trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
20.11.2003
Tâm Nguyên
Góp ý với Patrick Raszelenberg về “bài tập hợp” của Trương Hồng Quang thâu tóm những nhận định của Trần Ðình Hượu
 

Ðọc bài phê bình Trần Ðình Hượu (TDH) nhận định về các đặc sắc văn hóa Việt Nam của Patrick Raszelenberg (PR) với những phê phán nặng tay như: “lối tư duy khiến hổ thẹn”, “thông thái rởm”, “học giả nửa vời” v.v…, tôi thấy có vài ý kiến và vài điều nên làm sáng tỏ sau đây:

  1. Rất có thể ông Raszelenberg đã không để ý đến chi tiết: đây là bài mà ông Trương Hồng Quang (THQ) tập hợp từ những bài viết trước của ông Hượu. Trong việc làm tập hợp này ta không biết THQ đã làm như thế nào, mà việc quan trọng là THQ có cắt xén những phần lập luận, hay những sở cứ, chứng cứ của TDH hay không, khiến độc giả không tránh khỏi cảm giác chỉ thấy nói những gì mông lung, không rõ rệt, hoặc “rờI rạc”, “tưng tửng phao ra một loạt ngạn ngữ” như PR nói (chữ dịch của Lê Trọng Phương & Trịnh Hữu Tuệ (LTP & THT). Về việc này, theo quyển Chân trời có người bay của Ðỗ Lai Thúy thì trong phần Tiểu sử và tác phẩm của TDH có một luận đề mang tựa “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc”. Tôi không biết bài do THQ “tập hợp” có mang đầy đủ những chi tiết của luận văn này và có cộng thêm những nhận định khác từ những “chuyên luận” khác hay không, mà quả thật trong bài tập hợp ta thấy thiếu hẳn phần luận cứ khiến PR phải “tức mình” một cách hợp lý, bởi vì “con người lý luận” của chúng ta ngày nay đòi hỏi phải có luận cứ , luận chứng đáng thuyết phục trong những khảo cứu “khoa học” về một đề tài “quan trọng” nào đó, ví như cái đặc sắc của văn hóa Việt Nam, dù là khoa học nhân văn.
  2. Nếu quả thật THQ đã mang qua bài tập hợp của mình khá đầy đủ những gì TDH viết thì quả thật ông Hượu đã thiếu sót rất tai hại trong luận văn của mình, là đã để mất đi phần luận cứ, khiến mất đi hoàn toàn giá trị thuyết phục của nó. Nhưng tôi không tin mấy là ông Hượu đã “quên” điều này, vì đây là điều căn bản nhất cho tất cả các biên khảo, và chính ông đã từng là nghiên cứu sinh Triết học, làm luận án phó tiến sĩ tại Nga những năm 1959-1963.
  3. Nếu TDH không quên thì tại sao ông lại để cho luận văn mình mang lỗi lầm tệ hại này? Ðọc 2 bài viết của TDH tôi có 2 nhận xét:
    1. TDH không thích lập luận, dẫn chứng nhiều, có khi ngay cả tại những đòi hỏi điều này, vì có thể ông cho là dài dòng hoặc không cần thiết. Nhưng đây cũng chính là sở đoản trong cách viết của ông. Cách viết như vậy không tránh đuợc việc người đọc sẽ thấy ông viết lách thiếu chứng cớ, thiếu thuyết phục, và những điều ông đưa ra sẽ bị xem là những phán ngôn khơi khơi, lỏng lẻo, che giấu những điều còn mơ hồ, còn chưa nắm vững. Âu đó cũng có thể là hiệu quả của tàn dư cái học từ chương theo lối cũ, kiểu “thi vân, tử viết”, cái gì cũng muốn/ráng/có khuynh hướng làm cho ngắn gọn, dễ nhớ, và cả dễ hiểu, làm như cái gì cũng có thể làm cho ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, làm như đó là là tiêu chuẩn hay kết quả tối ưu cho việc giáo dục hay truyền đạt điều gì, mà không biết đến những giới hạn của cách nghĩ về tiêu chuẩn như thế. Ở mặt văn chương tư tưởng, thì cách nghĩ (bắt chước các ông thánh, ông hiền “gà mờ”) phải nói bằng cách nói ngắn gọn, ít lời, cô đọng mới là cách nói uyên thâm hay thâm thúy, mà không tự nhận ra là khoảng cách từ những kiểu ăn nói cô đọng, ngắn lời đó đến cái gọi là “chân lý” hay “tính tướng thật” của sự việc là một khoảng cách rất xa.

