Philip Marchand
Hiện tại chúng ta
cần thơ tới ngần nào. Khi những chiếc tháp vĩ đại biến thành lửa
và tro, và người chết nằm hỏa táng dưới gạch đá đổ nát thì chỉ
ngôn ngữ của thơ là tinh sạch và đủ mạnh để nói lời ai oán.
Nếu tìm không thấy ngôn ngữ ấy, chúng ta còn cảm thấy trơ
vơ và hụt hẫng hơn nữa. Ðó là lý do hết thảy chúng ta trông chờ
tổng thống Hoa Kỳ, vào tối hôm xảy ra cuộc tấn công khủng bố, sẽ
nói đôi lời ngang tầm biến cố. Rủi thay, diễn từ của George W.
Bush nghe như thể đang bám víu những lời lẽ và khẩu hiệu sách
động: ‘Không một ai trong chúng ta quên mãi mãi hôm nay, và lúc
này, chúng ta bước tới để bảo vệ nền tự do và tất cả những gì
thiện hảo và công chính trên thế giới’. Ông đã nói như thế, và
trong cụm từ cuối câu ấy, có điều gì tuyệt vọng, như một đứa bé
ráng sức xác quyết rằng cái người ta cố tình làm thương tổn nó là
kỳ dị và gớm ghiếc biết mấy.
Thơ có thể giúp Bush. Không
ai nhớ lắm những lời Ronald Reagan nói trong diễn từ tưởng niệm
đoàn phi hành tàu con thoi không gian Challenger năm 1986, nhưng
người ta còn nhớ cụm từ ‘lướt khỏi những ràng buộc eo sèo của trần
thế’ mà Peggy Noonan, người viết diễn văn cho ông, trích từ bài
thơ của một chí nguyện quân Mỹ trong Lực lượng Không quân Hoàng
gia Canada thời Thế Chiến Thứ Hai.
Rồi sau tối đó, những người
viết diễn văn cho Bush ngày càng vững bụng; tuy thế, những gì ít
ỏi chúng ta nghe từ các nhà chính trị và nhà bình luận truyền hình
Mỹ và Canada vẫn chưa làm thỏa mãn nỗi thèm được nghe diễn tả
những gì mình kinh qua bằng một lối nói thành tâm và chân thật.
Nhu cầu đó khiến Dana Gioia, một nhà thơ và nhà phê bình hiện sống
ở California sửng sốt khi ông thực hiện một chuỗi các buổi nói
chuyện và đọc thơ vào những ngày liền theo sau cuộc tấn công khủng
bố. Ông luận giải: ‘Lúc đó, tôi nghĩ rằng hội trường sẽ trống,
nhưng thay vào đó, tôi đối mặt với các hội trường chật ních. Tôi
nhận ra rằng người ta đang khao khát được nghe ai đó, ngoài hệ
thống truyền thông thương mại và lãnh vực chính trị, thử nói cho
rõ ràng những gì đang diễn ra. Ðó là điều hẳn các nhà thơ thời đại
trước đây cũng cảm thấy khi họ ở gần tâm điểm của văn hoá chứ
không phải là những trí thức chuyên biệt làm việc bên những rìa
mép của văn hóa. Và các nhà thơ, không kém những công dân Mỹ, thấy
mình bị mắc vào một tình trạng không chuẩn bị trước. Chúng ta
chẳng nhờ cậy được nhiều nhặn gì vào lịch sử của mình’.
Hẳn ta phải lùi lại thời Nội Chiến [1861-1865] và tìm thấy
một cơ hội mà thảm kịch lớn lao của đất nước làm phát sinh trong
thơ Mỹ lời ai oán cùng cực. Walt Whitman viết trong bài thơ ‘When
Lilacs Last In The Dooryard Bloom’ (Cuối cùng, khi hoa tử đinh
hương nở trước sân nhà):
Tôi thấy la liệt xác chết
Tôi thấy xương trắng thanh niên
Và tôi thấy
muôn mảnh vụn thây người tử trận
Nhưng thật trăm phần
không như tôi tưởng
Họ nghỉ ngơi an bình chẳng chút khổ
đau
Chỉ người sống sót đau
Mẹ đau, vợ con
đau
Ðồng đội trầm ngâm đau
Và các đoàn quân
ở lại đau.
