Trần Thị Trường
Một Người Hà Nội đã ra đi.
Thế là Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Ðông quan,…rừng lạ ào ào lá đỏ… đã về với cội nguồn, đã vĩnh viễn để lại 79 năm hồn nhiên và kiên cường, sung sướng và đau khổ… bên ngoài linh cữu. Ðể lại cả những nhớ thương nuối tiếc, những giận hờn trách móc, những khó chịu, hả hê… Năm tháng đã qua đi, năm tháng còn sẽ đến. Thế là trong vần vũ hoá công có thêm một người xong một đời, xong cuộc nổi chìm trăm ngọt vạn cay. Tiễn ông đi có người bảo, còn ai hơn thế: trời cho rất nhiều là cho. Nhưng cũng có người bảo, trời hành ông đến nhiều là hành. Còn ông, ông mang theo ý nghĩ cuối cùng nào trước khi từ giã trần gian này để lên đường tới một thế gian khác?
Ở nơi đây, cái trần gian này: gương mặt ông, cái vóc dáng cao đậm của ông- mà cánh yêu thơ gọi là người đàn ông lý tưởng, cái hình hài đã đặt dấu trong một miền chức vụ … có thể phai tàn như mọi tàn phai của vạn vật. Nhưng những gì sản sinh từ bộ não, từ trái tim ông, một con người-thi sĩ thì còn đây: Sáng mát trong như sáng năm xưa/ gió thổi mùa thu hương cốm mới/ sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ những phố dài xao xác hơi may/ người ra đi đầu không ngoảnh lại/ sau lưng thềm nắng lá rơi đầy … Thì còn đây: Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây… Ðây…lắng hồn núi sông ngàn năm… Và còn đây những Dòng sông xanh, những Tiểu luận (về văn học và triết học) như thể những con đường của ông mở cho người sau bằng những hồn nhiên trong vắt.
Người ta vào thăm ông hàng tuần hay hàng ngày ở bệnh viện Hữu Nghị trong thời gian ông ốm. Người đến vì thơ, người đến vì kịch, người vì nhiệm vụ, và cả những người không tất cả những cái đó mà chỉ vì sự tưởng tượng về một khúc Ðông Ðô hào hùng. Ông nằm đó, phải thở ô xy máy, nhưng không thấy vẻ tiều tuỵ. Khi bà Tuệ Minh, người bạn đời cuối cùng, ghé tai thông báo thì ông mở mắt, bắt tay từng người. Ông cười . Cái cười như muốn nói: “Chào các bạn… ở lại. Tôi sắp đi rồi…” Rồi ông nhắm mắt lại như tiếp tục cái dòng âm thầm với thời gian, không gian, với đời sống từ khi ông vào viện hoặc có thể từ rất lâu, hoặc có thể không… tư duy gì nữa cả… Ai mà biết!
*
Có người nói: trong một chừng mực nào đó, hoàn cảnh nào đó con người là một con rận, một ông rận. Làm sao và ai có thể ở ngoài được cái chăn nhân thế ? Ở cùng trong đó có tất cả. Có những con rận thấy ghê hết cả thân mình” nhưng đồng thời biết mình bất khả kháng, có những con rận chỉ còn biết lấy sự cắn nhau làm mỹ cảm. Nhưng phải chăng đó cũng chính là cuộc đời, đầy sống động trong một quy luật bất khả từ.
Nguyễn Ðình Thi cũng như tất cả mọi người. Khác chăng là khác với Văn Cao, Nguyễn Xuân Khoát, Huy Cận, Xuân Diệu… những người đã thành danh từ những năm 40, còn ông mọi sự như thể được bắt đầu, thăng hoa và định hình từ khoảng giữa thập niên đó. Song cũng giống như những người ấy và nhiều nhiều người khác nữa trong một cái chăn nhỏ hơn cái chăn nhân thế, ông đã cùng họ, họ đã cùng ông “ứng xử, hành xử , đối xử” thế nào với nhau? Mọi sự còn nguyên đó nhưng sẽ phải giải mã thế nào cho khả dĩ?