      Dẫn chứng: trong bài “Con Người Theo Truyền Thoáng Nho Giáo Với Vấn Ðề Hiện Ðại Hóa” [1] , thay vì chỉ nói “Ngày nay, với những thay đổi lớn lao trên thế giới, vấn đề hiện đại hóa lại đang được đặt ra”, nên kể ra đó là thay đổi gì, thí dụ tiến bộ kinh tế của các quốc gia chịu ảnh hưởng

      Khổng giáo, toàn cầu hóa và vấn đề nhân công, trẻ em, các giới hạn của văn hóa độc minh (monoculture) và đóng góp của các nguồn văn hóa bản địa hay bị xem như thứ yếu (local culture, subculture), để cho vấn đề rõ ràng hơn và tạo đuợc mạch liên lạc với bài viết mà nội dung cơ bản là con người trong truyền thoáng Nho giáo và chuyện hiện đại hóa. Hoặc ở chỗ khác, thay vì chỉ viết: “Không những càng ngày người ta càng thấy sự phát triển gắn liền với truyền thoáng văn hóa, với nhân tố quyết định hàng đầu là con người, mà truyền thoáng văn hóa Ðông Á-với nét

      đặc trưng là văn minh Nho giáo-có những mặt mạnh mà trước đây không nhìn ra”, nếu ông cho biết chút ít sự phát triển gắn liền với truyền thoáng như thế nào, hay vài mặt mạnh của Nho giáo mà trước đây không nhìn ra là những mặt nào, thì độc giả mới bớt thắc mắc mà không cho là ông chỉ “ăn nói” mơ hồ, đại lược.