Ðúng vậy đó. Ở Manhattan và Washington,
người chết bên dưới tro than không đau khổ, nhưng người mẹ đau
khổ, và người cha, người vợ và người chồng, đứa con, và ‘các đoàn
quân ở lại’ – tất cả chúng ta lúc này – chúng ta đau khổ. Hôm nay,
ngôn ngữ của Whitman đánh động sâu xa lòng người không kém thời
ông viết bài thơ đó năm 1865.
Tuy thế, từ Whitman tới nay,
trong thơ Mỹ lẫn thơ Canada đều phát sinh quá ít kiểu mẫu hoặc cảm
hứng trước tình trạng bi thảm tập thể. (Sự nổi tiếng lâu bền của
bài thơ ‘In Flanders Field’ (Trên chiến địa Flanders) của McCrae
làm chứng cho nhu cầu sâu xa là sự diễn tả những gì người Canada
nếm trải trong Thế Chiến Thứ Nhất – một kinh nghiệm mà đối với
Canada chấn thương không kém Cuộc Nội Chiến đối với Hoa kỳ).
Albert Moritz, một nhà thơ hiện sống tại Toronto vừa nêu ý
kiến: ‘Người Mỹ từng có thời cảm thấy mình tách biệt với một số
những tai họa kinh khiếp giữa người và người, những vụ giết người,
những cuộc tàn sát tập thể. Cho rằng người Mỹ là một dân tộc nhởn
nhơ và tương đối hạnh phúc là một quan điểm có thật và nó còn phản
ánh trong thơ Mỹ nữa. Tại Mỹ, có bi thương nhưng chủ yếu là bi
thương cá nhân. Thỉnh thoảng một nhà thơ có thể cất tiếng than vãn
cho một người và biến nó thành biểu tượng cho cả nước, nhưng nó
không đạt sống động ngang mức tâm hồn và bản thể đòi hỏi, và nó
như thể thơ trào phúng. Tại Mỹ, khá vắng cái bi thương thật sự’.
Charles Martin, một nhà thơ nổi tiếng tại thành phố New York,
đồng ý rằng thơ Bắc Mỹ đang hầu như mang tính cá nhân chủ nghĩa
ngột ngạt: ‘Thông thường, dường như nó không nói với một cử tọa ở
bên ngoài nhà thơ và tôi cho rằng để bắt đầu cho loại tình trạng
mà chúng ta đang nói tới đây thì đó là cái trở ngại có thật. Ðối
với thơ, thường có khía cạnh chữa bệnh – như thể mục đích của nhà
văn nhà thơ là tự chữa trị mình’.
Gioia cũng nhận thấy cái trở
ngại đó. Ông chỉ ra: ‘Hơn phần tư thế kỷ vừa qua, thơ Mỹ không
phải là thơ có tính đại chúng. Nó là thơ được viết ra hoặc bằng
ngôn ngữ văn chương rối rắm, hoặc nếu nó được viết bằng ngôn ngữ
có thể tiếp cận thì chỉ nói tới những kinh nghiệm rất riêng tư.
Nói cách khác, thơ của chúng ta hoặc nói như ngôn sứ hoặc xưng
tội’.
Cả hai bút pháp, ‘nói như ngôn sứ’ – một sự truyền đạt
mang tính huyền bí giáo phái nhắm tới số ít người – hoặc xưng tội,
đều không thích hợp với điều mà hiện nay chúng ta đòi hỏi nơi thơ.
Moritz tin rằng chúng ta, vì những kiểu mẫu của mình, hẳn phải
quay lại các nhà thơ châu Âu nửa sau thế kỷ hai mươi vừa qua.
Moritz chỉ ra: ‘Thơ thì mang tính cách qui mô rộng lớn hơn là vấn
đề bi thương và sầu khổ. Nó ngấm đẫm trong nhu cầu ứng xử với sự
mất mát và sự không tương xứng của ngôn ngữ nhằm nhận thức thấu
đáo sự mất mát đó’.
