trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
1.1.1990
Trần Doãn Nho
Từ ảo đến thực
 

“Truth is true only within its
system”
(Lạt ma Deshung)



1.

Người
ta vẫn thường cho rằng hư cấu là thuộc tính của văn chương. Chỉ có
nhà văn, nhà thơ mới cần sử dụng đến hư cấu. Thực ra, theo tôi, hư
cấu là thuộc tính của con người trong sự đối phó thường xuyên với
ngoại giới, với cuộc sống. Nói cho rốt ráo, trước khi con người
tác động một hành vi gì vào hiện thực, thì nó phải biết hư cấu,
nghĩa là phải biết hình dung, tưởng tượng, bịa đặt. Bằng màu sắc,
con người đưa hư cấu vào hội họa. Bằng âm thanh, con người đưa hư
cấu vào nhạc. Bằng ngôn ngữ, con người mang hư cấu vào văn chương
nghệ thuật, triết lý. Bằng niềm tin, con người đưa hư cấu vào tôn
giáo. Theo tôi, một trong những hư cấu vĩ đại nhất và cũng
ngang trái nhất của con người là chân lý
. Vì là hư cấu cho nên
dù vẫn quan niệm chỉ có một, chân lý lại được hình dung ra thành
nhiều khái niệm, tên gọi khác nhau tùy theo khung cảnh văn hóa,
điều kiện môi trường, trình độ phát triển và… cũng tùy theo áp
lực của tình thế và có khi do sự áp đặt của các thế lực độc đoán.
Nghĩa là mỗi người hay mỗi nhóm người hay mỗi cộng đồng con người
tự chọn lựa cho mình một khái niệm hay một hình ảnh gọi là chân
lý. Và hầu như không “chân lý” nào chịu chấp nhận “chân lý” nào.

Vì cho chân lý của mình là duy nhất đúng, là tuyệt đối nên
người ta có xu hướng biến chân lý của mình thành giáo điều, quy
phạm bất biến, vĩnh cửu có thể áp dụng cho mọi hoàn cảnh, tình
huống. Chẳng những thế, người ta còn đi xa hơn: biến chân lý của
mình thành chân lý của mọi người. Và do thế mà có sự kiện: rao
giảng chân lý của mình. Anh rao giảng chân lý của anh, tôi rao
giảng chân lý của tôi nhằøm mục đích giữ niềm tin và lôi cuốn
người khác tin theo chân lý của mình. Rốt cuộc, chân lý đâm ra
cũng tranh chấp lẫn nhau.
Ðể bảo đảm sự tồn tại của chân lý
của mình, người ta hiện thực hóa nó qua hình thức trung gian: tổ
chức. Một tổ chức thật chặt chẽ là một hiện thực, nhưng là một
hiện thực đầy hư cấu
. Sức mạnh của nó xuất phát từ một ý thức
đã được “hư cấu” kỹ càng. Từ thứ ý thức đó người ta cột chặt vào
nhau, ràng buộc vào nhau. Hiện thực được huy động toàn diện để
phục vụ các mô hình hư cấu. Hiện thực bây giờ, lạ thay, bắt đầu
trở thành vô thường, tạm bợ nghĩa là thành hư cấu. Còn hư cấu,
theo lập luận ở trên thì mới là hiện thực và là hiện thực duy
nhất. Chẳng những thế hiện thực bên ngoài còn được cắt xén, lắp
ghép làm sao cho vừa với cái khuôn hư cấu. Từa tựa như các đạo
diễn cắt bỏ, xén bớt những chi tiết không thích hợp trong văn bản
trước khi đưa nó lên sân khấu hay đóng thành phim cho phù hợp với
hoàn cảnh và điều kiện trình diễn.



2.