    2. Nguyên ủy của lý do thứ hai, tôi nghĩ, tại sao TDH có thể đã phải viết ngắn gọn và không dẫn chứng, lập luận nhiều trong luận văn đó (và ngay cả những bài viết khác trước năm 1986 của ông) có thể là có tờ báo, cơ quan, cấp trên nào đó của ông đã ” đặt” , đã yêu cầu ông viết những nhận định của ông -như là một đúc kết những nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, và đã yêu cầu ông viết tóm gọn để cấp trên dễ đọc, dễ nhớ, hoặc để cơ quan, đoàn thể cũng dễ đọc dễ nhớ, hoặc để làm cho giáo trình cũng dễ nhớ, dễ đọc; thêm lý do chính và càng thích đáng hơn nữa là cơ quan, đoàn thể, hay cấp trên chỉ có từng đó chỉ tiêu kinh phí, để chi vào việc, ví dụ, in 500 bản, mỗi bản 10 trang cô đúc những nhận định của TDH về những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Thế thì cũng vừa hợp với khuynh hướng viết ngắn gọn của TDH rồi, và có lẽ ông cũng chả muốn kỳ kèo, cù cưa để được viết rõ ràng hơn, rồi lại in không được thì cũng phí. Xin nhắc lại một chút là năm 1986, xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn rất nghèo đói, còn “xếp hàng cả ngày”, và những chuyên viên vẽ bánh vẽ cho xã hội này còn đang mơ tưởng tới cái “thiên đường tràn ngập chuối” mà trong đó người dân chỉ cần leo lên hay rung cây là chuối rớt xuống, khỏi cần phải cạnh tranh cầu tiến làm ra các loại dụng cụ hái chuối làm chi, để “tránh cái bẩn của sự vong thân con người” (man’s alienation) do các mâu thuẫn kinh tế gây ra. Trong hoàn cảnh đó, việc xin được một khoản tiền, một khoản giấy nhỏ cũng đầy gian nan, làm gì dám đòi hỏi để “lập luận, dẫn chứng” cho kĩ lưỡng.
  4. Qua mấy điều vừa kể, nếu THQ đã không tập hợp đầy đủ chi tiết bài vở của TDH, thì dĩ nhiên TDH không đáng trách. Nếu TDH đã để luận văn của mình thiếu lập luận, dẫn chứng vì lý do 3a thì đó là điều người đọc có thể trách ông. Còn nếu ông nằm trong trường hợp 3b thì ta cũng chả thể đòi hỏi gì hơn .
  5. Xong chuyện TDH đã có thể thiếu lập luận, dẫn chứng, chúng ta hãy trở lại với những nhận xét của Patrick Raszelenberg (PR) trong những dòng trích chữ nghiêng trong bản tiếng Việt do LTP & THT dịch:
    1. PR viết: “Những đoạn nhưSự thoáng nhất ở đây được thực hiện đơn giản bằng cách kết hợp tư tưởng bản địa với tư tưởng Tam giáo, Âm dương, Ngũ hành và các yếu tố khác“, đầy cám dỗ qua cung cách giãi bày thật dễ dãi và phản phân tích.” Tôi đồng ý; lý do như đã nói: thiếu dẫn chứng, luận cứ.
    2. “Điều đáng kinh ngạc là ở đây Nho giáo được xem là “xương sống của khoái liên kết đó.” Đúng hơn phải nói rằng trong số các yếu tố ấy, Nho giáo tác động mạnh nhất hoặc có tác dụng lớn nhất ở Việt Nam. Trình bày theo kiểu như thể những yếu tố khác chỉ hình thành và phát triển quanh cái lõi Nho giáo là không chính xác.” Ở đây, nói như PR cũng đúng hơn TDH, Nho giáo chỉ cho tới cuối thế kỷ 11 và đầu tk12, khi Lý Thánh Tông cho lập Văn miếu và Nhân Tông cho mở khoa thi Minh kinh đầu tiên, lúc đó Nho giáo mới được “chính thức” trở thành “một trong những chương trình giáo dục” được học tập, giảng dạy “Khổng học” bên cạnh những “đề mục giáo dục”, những “gia huấn” của đình chùa, gia đình, thành ra không thể bảo Nho giáo là “xuơng sống cuả khoái liên kết” đó, ít nhất là từ cuối đời Trần về trước, khi Phật giáo còn ảnh hưởng rất lớn từ cung đình ra tới làng xã, mà Trần Quốc Vượng gọi là thời kỳ “quân chủ Phật giáo” [2] , rõ nét hơn từ 3 triều Tiền Lê-Lý-Trần.
    3. Tác giả này viết tiếp: ‘Ðạo đức Nho giáo là đạo đức của con người hình dung mình sống trong gia đình, gia tộc, làng xóm, nước, thiên hạ, trời đất, một thế giới gồm những cộng đồng từ nhỏ đến lớn hình dung theo mô hình gia đình mở rộng’. Viết như Trần Đình Hượu như thế thì đúng là vay mượn gần như nguyên văn thuyết cửu đoạn của sách Đại Học, chỉ khoác lên đó cái áo bằng từ ngữ riêng của mình chứ chẳng có gì mới cả. Dù thế, khẳng định đó vẫn sai, vì vấn đề ở đây không phải là đạo đức Nho giáo mà chính là cái thế giới quan. Tất nhiên là tác giả nói tới đạo đức của giới cai trị song điểm chính ở đây là cái thế giới quan làm nền tảng cho hình thức cai trị cá biệt, cai trị qua cung cách có tính cách gương mẫu cho mọi người. Nói cho rõ: Phần cực ít từ ngòi viết của chính tác giả (Trần Đình Hượu) thì vô nghĩa vì ông tỏ ra không muốn suy ngẫm gì cả về văn bản mà chỉ nhởn nhơ nhại lại.”