Có lẽ thật ý nghĩa khi tạp chí The New
Yorker, số ra ngay sau ngày có cuộc tấn công khủng bố, chỉ chứa
đựng duy nhất một bài thơ – của một người Ba lan. Martin suy đoán:
‘Tôi nghĩ đó có lẽ là vì những bài thơ do người Mỹ viết mà họ lưu
trữ chỉ có tính cách quá đỗi riêng tư và chắc là không liên quan
tới trạng huống này’.
Chắc chắn trong những năm vừa qua,
tại Canada và Mỹ không tác phẩm nào sánh nổi giọng ai oán như
trong tác phẩm của nhà thơ Anna Akhmatova, một người viết sống
dưới kỷ nguyên Staline. Bài Requiem (Kinh Cầu Hồn) được bà viết ra
sau khi con trai bị mật vụ bắt:
Tờ mờ sáng họ đến đem
con đi mất
Con là kẻ mẹ đưa tang: mẹ bước đằng sau
Bài thơ ấy xé ruột và có tính cá nhân, nhưng cũng ôm vào
nó các phụ nữ khác, những người giống như bà, sáng sáng xếp hàng
bên ngoài nhà giam trông ngóng tin tức người thân yêu – và qua
những phụ nữ đó, bài thơ ôm ấp được cả đất nước. Akhmatova viết
tiếp:
Và mẹ đâu cầu nguyện cho riêng mình mẹ
còn cho tất cả những người đứng bên ngoài trại giam
trong lạnh buốt hay chói chang mùa hạ
bên mẹ
dưới bức tường đỏ mù lòa
Cái hoang vu lạnh lẽo, cái
giọng đau đớn tê dại vì mất mát đó hầu như có thể tìm thấy trong
tác phẩm của Paul Celan, một người Do Thái sinh ở Rumania, mất cả
cha lẫn mẹ trong Cuộc Tàn Sát Khủng Khiếp của Ðức Quốc xã. Celan
viết trong một bài thơ:
Cây liễu của mẹ cha lung
linh lá trắng trong bóng tối
Tóc mẹ rồi chẳng bao giờ
bạc
Nhà thơ tiếp tục một chuỗi các diễn tả não lòng
những vật khác nhau, so sánh chúng với mẹ mình – những so sánh rất
mộc mạc và mạnh tới độ chúng vượt quá tính cách cá nhân:
Mây sũng mưa có chờn vờn trên giếng
Nơi mẹ
thầm quét cho mọi người
Trong một bài thơ nổi tiếng,
‘Death Fugue’ (Liên Khúc Về Cái Chết), rút tỉa từ kinh nghiệm
chính mình trong các trại tử thần của Ðức Quốc xã, rõ ràng Celan
viết theo cái nhìn của cộng đoàn – trong trường hợp này, cộng đoàn
của những người bị kết án. Ông viết:
Sữa đen rạng sáng
chúng tôi uống lúc xế chiều
Chúng tôi uống giữa trưa
trong buổi sáng chúng tôi uống ban đêm
Chúng tôi uống
và chúng tôi uống.
Chính cái ‘chúng tôi’ bị quên lãng
đó, cái hoà hiệp tính riêng tư và tính toàn thể đó, là cái các nhà
thơ đương đại Mỹ và Canada cần triệu lên nếu họ muốn thể hiện trọn
vẹn những biến cố vừa qua.
Trong khi làm điều đó, có thể họ
phải hi sinh cái ‘ngôn ngữ văn chương rối rắm’ mà Gioia nói tới.