Tôi
có một kinh nghiệm nhỏ. Hồi năm 1982, lần đầu tiên ra miền Bắc, xe
ngừng tại thị xã Hà Tĩnh, tôi dành phần lớn thì giờ đi quanh tò mò
quan sát một thị xã xã hội chủ nghĩa. Ðường phố vắng teo, trên
đường một vài cán bộ đạp xe đạp, một vài em nhỏ chạy quanh, một
vài cửa hàng quốc doanh vắng vẻ. Nổi bật nhất vẫn là những khẩu
hiệu. Trông như tôi đang đi trong một khu ngoại ô vắng vẻ hay
trong một cái làng quê nào đó. Một thị xã mà như thế này sao? Tôi
sửng sốt tự hỏi. Sau này, đi nhiều nơi trên miền Bắc – có lẽ chỉ
trừ Hà Nội và Hải Phòng là còn có đôi chút “thành phố” – tôi mới
hiểu ra rằng những thành phố miền Bắc là như thế. Hóa ra chúng
không phải là hiện thực, mà xuất phát từ mô hình tiền chế, một
trong những hư cấu xã hội chủ nghĩa: ngăn nắp, trật tự, an ninh
và… buồn. Tôi quen với khung cảnh phố xá hào nhoáng, đông người,
buôn bán sầm uất, xe cộ ngược xuôi. Hình ảnh những “thành phố
buồn” cũng như các khẩu hiệu, những cánh đồng giăng dây cấy lúa
(cho thẳng hàng), những chiến dịch thi đua hao người tốn của và cả
“ao cá bác Hồ” chẳng hạn đều thoát thai từ hư cấu (mặc dầu chúng
được gọi là “hiện thực xã hội chủ nghĩa”). Tóm lại, vẫn là hiện
thực, nhưng là một hiện thực đầy hư cấu. Thực mà ảo. Ảo đi vào
thực.

Trong lúc đó, một thành phố Mỹ như New York xôn xao,
sầm uất, ngất ngưởng, năng động với những ngôi nhà chọc trời và
hàng chục cái “hộp người” vĩ đại khác, nhìn từ bên trên là một
loại đô thị lý tưởng: giàu sang, hùng mạnh, tự do, biểu trưng cho
một sức sống văn minh, một loại hình tượng rất “Mỹ” với “hiện thực
đen” ở phía trái: mafia, nghiện hút, mãi dâm, bạo động… Trong
một New York đa dạng như thế, người ta thực hiện hai công trình
đặc trưng: tượng Nữ Thần Tự Do (thế kỷ 19) và Trung Tâm Thương Mại
Thế Giới (thế kỷ 20). Có thể nói Trung Tâm Thương Mại Thế Giới,
vừa to lớn về thể hình lại vừa đầy ắp tham vọng về mục đích, là
một tiếp nối đầy ý nghĩa với tượng Nữ Thần Tự Do trong việc chinh
phục thế giới. Ý tưởng về một trung tâm thương mại như thế đã có
ngay từ sau khi chiến tranh thế giới lần II vừa chấm dứt. Nhưng
phải đến cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, nóù mới trở
thành hiện thực: một quần thể cao ốc gồm có bảy tòa nhà và một
trung tâm buôn bán lớn nhất thế giới. Nó là cơ quan đầu não của
nhiều trung tâm thương mại khác trên toàn thế giới, tất cả nằm
trong một tổ chức quốc tế gọi là “The World Trade Centers
Association” (WTCA). Tổ chức này được thành lập vào cuối thập niên
1970 có khoảng chừng 300 chi nhánh nằm trong 97 nước do Guy F.
Tozzoli, lúc bấy giờ là trưởng cơ quan “Port Authority’s World
Trade Center Department” là cơ quan sở hữu chủ Trung Tâm Thương
Mại Thế Giới, sáng lập. Trong một bài diễn văn đọc trước tổ chức
này tại Geneva năm 1989, Guy F. Tozzoli phát biểu: “Những trung
tâm thương mại thế giới không chỉ làm cho công cuộc giao thương
quốc tế trở nên thuận tiện và xây dựng sự thịnh vượng về kinh tế
nhưng mà còn thúc đẩy sự cân bằng và hòa bình giữa những quốc gia
trên thế giới đến một mức độ cao hơn. Thương mại và kinh doanh
được thực hiện hàng ngày ở trong và xuyên qua những trung tâm
thương mại thế giới vượt lên trên chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi cũng
như những hàng rào cản về chủng tộc và chính trị trong quá khứ”.


