (Being) là hiển thị từ ý lực tự-Ngã qua Thời, mà ở đó, sinh hiện (existence) là năng thức tương tác giữa Ðang Là và Sẽ Là. Sự Hữu trong Thời Lý &Hiện Hữu không nói đến một thực tại khách quan. Sự Hữu chính là tính phản tỉnh của cái Ta khi nhìn lại chính mình trong năng lực nhận thức của tự-Ngã bằng sinh hiện. Nỗ lực của Thời Lý & Hiện Hữu là khai mở một cơ sở phạm trù và khái niệm mới nhằm tránh được lối mòn của triết học truyền thống vốn chỉ muốn diễn tả khách quan bằng ngôn từ và biểu tượng.

Sai lầm thứ Năm: Sự trộn lẫn của suy thức giữa các cõi khác nhau – the error of mixing planes. Khi bị giới hạn một phần bởi các thể loại ngôn ngữ thuần diễn tả cũng như là khả năng giới hạn của triết gia, triết học đã không nhận ra, hay là không công nhận, rằng sự Hữu bao gồm vô hạn các cõi khác nhau. Trong một cõi, có những tầm mức phân định theo năng lực ý chí và tâm thức tự-Ngã. Triết học của Thời Lý & Hiện Hữu là một tầm mức phân định nhỏ bé trong năng lực tự quán chiếu của tâm thức. Ðây là một ngả rẽ ra khỏi sự lúng túng mà triết học thường gặp phải khi nhân danh kiến thức về một chân lý thường hằng. Triết học truyền thống chỉ có suy thức, lý luận như là mọi sự Hữu đều nằm ở mặt bằng của một cõi duy nhất và độc lập khách quan. Triết học lấy kiến thức và ý chí hàng ngang, lấy cái thấp của dữ kiện giác quan (empirical facts), sử dụng logic cổ điển, và bằng ngôn ngữ giới hạn của một tập thể nhân loại tâm thức còn thấp, để đi tìm kết luận cho những vấn nạn mà bản chất của vấn nạn vẫn chỉ là những vấn đề của vô minh và ngôn ngữ. Muốn hiểu cái gì phải đứng ngang hàng hoặc cao hơn nó. Không thể dùng trình độ và ngôn ngữ tiểu học để giải lý giáo trình đại học. Triết học hiện nay không hiểu sự khác biệt giữa số phận (fate) và định mệnh (destiny), giữa cõi thấp và cõi cao, giữa cái có và cái không có, giữa cái Ðang Là và cái Sẽ Là. Tối mức thì triết học vẫn chỉ là một nỗ lực phiên giải thế giới hiện tượng – mà cái sai lầm đã được khởi đi từ khi Hi Lạp từ bỏ quá khứ mật truyền của văn minh Ðịa Trung Hải để rồi hãnh tiến đi theo con đường thuần lý tính. Từ đó, chúng ta có sự kiện của trí thức Tây phương ngày nay: vốn biết nhiều về dữ kiện hàng ngang mà không có sự thay đổi hay chuyển hóa tương đồng cho trí tuệ (wisdom) và hữu thể (being). Không còn ai trực nghiệm để thấy xuyên các cõi và các mức bằng năng lực trực giác – cũng như không còn ai mang tâm thức Hiếu Thắng và Khát Sống tung thân và ý chí vươn vào cuộc đời khi không còn mang gánh nặng của cái ta nhỏ hẹp. Khi ta đi sâu vào trong ta để cho tự-Ngã được tràn đầy thì chính là lúc mà ta dấn thân ra với cuộc Mệnh để phủ định chính cái ta và đời sống nhằm thử nghiệm cho mình trong chủ ý khổ đau. Kẻ nào xung trận vào cuộc Hữu với tất cả nhiệt tình hăng say để thỏa lòng Khát Sống thì kẻ đó được sáng thành và leo lên được nhiều mức thang tâm thức – vì hắn có định mệnh làm chủ số phận bằng ý chí và cái lý của Thời. Hãy đứng dậy mà lớn lao lên để Chiến Thắng vì các ngươi chỉ có thể đến thiên đường khi đã đi hết con đường của sự Hữu trần gian. Hãy là cái gì trước mới nghiệm được rằng ta không là cái gì cả. Khi đó – và chỉ đến lúc đó – câu hỏi về bản thể của “tự-Ngã” sẽ được trực diện.