      Ðến đây thì PR bắt đầu lập luận lung tung, bậy bạ rồi. Thật ra, TDH chẳng khẳng định gì trong câu “Ðạo đức Nho giáo là đạo đức…”. Ðó chỉ là một nhận định có tính cách mô tả (a description, a descriptive statement) qua những kinh nghiệm bản thân trong môi trường sống Việt Nam, qua học hỏi, cảm nhận, suy nghĩ từ gia đình, xã hội và sách vở. Nó mang nhiều tính cách mô tả, chứ không là một mệnh đề khẳng định kèm theo một giá trị để phán đoán đúng sai, ví dụ như: tôi thấy hình học phẳng là một môn học lý thú; những cách tính khoảng cách, độ cong, góc cạnh liên hệ với nhau thật hay. Ðây không phải là mệnh đề kiểu: tôi thấy hình học phẳng thật hay vì có thể chứng minh tổng số ba góc của một tam giác là 180 độ. Cứ cho là tính cách phát biểu của TDH cũng có mang một phần nào đó khẳng định như PR nghĩ đi, vì tính cách khẳng định (affirmative) của nó được phát biểu theo trên hình thức kiểu: A= B (A là B), nhưng xin nhắc PR là mức khả tín (reliability) thấp hay rất thấp về sự khẳng định trong lôgíc hình thức, trong các khảo cứu của khoa học nhân văn khi ý nghĩa về sự đồng nhất hay tương đương chưa đuợc xét đoán rõ ràng.
      1. Tiếp đó, PR cho rằng: khẳng định đó vẫn sai. Vậy PR cho biết “Ðạo đức Nho giáo là …” thế nào thì đúng?
      2. khẳng định đó vẫn sai, vì vấn đề ở đây không phải là đạo đức Nho giáo mà chính là cái thế giới quan…”: Sao PR biết “vấn đề ở đây” không phải là đạo đức Nho giáo mà lại chính là cái thế giới quan? TDH đang cố gắng mô tả cái “đạo đức Nho giáo” theo cảm nhận – hình dung – chiêm nghiệm của ông. Nếu “bức tranh” mà ông đang vẽ ra không “hiện thực”, hợp ý, hợp với “cái lý của PR, thì PR có thể đưa ra một bức vẽ khác cho mọi người nhìn ngắm rồi thẩm định xem cái nào “đẹp” hơn, chứ khó nói cái nào “đúng” hơn. Sao đùng một cái PR lại quay phắt 90 độ và nhẩy từ phạm trù “đạo đức” sang “thế giới quan” và bảo đấy mới chính là vấn đề. Như vậy có võ đoán và tuỳ tiện quá không? Tôi đọc đoạn này thực sự không thấy cái ý niệm về “thế giới quan” như PR nói đâu. Cái thế giới quan mà PR nói là cái “world view” thường thấy trong thần học Ki-tô giáo, Hồi giáo, hay của các triết gia Tây phương. Ðó là điều rất xa lạ với Khổng giáo/Khổng học. Nó có đuợc bàn tới (nhưng với hình ảnh, ý nghĩa, ý niệm, vấn nạn rất khác với thần học – thế giới quan Âu châu) ở phần Hình nhi thượng của Khổng học và được một ít Tống nho gia như Lục Tượng Sơn, Trình Minh Ðạo bàn tới, nhưng ở Việt Nam thì rất ít học giả – nho gia nào bàn tới, ngoại trừ Lê Quý Ðôn có nói tới chút chút trong “Vân Ðài Loại Ngữ” . Và tuy Hượu có viết chữ “thế giới” trong đoạn đó, cái “thế giới” mà ông nói tới là cái thế giới đầy những liên hệ có nghĩa nhân sinh quan, trong đó con người Việt hay Hoa tới lui, giao tiếp, cảm nhận rồi dần dần hình dung về nó trên những liên hệ như cha-con, vua-tôi, thầy-trò, vợ-chồng, anh-em,

        bè-bạn v.v…, trên những căn bản tình cảm/xử kỷ tiếp vật, chứ không với một cái “bản đồ” vẽ các tầng trời, rồi vạn vật, rồi khoanh khoảng cho người như cách nghĩ của các văn thi gia, thần học gia Trung cổ và trước đó ở Âu châu. Không phải vô cớ mà có người nhận định Triết Ấn thì đối Ngã, Triết Tây thì đối Vật, còn Triết Hoa thì đối Nhân (liên hệ/tình cảm con người).
      3. Tất nhiên là tác giả nói tới đạo đức của giới cai trị song điểm chính ở đây là cái thế giới quan làm nền tảng cho hình thức cai trị cá biệt, cai trị qua cung cách có tính cách gương mẫu cho mọi người.”