Minoru Yamasaki, kiến trúc sư chính của công trình, nói rõ
hơn về hướng đi của trung tâm này trong một bài phát biểu sau khi
hoàn tất công trình như sau: “Thương mại thế giới có nghĩa là hòa
bình thế giới và do vậy, những cao ốc của Trung Tâm Thương Mại Thế
Giới ở New York đã có một mục đích cao hơn là chỉ cung cấp chỗ cho
những người thuê mướn. Trung Tâm Thương Mại Thế Giới là một biểu
tượng sống cho sự cống hiến của con người đối với hòa bình thế
giới (…) và ngoài nhu cầu bó buộc biến cơ sở này thành một di
chứng cho hòa bình thế giới, Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, do
tính quan trọng của nó, sẽ trở nên biểu tượng cho niềm tin của con
người vào nhân loại, nhu cầu của nó đối với phẩm giá cá nhân, niềm
tin của nó trong sự hợp tác của con người, và xuyên qua sự hợp
tác, là khả năng của con người tìm thấy sự cao cả của mình”.


Ðối với chúng ta, những điều đại loại như thế nghe cũng
xuôi tai và trông bộ cũng hợp lý. Nhưng những người Hồi Giáo (nhất
là những phần tử cực đoan) vốn nhạy cảm với tất cả những gì gì là
sản phẩm của phương Tây, hiểu hoàn toàn khác. Trung Tâm Thương Mại
Thế Giới chẳng qua chỉ là cái bình phong để người Mỹ (và Tây
phương) thống trị thế giới. Nó tượng trưng cho một thứ quyền lực
mới (ngoài quân sự) trông có vẻ nhẹ nhàng hơn, đáng yêu trong việc
đẩy thế giới Hồi Giáo – vốn đã yếu kém và lệ thuộc – lún sâu thêm
vào sự lệ thuộc, vào sự yếu kém để đi tới chỗ suy tàn. Nói khác
đi, đó là một trong những mô hình trong kế hoạch toàn cầu hóa nền
kinh tế thế giới, là hư cấu vĩ đại của một nước Mỹ sau Chiến tranh
lạnh.
Và thế là, họ quyết tấn công. Vào tháng 2/1993, một
chiếc xe van chứa đầy chất nổ đã phát nổ tại bãi đậu xe
ngầm dưới đất của trung tâm. Vụ tấn công do Sheik Omar Abdel
Rahman và 9 phần tử Hồi Giáo của các xứ Soudan, Ai Cập, Mỹ, và
Jordan thực hiện gây nên thiệt hại đáng kể: giết chết 6 người và
làm bị thương 1.042 người. Nhưng những thiệt hại như thế chưa có
gì là to lớn so với nhiều vụ khủng bố khác nhắm vào các quyền lợi
Mỹ ở nước ngoài. Và chẳng thấm vào đâu so với cuộc tấn công lần
thứ hai vào Trung Tâm này ngày 11/9. Cuộc tấn công (hay đúng hơn
là một cuộc tổng tấn công) được chuẩn bị lâu dài, kỹ lưỡng, phối
hợp nhịp nhàng, với quyết tâm cao độ nhằm thu đạt một kết quả có
tính chất quyết định. Tôi thích gọi đó là cuộc tấn công của một
hư cấu vào một hư cấu
. Hậu quả lại vô cùng hiện thực: 3.000
người chết và toàn bộ Trung Tâm bị phá hủy hoàn toàn. Ảo đã đi vào
thực!



3.

Theo tin tức cho biết, một trong
những khuôn mặt chính chỉ đạo cuộc hành trình hư cấu đưa chuyến
bay số 11 của hãng hàng không American Airlines lao ngay
vào tòa nhà phía bắc của Trung Tâm vào lúc 8 giờ 45 phút sáng ngày
11/9/2002 là người thanh niên Ai Cập có tên là Mohamed Atta.
Mohamed Atta là ai?