Sai lầm thứ Sáu: Khả năng tri thức của lý tính chưa đạt đến mức độ đủ và cần nhưng lại được cho là cao và duy nhất. Phần lớn triết học Tây phương, từ di sản Hi Hạp, đều có công trạng là nâng cao giá trị lý tính, nhưng cuối cùng bị lý tính thường nghiệm lôi vào mê thức trận, để rồi sự cám dỗ của lý tính làm cho con người chỉ còn biết ngôn ngữ trong cái ta hữu hạn. Triết học đánh mất tinh thần và năng thức trực giác – cái Thấy của các Ðạo sư – vì nó chỉ còn là những trò chơi ngôn từ. Từ đó, lý tính không còn linh thiêng, không còn cái Biết vượt Thời, không hiểu được cái lý của Thời và cơ năng của Hữu. Triết học mất đi phần Lý và Nghiệm thể từ thân và ý – khi kẻ trí đi theo kẻ phàm để vẫn cứ xem cuộc đời và lịch sử như là một thực thể ngoại thân, khách quan và độc lập với Thời Ý. Ngay cả trong tầm mức của lý tính, trí thức ngày nay vẫn chưa vươn lên đến tận cùng. Muốn đến được cõi tinh thần, cõi linh thiêng của sự Hữu, điều cần thiết là phải có cơ năng lý tính để đứng lên nó và rồi vượt qua nó. Lý tính là nấc thang thiết yếu trong cơ năng của Thời.

Sai Lầm thứ Bảy: Chưa xác định đã phủ định. Khi lý tính không là cơ sở và biện minh cho ý chí và ý thức Khát Sống, triết học trở nên một niềm cám dỗ của “trở về.” Những cái gọi là “cố quận,” cái gọi là “hữu thể,” cái gọi là “chân nguyên” đều là những danh từ trống rỗng và sáo điệu của những trí thức chỉ biết đọc sách mà không tiêu hóa hay có khả năng hiểu triết trong tinh thần sáng tạo. Có nhiều thành phần kẻ sĩ trầm ngâm với câu thơ, với men rượu, với bóng chữ, với kiến thức hàng ngang như những bộ nhớ điện toán, nhưng lại mang chủ quan tính đầy ngã mạn, đầy khinh mạt đối với cuộc đời. Họ là – nói theo Hegel – những “tâm hồn cao thượng” (beautiful souls) chưa được trung giải (mediated) bởi thực nghiệm của sự Hữu.

Trong Thời Lý &Hiện Hữu, triết học là ý chí sáng thành – tâm thức đi tìm chính mình – mà Thời và Hữu là khả thể khai mở cũng như là biên độ giới hạn của những điều kiện thử thách. Muốn vượt qua Thời thì phải như biểu tượng con rắn nuốt lấy đuôi mình. Cái sai lầm sinh hiện (existential error) sơ đẳng nhất là tâm ý muốn trốn tránh cuộc đời khi chưa thực sự kinh nghiệm và hiểu biết cuộc đời. Chưa học mà đã chê giáo dục. Chưa đọc đã chê sách. Chưa thử thách mà đã ngạo mạn bản lãnh. Những khối tâm thức mới của nhân loại này vẫn còn là những đống phèn cá tính bất thường chưa có cơ hội tẩy rửa, giải hóa. Hãy kinh qua đời sống gia đình, làm một công dân có trách nhiệm và tích cực trước khi đòi từ bỏ nhân thế để đi tìm “giải thoát.” Tâm thức Khát Sống mà Thời Lý & Hiện Hữu đề ra, tuy nhiên, không có nghĩa rằng chúng ta hãy sinh hiện vô ý thức, theo cuồng năng, không biết đến cứu cánh của sự Hữu là gì. Nên nhớ rằng sự Hữu là một hành trình tâm thức trong cái lý của Thời. Ðời sống và lịch sử chỉ có giá trị đến mức mà chủ thể sinh hiện tự ý thức được ánh sáng tự-Ngã bằng kinh nghiệm và làm chủ được Thời mệnh cho mình.