        Sao lại “tất nhiên” (obviously)? Và cái gì tất nhiên ở đây? Obviously, cái mà TDH nói tới là đạo đức được giảng dạy, cảm nhận, tiếp thu trực tiếp hay gián tiếp, nhiều hay ít trong các giới quần chúng Việt Nam, từ giới có học cho tới giới bình dân, đặc biệt là các nho gỉa có nhiều đồng cảm với Nho giáo, chứ đâu thể riêng là đạo đức của giới cai trị. Và, một lần nữa, cái gọi là “thế giới quan làm nền tảng cho hình thức cai trị” trong quan điểm của PR vẫn là cái “quan niệm” về tôn ti, trật tự có tính xã hội và “thực tế” để điều lý, điều hành xã hội cho thuận theo thiên mệnh để tôn miếu, xã tắc được yên, để “mưa thuận gió hòa”, trăm họ được yên vui, no ấm, chứ không phải một hình ảnh của trí tưởng đơm kết từ những hoài vọng, ước muốn mang tính cách thần học – tôn giáo.
      4. Cung cách viết nhập nhập nhằng nhằng như thế đầy dẫy trong bài: ‘Người Việt Nam không có tâm lý kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học …. [tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà.’

        Ðây là cả đoạn TDH viết, xin trích lại để mọi người cùng đọc và suygẫm:

        Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật. Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội hoạ… phát triển rất cao ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hoá thành đặc sắc văn hoá của dân tộc đó. Ở ta thần thoại không phong phú, hay là có nhưng một thời gian nào đó đã mất hứng thú lưu truyền? Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển. Người Việt Nam không có tâm lý kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê

        tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt, nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lí. Không có một ngành khoa học, kĩ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thoáng. Âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ. Trong các ngành nghệ thuật, cái phát triển nhất là thơ ca. Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì lại không có. Xã hội có trọng văn chương, nhưng cũng chưa bao giờ tôn ai là thi bá, và bản thân các nhà thơ cũng không ai nghĩ cuộc đời, sự nghiệp của mình là ở thi ca. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá.

        Tôi không thấy có gì có thể “kêu lên” là TDH viết nhập nhập nhằng nhằng ở đoạn văn này. Như đã nói, chỉ có thể than phiền là ông thiếu dẫn chứng ở chỗ này, chỗ nọ cho rõ ràng hơn, nhưng cũng không thể phủi tay mà cho là những nhận định ông đưa ra là không có giá trị riêng của chúng.

      5. “Cách xử lý vấn đề hiện đại hoá cũng khiến ta phải kinh ngạc tương tự: ‘Ta nên phát huy khả năng truyền thoáng du nhập và linh hoạt ứng dụng để nhanh chóng có cái hiện đại, hay tìm tòi từ đặc sắc dân tộc cái của mình?’ Vấn đề đặt ra như thế là sai vì nó chẳng nêu lên một mâu thuẫn cho phép chọn lựa chỉ cách này hoặc chỉ cách kia. Truyền thoáng du nhập và ứng dụng linh hoạt, cứ theo ông Hượu thì đã có sẵn trong những đặc sắc dân tộc rồI (xem đoạn 9 của bài). Vì thế mà chúng ta nên xem xét tại sao ở đây lại có lập luận rằng đó là một mâu thuẫn. Rõ ràng là người ta gán tính bất biến nào đó và hành vi choáng chọi cải đổi vào những yếu tố được gắn chặt với “đặc sắc dân tộc”.