Sau ngày 11/9, John Hooper, phóng viên
tờ nhật báo Anh “The Observer” đã tìm cách dựng lại nhân dáng của
nhân vật này bằng cách tiếp xúc với các bạn bè cũng như những
người đã từng quen biết hay tiếp xúc với anh ta như cô gái Amal
người Palestine, Volker Hauth, bạn đồng học ở Hamburg (Ðức quốc) –
người đã cùng đi đây đi đó nhiều lần với Atta, kể cả Ai Cập – ,
Helga Rake và Matthias Frinken, bạn cùng hãng xưởng, giáo sư bảo
trợ luận án ra trường Dittmar Machule tại đại học Hamburg, Brad
Marrick, chủ một công ty cho thuê xe tại Florida, vân vân. Atta,
tên đầy đủ là Mohamed el-Amir Awad el-Sayed Atta, 33 tuổi, sinh ở
Ai Cập, cha là một luật sư. Anh theo học kiến trúc ở Cairo sau ghi
danh học ở đại học Hamburg, Ðức Quốc, ngành kế hoạch hóa đô thị
(town phanning). Những người bạn anh cho biết, Atta là một con
người hai mặt: có lúc thì tỏ ra hướng nội, rất kín đáo và dè dặt
nhưng có lúc lại rất linh hoạt và chu đáo. Một số người cho rằng,
anh ta thuộc loại người “thần kinh phân liệt tự ý” (wilful
schizophrenia) dẫn đến chỗ sẵn sàng giết người nhân danh nhân
loại, nhân danh tinh thần nhân bản. Khác với những nhận định sai
lạc lúc đầu, Atta là người học hành thông minh, tính tình phóng
khoáng, kết bạn với đủ hạng người, từ Thiên chúa giáo ôn hòa cho
đến những phần tử Hồi giáo cực đoan. Hồi mới sang Ðức, anh tỏ ra
là một thanh niên bình thường như mọi người, nhưng về sau này, sau
một chuyến đi về thăm nhà trở lại, anh hoàn toàn đổi khác: để râu
kiểu những thành phần Hồi Giáo cực đoan (fundamentalist) và gia
nhập tổ chức “Engineers Syndicate”, một trong 3 tổ chức chuyên
nghiệp do phong trào Hồi Giáo cực đoan “Muslim Brotherhood” kiểm
soát. Và lúc này, anh không dấu giếm quan điểm của mình: thù ghét
bọn nhà giàu và Mỹ. Nhiều lần, Atta nói với bạn bè “Tất cả sự cầu
nguyện và hy sinh của tôi, cái sống và cái chết của tôi là dành
cho đấng Allah, vị Chúa của mọi thế giới”. Trong đời sống thường
nhật, Atta quan tâm đến người khác, không chỉ là những người Hồi
Giáo nghèo mà thôi. Theo Brad Warrick, chủ nhân công ty cho thuế
mướn xe “Warrick’s Rent-a-Car” ở bãi biển Pompano, tiểu bang
Florida, khi thuê xe anh ta đã báo cho chủ biết là đèn báo hiệu
nhớt xe sáng lên chứng tỏ xe hết nhớt. Sau này khi trả xe vào ngày
9/9 – hai ngày trước khi lái máy bay đâm vào Trung Tâm Thương Mại
Thế Giới – anh ta còn nhắc nhở cho Warrick về đèn báo hiệu nhớt
nói trên.
Trên đây chỉ là vài nét về một trong những người đã
bay những chuyến bay hư cấu vào ngày 11/9. Cho đến nay, người ta
cũng chưa biết gì thêm về tổ chức đứng đàng sau vụ khủng bố (Al
Qaeda), cách tuyển mộ, huấn luyện cũng như các trạng thái tâm lý
của những người tự nguyện thi hành sứ mạng. Nhưng để có một cái
nhìn khái quát về hành trạng của những người Hồi Giáo cực đoan
hiện đại, ta cũng có thể tìm thấy ở những người Palestine ôm bom
tự sát trong phong trào antifada chống Do Thái hiện nay ở
Trung Ðông.
“Theo hầu hết những nhà chuyên môn, động cơ quan
trọng nhất hình thành nên cách hành xử của những người ôm bom tự
sát là sự trung thành với tổ chức. Họ trải qua những tiến trình
tương tự như những tiến trình được sử dụng bởi các lãnh tụ của
giáo phái Jim Jones và Solar Temple. Những người ôm bom được tổ
chức vào thành từng tổ nhỏ và trải qua vô số giờ huấn luyện tâm
linh cùng với nhau trong một khung cảnh cảm động. Họ được giáo dục
về những chi tiết của Jihad (thánh chiến), nhắc nhở về nhu cầu
phải trả thù, và tái bảo đảm về những phần thưởng mà họ có thể
mong mỏi ở kiếp sau. Họ được cho biết rằng gia đình họ sẽ được bảo
đảm có một chỗ cùng với Thượng Ðế và rằng có những phần thưởng
đáng kể cho gia đình ngay trong kiếp này, kể cả tiền bạc, hàng
ngàn đô la do chính phủ Irak hay một số cá nhân người Á Rập và
nhiều nhóm hảo tâm khác có cảm tình với chính nghĩa. Cuối cùng, họ
cũng được cho biết rằng thiên đàng nằm ngay phía bên kia của kíp
nổ, rằng cái chết sẽ được cảm thấy chẳng có gì khác hơn một cái
véo tay.
Các thành viên của những nhóm như thế diễn lại những
chiến dịch trong quá khứ. Những tân binh ôm bom thỉnh thoảng được
cho nằm trong những nấm mộ rỗng, để cho họ có thể cảm nghiệm cái
chết thanh thản như thế nào. Họ được nhắc nhở rằng cuộc sống sẽ
mang lại bệnh, già, bội phản mà thôi. Một người tình nguyện ôm bom
nói với Hassan (ký giả tờ The New Yorker): “Chúng tôi ở trong một
tình trạng thường xuyên được thờ kính. Chúng tôi nói với nhau rằng
nếu bọn Do Thái mà biết chúng tôi vui sướng như thế nào khi được
chết, chắc bọn chúng tức lắm. Những ngày đó là những ngày đẹp nhất
trong đời tôi!” (The culture of Martyrdom, David Brooks, The
Atlantic Monthly, June/2002).