Sai lầm thứ Tám: Sự nghỉ ngơi, sự dừng lại, an bình là cứu cánh cho Hiện Hữu. Ðây chỉ là hư tưởng. Mọi an bình, mọi nghỉ ngơi là nghịch-Thời. Nó đồng nghĩa với sự chết, là thoái hóa, là mục rữa. Nhân loại này sống trong ước vọng của an bình, mong chờ nghỉ ngơi – chính vì thế con người chỉ biết tác hành và mong mỏi rằng lao tác bây giờ sẽ làm cho những hành động khác trong tương lai không còn cần thiết. Ðó là ảo tưởng. Như toán học sẽ giết chết chính mình và lý do hiện hữu của nó nếu như các vấn đề đều đã được lý giải. Sinh động của toán học là của các vấn đề chưa có giải đáp (open problems). Cũng là thế đối với cuộc đời: khả thể chuyển hóa, giác ngộ trong khó khăn và thử thách là biện minh cho sinh hiện. Cái lý của Thời là cơ sự không ngừng nghỉ của Hữu. Nó là ý chí Khát Sống phác họa cho chính nó một bức tranh đầy sinh khí – cái sống vĩ đại và oai hùng mà trong đó khổ đau và tang thương là gia vị cho lòng Hiếu Thắng của tự-Ngã. Kẻ nào muốn an bình, muốn hạnh phúc, muốn nghỉ ngơi là kẻ phản-Thời – là đi tìm thoái hóa, là kẻ sợ hãi cuộc đời, là không hiểu đến bản thể tự-Ngã. Thế gian này hiện hữu để cho tự-Ngã kinh qua và để vượt thắng. Sống là gì? Là khai sáng chính mình bằng Chiến Thắng cuộc đời. Vì thế, khổ đau là nhiệt lượng để tự-Ngã hiện thân trong năng lực sinh hiện.

Sai lầm thứ Chín: Ði tìm hạnh phúc bằng ca ngợi yếu đuối và lên án khổ đau. Từ sai lầm thứ Tám nói trên, triết học bắt chước thói quen tâm lý của con người bình thường bằng nỗ lực trốn tránh, bằng tâm lý sợ hãi, và từ đó lên án khổ đau. Làm như rằng con người có thể tránh khỏi được khổ đau khi nó còn duy trì một bản ngã yếu đuối và đầy bóng tối. Ý chí đi tìm hạnh phúc là ảo tưởng của những trình độ tâm thức còn bị chi phối bởi bóng tối của sợ hãi và yếu đuối – vốn là hệ quả đương nhiên của căn bệnh ích kỷ và chấp ngã. Yếu đuối là vô đạo đức vì nó cám dỗ và tác tạo bạo hành và hiếp đáp. Sợ hãi là vô minh và ích kỷ. Từ yếu đuối và sợ hãi, con người mãi sẽ là nạn nhân của thứ khổ đau thụ động – cái khổ đau do kẻ khác, do hoàn cảnh, do lịch sử đem đến cho mình.

Trong cái lý của Thời Lý & Hiện Hữu, tự-Ngã chủ động tác tạo và đem đến khổ đau cho chính mình. Ta khổ đau vì ta muốn khổ đau. Ðây là một bí quyết của sinh hữu. Ta hành hoạt trong ý thức về giá trị khổ đau vì đó là chủ ý của ta. Ta đánh thức chính mình qua khổ đau có chủ ý và nắm trọn và chủ động khổ đau bởi ý chí. Ta ý thức được rằng không có một khổ đau nào của riêng ta. Khổ đau chỉ như là một tiến trình tham dự vào màn kịch của sự Hữu mà ta là một phần trong vở kịch linh thiêng này. Ta can đảm đi vào trong gian lao của sự Hữu để ta từ chối cái ta vốn bị giới hạn bởi bóng tối sợ hãi và yếu đuối. Từ đó, nước mắt của chúng sinh là chất dung dịch hữu ích cho chức năng tan loãng và giải hóa đối với sự hữu giới hạn của ngã thể vốn chỉ biết có mình và những gì liên quan đến nó. Ta bơi trong bể lớn của nước mắt con người và ta đứng lên đầu ngọn sóng của chất mặn chát hòng thách thức khổ đau hãy làm cho ta không còn là cái ta này.