        Ở đây tôi đồng ý với PR.
      6. “Hiểu đặc sắc văn hoá dân tộc còn là giải phóng cho sức sáng tạo, nói đúng hơn là tìm phương thức vun xới cho sức sáng tạo. Trong nền văn hoá cũ, sức sáng tạo của ta không khỏi có khuynh hướng tiểu kĩ, ứng dụng, thiếu những sáng tạo lớn. Ðó là con đẻ của tinh thần thiết thực.” Giả như đó thực sự là con đẻ của tinh thần thiết thực thì hẳn không phải cái “nền văn hoá cũ” của Hượu. Ta cũng nên để ý rằng tinh thần sáng tạo – Hượu thì nói tới “sức sáng tạo” – xưa kia lẫn ngày nay đều không được khuyến khích. Luận cứ thường được đưa ra rằng đó là vì những điều kiện sống (như nghèo đói, sự tập trung vào cái chính, đấu tranh để tồn tại vv.) khiến phải thế và không để sức sáng tạo bung ra và khai triển từ quần chúng – và nếu có như thế đi nữa, thì lại bị tướt đi, tách rời khỏi quần chúng, đẩy ra nước ngoài để mà họ có thể tìm thấy ‚những điều kiện thích ứng’ ở nơi khác và tận dụng chúng – luận cứ ấy chỉ là một lối nói quanh, vì việc này không liên quan gì nhiều đến việc nọ. Chính lập luận của Hượu chỉ ra cho ta thấy một điểm vốn

        thường bị che lấp và lại càng hiếm khi được đưa ra làm đề tài, đấy là: sáng tạo chỉ có thể tự phát triển trong tự do và khi không chịu sự ràng buộc nào. Và một khi được thế, cuộc tìm kiếm nhận thức mới tất nhiên có thể dẫn đến những hình thức cùng cực đòi hỏi phải tập trung triệt để vào việc đang làm và xem mọi thứ khác là không đáng. Sự kiện này thì lại khiến phải có nhiều thay đổi trong những điều kiện sống, và một vấn đề thường hay bị lờ đi có thể là như thế này: ngay chính lúc đó, cái sức ép tập thể khổng lồ của xã hội Việt Nam mới lộ rõ: Những thay đổi điều kiện sống, tập quán, điều kiện lao động vv., một khi ‚trật luồng’, sẽ bị xem là ‚lập dị’ và sẽ bị ứng xử tương xứng (nghĩa là chẳng có ‘thông cảm’ gì cả), điều này tương đối dễ làm cho cá nhân bị mất đi một phần đời sống xã hội của mình”



        Ở đoạn này tôi thấy TDH quả là có “lù mù” (phần lớn cũng vì cái kiểu nói “ngắn gọn rồi thôi” của ông. Thế nào là “Hiểu đặc sắc văn hoá dân tộc còn là giải phóng cho sức sáng tạo, nói đúng hơn là tìm phương thức vun xới cho sức sáng tạo”? Phải nói cho thật rõ ràng ra. Theo cách hiểu của tôi thì cách chuyển vận của ý tưởng TDH là: Nếu ta hiểu đặc sắc văn hóa dân tộc, tức là ta có thể thấy được mặt hay, mặt dở của nó, vì vậy ta có thể tìm cách vun xới nó. Nhưng cái lối suy luận “lờ mờ” như vầy thì chả thuyết phục được ai. Thứ nhất, thế nào là “hiểu đặc sắc văn hóa dân tộc”? Chưa kể tới các vấn đề khái niệm, tiêu chuẩn trong văn hóa mà còn phải bàn cãi dài hơi, ngay mới 3 đơn vị chữ trong phát biểu này đã gây ra biết bao lôi thôi, tranh biện rồi. Một, văn hóa, một khái niệm ngày nay bao trùm hết tất cả các hoạt động tinh thần và vật chất trong lối sống của xã hội, thế thì chọn ra cái nào đây? Hai, dân tộc, dân tộc có là một khối người “đứng yên, không thay đổi” không, các đồng bào thiểu số, số người có hôn phối từ các giòng máu khác nhau với nhiều tập quán, sinh hoạt văn hóa khác nhau có được kể vào với “nguời Kinh” không? Và nếu thật sự quyết tâm cho là có thì lại sinh thêm biết bao khuôn mẫu, hình thái, cách thức v.v…và v.v…cho cái bồ văn hóa, rồi biết lấy cái nào “làm đại diện”, bỏ cái nào? Ba, cái đặc sắc, tiến thêm một bước nữa trong chuyện “sàng” cái bồ văn hóa, biết thực sự cái nào là cái đặc sắc, hay là chỉ có thể bỏ phiếu quyết định “cho xong” mới giải quyết được. Ðó là điều xảy ra trong