Những vụ ôm bom tự sát được
được điều hợp bởi những tổ chức rất chặt chẽ tuyển mộ, huấn luyện,
truyền giáo và thưởng công. Họ không tìm kiếm những người bị bệnh
tâm thần hay những kẻ tuyệt vọng mà tìm những người bình thường,
có trình độ giáo dục cao và sẵn sàng cống hiến mạng sống cho chính
nghĩa, đại loại như anh chàng Mohamed Atta. Theo Hassan, phóng
viên tạp chí “The New Yorker” trong một bài phóng sự về phong trào
antifada, không ai trong số những người ôm bom là những
người vô giáo dục, nghèo khổ hay tuyệt vọng. Hiện nay, sự tuẫn
giáo đã trở thành mục tiêu chính của ngành truyền thông các xứ Á
Rập. Vô hình chung, nhiều đề tài khác bỗng trở nên thứ yếu, kể cả
ý tưởng về một Palestine độc lập vốn là đề tài ăn khách trước đây.
Quả thật, hiện tượng ôm bom tự sát trông bộ rất phù hợp với thời
đại truyền thông mở rộng, đặc biệt là truyền hình. Hàng ngày, hệ
thống truyền hình các nước Á Rập liên tục chiếu trên nhiều kênh
những hình ảnh vô cùng độc đáo: những đoạn băng hấp dẫn ghi lại
hình ảnh và lời phát biểu vĩnh biệt của những người tình nguyện ôm
bom tự sát cùng cuộc phỏng vấn cha mẹ, thân nhân của họ; cảnh
tượng vừa sinh động vừa kinh khiếp của những vụ đánh bom thành
công: nhiều phần thân thể bầy nhầy, máu me bắn tung tóe và vương
vãi khắp nơi giữa những nhà hàng, hay cao ốc bị phá hủy; cảnh
những “đám cưới” hư cấu giữa những người tuẫn giáo và những trinh
nữ gặp nhau trên thiên đàng, các “đám cưới” này được thông báo
rộng rãi trên báo chí địa phương y như thiệp mời đám cưới thực để
thân nhân và bạn bè có thể đến tham dự. Tác động thật lớn: những
vụ ôm bom tự sát càng ngày càng được người Palestine ủng hộ. Các
cuộc thăm dò công luận cho thấy, có đến 70 hay 80 % người
Palestine tán thành việc ôm bom tự sát.
Theo nhận xét của
những thông tín viên khi phỏng vấn các thành viên tình nguyện hay
thân nhân của họ, trong quá trình ôm bom tự sát, sự hân hoan,
khoái lạc thế chỗ cho sợ hãi và đắn đo. Nhiều thanh thiếu niên ghi
danh tình nguyện bày tỏ cảm giác bồn chồn, mong tới ngày đến phiên
mình “đi chết” y như người ta mong đến ngày cưới hay ngày đi nhận
một phần thưởng quý giá nào đó. Khi đi thi hành nhiệm vụ, trong
một vài trường hợp, lúc bị phát hiện trước khi đến địa điểm, có
cậu đã vội vàng bấm kíp nổ mặc dù chẳng sát hại được ai, có lẽ vì
sợ không còn cơ hội được chết để lên thiên đàng. Những sự kiện như
thế nói lên đặc điểm của chủ nghĩa khủng bố kiểu mới: người khủng
bố không cần tìm cách thoát thân. Họ không phải là những người cảm
tử. Họ không hy sinh. Họ thưởng thức cái chết. Chính từ chỗ
đó mà hư cấu đi vào hiện thực. Khát vọng về đời sau đã có tác dụng
tích cực vào chính đời này, nơi mà những người khủng bố đã từ
khước, đã để lại đàng sau cho người khác. Một điều nghịch lý:
dường như cái chân lý hư cấu này, đối với kẻ thực hiện, lại là hư
cấu đôi: một mặt, hắn từ khước hiện thực này – một mặt, hắn lại
dùng cái hư cấu đó để thay đổi hiện thực. Nghĩa là, bản chất của
việc khủng bố là thay đổi cái hiện thực mà hắn phủ nhận. Thay đổi
thành một cái khác, có lẽ cũng là hư cấu: một thế giới tốt đẹp
hơn, vắng bóng kẻ thù, một thế giới mà chính anh ta sẽ không bao
giờ được hưởng, không bao giờ thấy, và cũng không chắc là sẽ có
hay không.