Ông Rận nào đã không cho con nai được đen như nó đã muốn thổ lộ? Ông Rận nào làm Nguyễn Trãi ở Ðông Quan phải lùn xuống một đầu? Người ta kể rằng, Nguyễn Ðình Thi từng tâm sự: “Các cháu thời nay sướng hơn thời các chú rất nhiều. Các cháu muốn sống thế nào đã được gần thế, muốn viết thế nào đã được viết thế, muốn in cái gì đã in được thế… ” Những người trẻ định cãi, thì ông cười: “Có sống ở một thời nào đấy thì mới thấy … thời bây giờ… thế … là đã… sướng rồi…”
Và khác chăng là khác ở chỗ những người trẻ hơn ông một thời đại theo lẽ thường phải kính cẩn trước sự nghiệp đồ sộ của ông thì cũng chỉ coi ông là một ông Rận, con rận mà thôi. Con Rận lớn của thời đại. Người ta bảo rằng, cho dù cũng phải chịu những ngón đòn rận khác, nhưng ông vẫn ở vị trí thuận lợi nhất trong số những con rận. Ông can đảm, tài lược vượt qua thăng trầm hay ông khôn khéo, hèn nhát? (Trần Khánh Dư có viết: Giỏi cầm quân thì không cần bày trận, giỏi bày trận thì không cần phải đánh, giỏi đánh thì không thua, khéo thua thì không chết). Ở thời của mình, Nguyễn Ðình Thi chọn thế nào? Chọn cái cuối cùng ư? Tại sao người có tài như ông lại không chui ra khỏi cái chăn? Ðã ở trong chăn thì thế nào cũng vật lộn. Ðó là những câu hỏi không dễ trả lời. Song, một người như ông không thể không biết?. Nhưng có lẽ biết mà không làm gì hơn được?
*
Nếu một thời ông là một tài danh được nhiều người ngưỡng mộ, yêu dấu và muốn được… đến gần thì cũng không ít người trẻ sau này đã đọc những gì ông viết với một sự khâm phục, nhưng họ bảo, để giữ nguyên một lòng mến mộ họ đã tìm cách tránh xa. Cho nên đôi khi có người cứ phân vân tự hỏi có phải
văn tức là
người?
Văn là người, người ở trong thời, thời sinh ra não trạng xã hội. Với cách nghĩ thế may ra người đời có thể hiểu được vì sao Lý Huệ Tông từng là Vua mà còn phải vào chùa tìm cái chết, Trần Nguyên Ðán phải tìm cách kết gia với Quý Ly, Trần Khâm (Vua Trần Nhân Tông) thấy thiền mới là giải pháp. Ðâu có phải những bậc cổ xưa ấy thiếu trí, thiếu đức, thiếu lòng can trường và thiếu tình yêu?
Trong một thời điểm nhất định, Luận ngữ còn phải trẹo đi vài chữ để làm răn như bố vợ tể tướng Lưu Gù ở Trung Hoa đã dùng để khuyên bảo các con: “Không biết thì bảo là không biết, biết cũng bảo là không biết mới là biết vậy “. Ông già Trung Hoa ấy giả điếc vì chuyện sống còn. Qua kinh nghiệm tồn tại của mình, ông ta muốn bảo các con ông sống khiêm tốn (giấu mình) để được…an nhàn và an toàn. Và như thế cái biết của ông mới một mà không phải hai? Bởi vì an nhàn và an toàn là một kiểu sống, một kiểu biết. Song còn một kiểu khác gọi là dấn thân. Nhiều người thấy không dấn thân cho cái mình muốn thì không nên sống làm gì?
Hầu hết văn nghệ sĩ có khát vọng giác ngộ bản thân và giác ngộ người khác. Và họ coi cái họ giác ngộ được cũng như cái họ giác ngộ người khác là cái đẹp, cái nên có. Họ cho rằng chỉ vì không giác ngộ , không biết cái gì là đẹp, là cái nên có, cho nên thiên hạ ác. Ðiều đó bao giờ cũng đúng, song bờ giác thì xa mà cơn mê thì lớn, vì thế cái giác nửa chừng đã đốn ngã (chứ không phải đốn ngộ), đã đánh ngã và cả hai phương đối đều ngã.