Nhưng thêm lần nữa, điều đó có tiền lệ dồi dào trong thơ châu Âu
thế kỷ hai mươi. Nhà thơ Ý Salvatore Quasidomo, sinh năm 1901, bắt
đầu sự nghiệp là thành viên của cái lúc đó được gọi là trường phái
‘Hermetic’ (Thơ hũ nút), vốn quả thật vô địch về ngôn ngữ văn
chương rối rắm. Nhưng trong tâm trạng căng thẳng thời chiến và
việc xứ sở bị Ðức Quốc xã chiếm đóng, Quasimodo đã đơn giản hoá
thủ pháp của mình – và cũng dùng ‘chúng tôi’. Ở một trong các bài
thơ về sau, ông tự hỏi:
Và chúng tôi, làm sao có thể
hát
với bàn chân ngoại lai trên tim mình
giữa những người chết xác bỏ trong công viên
trên cỏ, cứng đờ giá băng
trước tiếng be be
trẻ em kêu
trái tim người mẹ mịt mùng
đi tới
đứa con
bị đóng đinh trên cột
Dường như câu
trả lời cho vấn nạn của ông là trong một số cơ hội, thí dụ như cái
chết của hàng ngàn người trong cuộc tấn công khủng bố, nhà thơ có
thể vẫn hát nhưng bài hát của nhà thơ hẳn là môt bài truy điệu.
Robert Desnos, nhà siêu thực Pháp, dưới sức ép của chiến tranh
và chiếm đóng, đã chuyển dịch mình khỏi những thử nghiệm ngôn từ
và trò chơi ngôn ngữ của đồng bạn để thiên về nội dung và hình
thức dễ tiếp cận hơn. Trong bài thơ được dịch sang tiếng Anh có
nhan đề ‘I Dream Of You So Much’ (Anh mơ tới em thật nhiều), ông
kết hiệp tình yêu phụ nữ với tình yêu xứ sở bị tấn công:
Anh mơ tới em thật nhiều, bước đi và trò
chuyện thật nhiều, và ngủ thật nhiều với sự có mặt bóng ma em tới
độ lúc này anh chỉ làm được mỗi một điều là mãi mãi ở với một bóng
ma giữa các bóng ma…
Một hành động gột rửa tương tự
như thế về kỹ thuật văn chương, một sự gia tăng tương tự như thế
trong tính chất trực tiếp và giản dị, có thể tuôn tràn vào thời
đại chúng ta khi nhà thơ muốn diễn tả đầy đủ những cuộc tấn công
khủng bố vừa qua. Gioia nói: ‘Tôi nghĩ các nhà thơ đang quên rằng
không phải mọi sự chúng ta làm đang đào sâu các khía cạnh mới của
ý thức con người. Chúng ta có khuynh hướng tin rằng bài thơ càng
cá nhân, càng có phong cách riêng và càng độc nhất vô nhị thì càng
hay. Những thời đại như hiện nay có thể, bằng một số cách nào đó,
nhắc nhở chúng ta rằng phần việc quan trọng nhất của chúng ta là
phát âm kinh nghiệm chung một cách rõ ràng và sống động. Thơ của
chúng ta không nên chỉ nói tới bản thân. Nó còn nên nói dùm cho
thời đại và nơi chốn của chúng ta, bằng những cách thức đáng nhớ
và cảm động’.
Phụ chú:
– Nguyên tác: ‘There are no
words’ (Không lời nói nổi), The Toronto Star, số Chúa nhật, 23
tháng Chín năm 2001.
– Bài ‘In Flanders Fields’ của John
McCrae, bác sĩ quân y, (1872- 1918). Bài thơ được in trên tờ giấy
bạc 10$ của Canada cùng với bản dịch tiếng Pháp, phát hành đầu năm
2001:
In Flanders fields the poppies blow
Between the crosses, row on row
That mark
our place, and in the sky
The larks, still bravely
singing, fly
Scarce heard amid the guns below.
Bản dịch tiếng Pháp:
Au champ d’honneur
les coquelicots
Sont parsemés de lot en lot
Auprès des croix, et dans l’espace
Les
alouettes devenues lasses.
Mêlent leurs chants au
sifflement des obusiers.
Bản tạm dịch tiếng Việt:
Trên chiến địa Flanders hoa anh túc nở
Giữa
thánh giá, hàng tiếp hàng
Ghi dấu chốn của chúng ta, và
trên bầu trời
Chim sơn ca bay còn lanh lảnh hót
Tiếng vẳng nghe nơi súng ống dưới kia.