4.

Cái chân lý hư cấu này rõ
ràng là khác hẳn một số giáo phái khác, chẳng hạn như giáo phái
Heaven’s Gate ở Hoa Kỳ. Vào các ngày từ 23 đến 26 tháng 3/1997, 39
tín hữu, nam có nữ có, trẻ có già có thuê lâu đài Rancho Santa
Fe
(San Diego, California) để tụ họp nhau, chia sẻ tâm tình,
ăn uống, bù khú và có lẽ tập trung bàn luận về một chốn thiên đàng
mà họ sẽ đến. Rồi, ăn mặc thật đẹp, mỗi người nằm một chỗ và lặng
lẽ ra đi. Họ chọn từ bỏ thế giới này, từ bỏ hẳn, xem như nó không
hiện hữu vì theo Marshall Herff Applewhite, người sáng lập ra
Heaven’s Gate, thì thể xác chỉ là “những thùng chứa linh hồn tạm
thời. Hành động hóa thân và chia cách cuối cùng khỏi trần thế là
sự cắt đứt hay cách ly khỏi thùng chứa vật lý con người hoặc thể
xác nhằm giải thoát khỏi kiếp nhân sinh”. Họ ra đi, không phiền ai
và không làm sức mẻ một chút hiện thực nào. Họ chỉ có một hư cấu
duy nhất: thiên đàng của họ. Hành động tự sát trông có vẻ ích kỷ:
chỉ giải thoát cho họ. Có lẽ vì họ không có kẻ thù nào cần phải
tiêu diệt. Họ an nhiên đi vào cõi hư cấu thuần túy của họ. Ngược
lại, những phần tử của chủ nghĩa khủng bố hiện đại (những
suicide bombers, shoe bomber, 9/11 hijackers) biết rõ họ có
kẻ thù, nhận diện rõ chân dung kẻ thù và những nhược điểm của nó:
tính dễ tổn thương, và dĩ nhiên, sợ chết. Họ chỉ muốn mượn hư cấu
để thay đổi hiện thực. Nói cách khác, họ biến cái ảo thành thực.