Sai lầm thứ Mười: Về nỗ lực khai mở một con đường triết học Việt ngữ, có hai khuôn mặt của một lỗi lầm. Một mặt là biến triết học thành ra một loại dân tộc học; mặt kia là hoàn toàn trừu tượng hóa những tiêu đề triết luận không liên hệ đến con người và tâm thức Việt Nam. Triết học là một sinh hoạt ngôn ngữ. Nó là bản sắc ý chí của một trình độ tâm thức trong cái lý của Thời giữa vô vàn cơ sự của Hữu. Triết học bị giới hạn bởi ngôn ngữ truyền đạt trên căn bản trình độ văn hóa và ý thức. Trong các cộng đồng văn hóa mới làm quen với triết học, như Việt Nam, thì nó chỉ đang còn là một hệ văn chương, mà kẻ tham dự bị say men với từ ngữ vốn chưa mang ý nghĩa được công nhận. (Tôi đề nghị rằng việc đầu tiên cho công trình triết học tiếng Việt là hãy kiến tạo một hệ thống ý nghĩa cho triết ngữ để chúng ta có thể truyền đạt cho nhau – a language community of shared meanings).

Triết học tiếng Việt phải kiểm thảo và phê phán những cơ sở tư duy vốn là năng động của văn hóa và con người Việt Nam – một sự đánh thức về cái lý của Thời mà con người Việt Nam đang trụ nơi đó. Thời Lý & Hiện Hữu phê phán nặng nề truyền thống tâm thức Việt Nam – từ tôn giáo đến văn hóa, văn chương – chỉ là để đánh thức năng lực Thời Ý trong bối cảnh Ðang Là. Khi rong rêu của Ðã Là quá dày, nước không thể rửa sạch. Quá khứ Việt Nam cần những chiếc dao và búa thật sắc và mạnh để phá vỡ những tảng hóa thạch của tâm thức. Hơn thế nữa – thực sự thì nhiều người cũng thấy – rằng chưa hề có triết học tiếng Việt. Một phần là vì trí thức Việt thiếu ý chí và khả năng sáng tạo. Tri thức và văn hóa Việt Nam vẫn còn đang kinh qua Thời quán bắt đầu tự-ý-thức. Việt Nam có học giả nhưng chưa có triết gia.

*


Hãy đi vào Thời Lý & Hiện Hữu như là bạn đang dấn thân vào một cơ đồ Enneagram của tâm thức: cái Sẽ Là quyết định cái Ðang Là. Tất cả đều là một ý chí tự ý thức nhằm vượt thắng cái Thời – một vòng tròn vô hạn của tự-Ngã tự phân định từ trong tâm thức qua các cõi sinh hiện. Ðây là một hành trình chuyển hóa – the alchemical journey – cho cuộc Mệnh, mà sự Hữu, qua cuộc đời, đang chờ Thời Ý tung thân vào sự sống tràn đầy. Tác giả mong người đọc hiểu và nghiệm được trái tim triết học của Thời và Hữu khi con người Việt Nam vẫn còn trầm luân trong biển đời, trôi dạt vô nghĩa như bọt sóng để rồi chìm đắm bất tận. Hãy cùng nhau nuôi hoài bảo về một noetic authority – cái thẩm quyền của hiểu biết, yêu thương và trách nhiệm. Nếu cái lý của Thời như là cánh cửa còn chưa rộng mở thì có lẽ rằng ngôn ngữ truyền đạt vẫn còn là một bức tường ngăn cách giữa ý và tình.

(henry.liem@sjcc.edu)

© 2003 talawas

 
© talawas 2026