        lý do thứ hai: “ai, những ai sẽ là người hiểu đúng?” cái nào hay cái gì là đặc sắc văn hóa của cái bồ văn hóa đa nguyên, đa dạng, đa “hổ lốn” và biến hóa đó? Hãy mời thử 30 hay 100 ông tiến sĩ hay chuyên gia về văn hóa các tộc người, xem các ông ấy có thể đồng thuận với nhau như thế nào

        về các định nghĩa, yếu tố, thành phần, phẩm chất, điều kiện v.v… của cái gọi là văn hóa, rồi sau đó là đặc sắc văn hóa, thì cuối cùng tôi thấy giải pháp hay nhất cũng sẽ gần giống như “đổ xí ngầu” rối “biểu quyết” trong những cái đã và đáng lý còn phải cãi nhau chí chóe, sau khi đã “sàng” ra. Thực ra, cái lỗi ở cái lỗi là ở mặt “phương pháp luận” của TDH. Ông tưởng cách giải quyết để “giải phóng” hay vun xới cho sức sáng tạo nằm ở chỗ đọc sách, suy nghĩ, khái quát hóa, chiêm nghiệm rồi tìm ra “đáp án” cho vấn đề. Nhưng thực tiễn vấn đề sẽ không giản đơn, sơ lược và có thể giải quyết theo cung cách “lý thuyết hóa” như ông đã viết, mà một phần khó khăn đã được nêu lên trong mấy lý do kể trên. Tức là bài toán đã được ông đơn giản hóa đến tối đa, và cũng đã đuợc nhiều người nói tới: đó là làm sao bớt cái “tiểu kỉ, ứng dụng”, tìm biện pháp xây dựng tinh thần tìm tòi, khám phá “cái lớn”. Nhưng dĩ nhiên, khi bài toán được đơn giản tối đa thì chỗ áp dụng chỉ là trên giấy mực.

        Với cách “hiểu ý” (đặng ý quên lời) câu viết “Hiểu đặc sắc văn hóa dân tộc…” trong ý nghĩa “tìm những đặc tính” (mà TDH trả lời là tiểu kỹ, ứng dụng và thiếu sáng tạo lớn) thì theo tôi, TDH cần viết như vầy thì rõ ràng hơn và bớt đi việc hiểu sai ý: “Thử nêu vài đặc tính/ khuynh hướng tinh thần người Việt qua việc tạo ra các “phẩm văn hóa”. Khi đã làm được sáng tỏ câu hỏi thì ta sẽ thấy 2 trong 3 đặc tính “văn hóa” TDH đưa ra là có chỗ sở dụng, đó là khuynh hướng hay tinh thần (propensity or mind) tiểu kỹ, ứng dụng. Ðây cũng là kinh nghiệm bản thân của tôi trong những năm học tiểu và trung học ở quê nhà. Trong đa số các môn học, các thầy luôn cố làm sao bài giảng của mình ngắn gọn và luôn có khuynh hướng đúc kết “những điểm chính” cho bài học dễ nhớ và bảo học trò nhớ, ngay cả trong toán, lý, hóa là những môn cần nhiều suy luận hơn là nhớ công thức. Trong ba môn này, các thầy “khá hơn” cũng chỉ nắm tay học trò để chỉ con đường dẫn tới công thức, mà rất thuờng không giảng cho là tại sao lại phải đi con đường ấy, không khuyến khích tìm hiểu tại sao phải đi con đường ấy hay phải tìm một con đường khác cho “vấn đề”càng sáng tỏ hơn ra. Tôi tin là không phải các thầy không biết, vì với kinh nghiệm giảng dậy bao năm tháng, thế nào các thầy cũng biết, nhưng duờng như các thầy cho là có biết như thế cũng chưa chắc mang lại lợi ích gì, bởi bể học thì mênh mông, tụi nó thì sắp sửa lính tráng tới nơi, đứa thì nghèo khổ, mong sao cho nó học mau ra, kiếm cái bằng nào đó kiếm sống, đứa thì gánh nặng gia đình quá lớn, bắt nó sưu khảo thêm, học thêm nữa thì đã có ích gì, thằng thì “học hoài sao không thấy tiến bao lăm” thì bắt nó khổ hơn nữa với mớ kiến thức này làm chi, vì với cái cách lĩnh hội của nó thì Quang Trung hay Ðồng Ðế cũng sớm gọi tên thôi, còn thằng kia ham chơi quá, có nhét thêm cho nó thì nó cũng nhanh chóng trả lại cửa trường mà thôi. Ðại loại, theo tôi, tâm sự nhiều thầy đều chừng như thế, tức là ngoài việc dậy dỗ kiến thức, các thầy còn như hay “tự vấn” về vấn đề “để làm gì”, “để thế nào có lợi ích thực tế cho chúng nó”, như hình ảnh còn sót lại của một lương sư Nho giáo, tức nói, ngoài việc truyền thụ kiến thức, ông thầy “có lương tâm” còn phải coi xem việc truyền thụ của mình mang lại ích lợi thiết thực nào cho học trò, mà vô hình trung các thầy lược giản, cắt giảm con đường tiến vào bể học. Các thầy có lẽ đã băn khoăn nhiều hơn về mục đích ích dụng, thiết thực, thực tế hơn là việc truyền dậy kiến thức nên đã áp dụng đường hướng sư phạm như thế. Bây giờ ngẫm lại mà thấy thương mấy thầy.