Chẳng biết giờ này, những người tự sát đó đã gặp nhau ở
cõi hư cấu mà họ mong muốn chưa. Nhưng những kẻ thù của họ thì
thật là thấm đòn hiện thực. Toàn nước Mỹ sống trong khung cảnh của
tất cả những hậu quả tệ hại nhất sau 11/9. Họ phải từng bước thay
đổi cấu trúc và tâm lý để đối phó với không những hậu quả về mọi
mặt của biến cố 11/9 mà còn để ngăn chận những cuộc tấn công khác,
không biết sẽ xảy ra lúc nào, ở đâu và bằng phương cách nào. Họ
chuẩn bị “hư cấu lại” toàn bộ và không chừng hy sinh luôn cả những
nguyên tắc căn bản vốn đã tạo nên vinh quanh cho nước Mỹ: tự do,
dân chủ, nhân quyền – những thứ mà họ nỗ lực duy trì ngay cả trong
những lúc đen tối nhất qua các cuộc chiến tranh nóng và cuộc chiến
tranh lạnh trong thế kỷ 20. Chẳng hạn như để bảo đảm an ninh nội
địa và dễ dàng phát hiện các phần tử khủng bố, nghe nói họ sẽ ban
hành một biện pháp an ninh qua đó, một người Mỹ sẽ phải do thám 10
người Mỹ khác. Về chính trị nội bộ, trong thời gian vừa qua, chính
trường Mỹ đã sôi động hẳn lên vì những tiết lộ liên quan đến ngày
11/9. Tình báo Mỹ đã nhận được những tin tức cho thấy đáng lẽ họ
phải biết trước vụ khủng bố. Ðảng Dân Chủ phê bình chính quyền
Cộng Hòa đã chẳng làm gì để chặn đứng vụ khủng bố. Còn chính phủ
Bush thì biện luận rằng, những nguồn tin nhận được rất mơ hồ,
không thể nào biết được. Còn kinh tế thì bị ảnh hưởng nặng nề: tỷ
lệ thất nghiệp tăng vọt, ngân sách liên bang và các tiểu bang thâm
thủng và thiếu hụt trầm trọng khiến nhiều chương trình phúc lợi bị
bãi bỏ, nhiều cơ quan tiểu bang và thành phố phải sa thải nhân
viên, buộc về hưu sớm, một số tiểu bang phải tăng thuế để bù đắp
sự thiếu hụt. Gần đây nhất hãng hàng không lớn thứ 6 ở Mỹ là US
Airways đã nạp đơn khai phá sản vào ngày 11/8/2002 do hậu quả của
vụ khủng bố. Ðó là bên trong. Còn bên ngoài nước Mỹ, quân Mỹ rải
ra khắp thế giới để lùng tìm các phần tử Al Qeada với một kế hoạch
cũng đầy hư cấu là tiêu diệt được hết hệ thống khủng bố và mầm
mống của chúng trên toàn thế giới. Hơn hết thảy là một nỗi lo lắng
âm thầm trong quần chúng. Người ta không biết là sẽ bị tấn công
bằng cách nào và ở đâu: suicide bomber, car bomb, dirty
bomb
hay đầu độc nguồn nước, dùng những chiếc máy bay nhỏ,
dùng xe bồn xăng, xe cứu thương…Càng tưởng tượng lại càng cảm
thấy kẻ thù có vô số cách để tấn công khủng bố. Và dường như không
có biện pháp đề phòng nào được xem là đủ. Vì khác với các loại tấn
công khác trước đây, trong cuộc tấn công khủng bố kiểu mới,
chất gây nổ và người làm nổ là một. Và tất cả mọi vật
đều có thể biến thành phương tiện và vũ khí tấn công
. Còn đối
tượng tấn công thì bất kỳ, không cần phân biệt dân thường hay quân
sự, cơ sở nhà nước hay tư nhân.