Ta thử đặt Nguyễn Ðình Thi vào một bối cảnh tương tự, hoặc là một bối cảnh khác với những nhân vật và tâm thế khác nhưng cũng có những điểm chung, xem sao? Tôi đồ chừng ông không bao giờ yên ổn với chính ông. Một Nguyễn Ðình Thi ảnh hưởng (dịch) Aristotes, Socrates, Platon, Kant, Nieztche… Một Nguyễn Ðình Thi Diệt Phát xít (kêu gọi diệt những kẻ trực tiếp gây ra cái đói cho 2 triệu đồng bào của ông, để Việt Nam, đất nước chưa ra khỏi tình trạng nửa thuộc địa nửa phong kiến, tiến lên nền Dân chủ Cộng hòa…) Một Nguyễn Ðình Thi…tiếng của những người không bao giờ khuất / đêm đêm rì rầm trong tiếng đất / tiếng của ngày xưa vọng nói về, và một Nguyễn Ðình Thi Rừng Trúc… sẽ thường xuyên lên tiếng cảnh báo cho Nguyễn Ðình Thi- con Rận lớn trong một chiếc chăn nhân quần nào đó!
Không mẫn tiệp, không có lòng rung động chắc ông không viết được như đã viết. Song, nếu thế thì khi làm lãnh đạo, ngồi trên ghế cao có lẽ ông đã không thể không xúc động khi bạn ông, người cùng thời với ông bị oan đến mức phải vịn câu thơ mà đứng dậy?… Nhưng chỉ xúc động không thôi chứ ông đã làm gì? Hay ông đã từng làm mà không được?
Mỗi cuộc vật lộn của tâm trạng cũng khiến người ta có lúc chẳng biết vịn vào đâu, phải vịn con sâu mà dứng dậy cũng nên. Và nếu thật có cuộc vật lộn ấy thì ông vẫn đáng là một con người để hôm nay người đời nghĩ đến ông với mối thương cảm và kính trọng?
*
Ðấy là nói về ông- con người sự nghiệp.
Còn một Nguyễn Ðình Thi- con người của Tình yêu? Người ta hình dung về gương mặt những người phụ nữ đi qua thơ ông. Có lẽ đó là những người đàn bà vừa đẹp vừa thông tuệ. Yêu được và được người đàn ông tài trí yêu là hạnh phúc lớn lao của người đàn bà. Có những người đàn bà được giời đem tặng cho người đàn ông như thế một cách ngẫu nhiên, cứ ngu ngơ mà hưởng thì được mãi. Nhưng cũng có những người đàn bà phải nhân lên mỗi phút họ nắm được người đàn ông ấy trong bàn tay mình thành một đời. Ông cũng vậy. Tưởng là đau khổ, nhưng nếu mất sự đau khổ ấy họ chẳng còn gì nữa. Và hình như điều đó phảng phất đó đây trong thơ của họ.
Thơ ông đã nhiều người bàn. Có người chỉ nói đến khía cạnh thơ không vần và thơ không tình mà tình, thơ tình mà không tình của ông. Hình như có những ý nghĩ của con người xếp lại trên mặt giấy đã là thơ rồi. Tự do đến đáy trong thơ mình có đồng thời là một người kiên quyết tìm cách tự do cho đời sống cá thể và cộng đồng? Nhưng bao giờ thì …? Có lẽ chỉ khi nào tháp Babel hoàn thiện?
*
Thôi thì một sáng trong như sáng tháng Tư này, tiễn biệt ông về thế gian mới, ở đó không biết có còn những
Xung kích, Vỡ bờ có còn những
ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh … ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh … hay không? Nếu còn thì hẳn lại là một thời gian mới, không gian mới, nhưng vật vã và đấu tranh không mới. Thì ở đâu, đã là nghệ sĩ nghĩa là vẫn phải mang chở những tiếng tăm do mình do người gây ra mà thôi.
Xin cầu cho ông gặp được chính mình trên cao lộng gió.
© 2003 talawas