        Muốn giải thích sao thì cứ tùy thích, rằng đó là sự tồn đọng “đáng trách, đáng ghét” của tinh thần từ chương, học thuộc lòng cái ngắn gọn của nhà Nho, hay “con đẻ của tinh thần thiết thực”, hay ấn tích của tinh thần tiểu kỹ, ứng dụng, hay sự hài lòng dễ dãi với các chuẩn độ, nhưng đó là một điểm tế nhị trong hoàn cảnh thực tế của vấn đề giáo dục tại Việt Nam, mà giáo dục lại ở bậc thang cao trong các giá trị văn hóa.

      7. Cả đoạn nhận định trên của PR: “Giả như…đời sống xã hội của mình” tôi thấy có những phần hợp lý, thí dụ sáng tạo chỉ có thể tự phát triển trong tự do, riêng phần: Giả như đó thực sự là con đẻ của tinh thần thiết thực thì hẳn không phải do cái “nền văn hoá cũ” của Hượu. , nếu PR nói hẳn không phải do cái “nền văn hóa cũ” thì PR cho đó là do cái gì?

  6. Như đã nói, tôi cũng rất đồng ý với ông PR là trong “bài tập hợp” do THQ làm, những nhận định của TDH gần như thiếu hẳn phần lập luận, dẫn chứng, nhưng trong bài thứ hai tôi đọc thì vẫn có. Có điều thành thật mà nói tôi đọc cả hai bài trên không thấy cái vẻ gì là ông TDH “đóng vai thông thái rởm”. Còn về cái gọi là “lối tư duy khiến phải hổ thẹn” thì tôi nghĩ PR đã hoàn toàn quá lời, không nên.
  7. Góp ý với PR và chút ít về bài viết của ông TDH như vậy cũng đủ. Xin trở lại một chút về chuyện ông Hượu có thường đưa ra các lập luận, chứ không phải chỉ khơi khơi đưa ra các “phán ngữ”, thì qua 2 bài viết của ông (một bài vì là tập hợp do THQ mà ta không biết THQ có cắt xén gì không, và chỉ chứa đa số những nhận định ngắn gọn, nên ta không thể nói gì, còn bài kia là “Con Người Theo Truyền Thống Nho Giáo Với Vấn Ðề Hiện Ðại Hóa”, tôi thấyTDH có lập luận, dẫn chứng khi ông thấy cần, còn những chỗ khác mà người khác có thể thấy cần thì ông lại bỏ qua. Ðọc lại bài CNTTTNGVVDHDH tôi vẫn thấy cảm tưởng là ông không thích lập luận, dẫn chứng nhiều như đã trình bày trong 3a.

© 2003 talawas


[1]Ðỗ Lai Thúy, “Con Người Theo Truyền Thống Nho Giáo Với Vấn Ðề Hiện Ðại Hóa,” Chân Trời Có Người Bay (Hà nội, 2002), tr.299-305

[2]Trần Quốc Vượng, Văn Hóa Việt Nam-Tìm Tòi và Suy Gẫm (Hà nội, 2000), tr. 795.

 
© talawas 2026