Ở Israel, không khí lại
càng nóng sốt, khẩn trương hàng ngày. Những vụ nổ bom tự sát liên
tục từ quán cà phê đến xe bus, từ những đường phố bình thường đến
các cao ốc, cửa hàng đặt toàn thể xã hội Israel vào trong một môi
trường chiến tranh y như thể vô hình: chẳng biết kẻ thù thực sự là
ai, ở đâu và họ nhắm vào mục tiêu nào. Những cuộc tấn công tuyệt
vọng mà Israel tiến hành nhằm vào các thành phố đông dân cư ở
Palestine chẳng những không chận đứng và giảm bớt mà còn làm tăng
thêm các cuộc tấn công tự sát. Trong một bài báo có tựa đề
“Israeli Youth: I don’t want to die today”, thông tín viên CNN ghi
nhận không khí và tâm thức đặc biệt của người Israel hiện nay qua
câu chuyện kể về hai thiếu nữ Israel đang sống tại Jerusalem. Một
cô tên là Liat Margalit cho biết, hầu hết thì giờ rảnh rang bây
giờ, cô phải ở nhà. Cô nói: “Những điều hết sức bình thường trong
đời sống mà một thiếu nữ chúng em làm, chúng em không còn làm được
nữa. Chúng em không thể nào đi khiêu vũ ban đêm, không thể nào đi
dự lễ tốt nghiệp. Thực sự là chúng em không thể làm gì được cả. Y
như thể chúng em bị nhốt trong một cái lồng”. Thỉnh thoảng cần
thiết lắm cô mới đi xuống phố nhưng vừa đi vừa lo, chẳng biết một
vụ tấn công tự sát có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu.
Những ngày đầu khi phong trào antifada vừa mới khởi phát,
sau một vụ nổ bom là Margalit và bạn bè cô có thể đi ra ngoài
những ngày tiếp đó mà không phải lo sợ gì cả, vì nếu có một cuộc
tấn công nữa thì cũng phải năm ba ngày hay cả một tuần lễ sau.
Nhưng bây giờ thì mọi sự không như thế nữa. Các cuộc nổ bom diễn
ra thường xuyên. “Khi em đi vào quán, em chẳng biết phải ngồi ở
đâu cho an toàn, ngồi sát tường, ngồi phía trước hay phía sau? Một
tay khủng bố có thể bất thần bước vào và nổ bom. Em chẳng muốn
chết hôm nay đâu. Em còn trẻ quá mà, em chỉ mới có 18 tuổi đầu!”
Cha mẹ cô nhắc nhở đêm ngày là đừng có đi ra ngoài. “Em biết phải
làm sao đây? Nếu em bỏ mất tuổi trẻ của em thì em còn có gì trong
cuộc sống nữa đâu? Em chẳng muốn tuổi trẻ của mình cứ như bị ai
cướp đi mất”.
Cô gái khác, Efrat Ravit, 21 tuổi, may mắn sống
sót trong một vụ nổ bom vào ngày 9 tháng 3/2002 rồi tại quán cà
phê “Cafe Moment”, nhưng đầu và chân bị thương nặng, phải giải
phẫu đến cả 10 lần. “Còn đau lắm, em nói thật là còn đau lắm”.
Trước đây, cô chẳng bao giờ chịu ở nhà, cứ đi la cà hết quán cà
phê, tiệm nhảy đến nhà bạn, đấu láo, nhậu nhẹt. Bây giờ thì đành
chịu. Cô rơm rớm nước mắt: “Em chẳng muốn bị thương một lần nữa.
Sắp đến ngày sinh nhật của em rồi mà đành chịu. Bỏ hết. Chẳng tiệc
tùng gì. Cứ phải nằm nhà suốt thôi. Y như thể người ta đã cướp đi
mất cuộc đời em rồi. Chán ơi là chán!”

Hư cấu đã đi vào
hiện thực, bằng một con đường khác. Thế giới đâm ra lộn tùng phèo:
ảo mà thực, thực mà ảo.



5.

Nghĩ cho cùng,
hư cấu văn chương có lẽ là thứ hư cấu “hiền lành” nhất. Nó không
bạo động. Nó không nhằm thay đổi hiện thực theo ý riêng của mình.
Khác với những giáo chủ và những lãnh tụ, nhà văn-nhà thơ không
sáng tác ra chân lý và không áp đặt lên người khác bất cứ một thứ
chân lý nào, nói gì tìm cách áp đặt chân lý của mình lên toàn nhân
loại. Họ có thể kêu rêu, than thở, khóc thương, chửi mắng… tùy
thích. Nhưng khi nhất quyết rằng chỉ có mình là nhất, là đúng, là
tuyệt đối thì họ đã không còn làm văn chương nữa. Bản thân văn
chương, theo tôi, phải là một cái gì thiếu, hụt, khiếm khuyết,
không toàn hảo. Nó luôn luôn là một cái gì dang dở. Nó luôn luôn
ảo. Và có lẽ sẽ không bao giờ biến thành thực.

8/2002,
ngày giỗ đầu biến cố 11/9

 
© talawas 2026