trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
19.8.2002
Quốc Việt
Sự ám ảnh của quá khứ
 

Hoài Thanh, trong tuyển thơ nổi tiếng Thi nhân Việt nam, nói rằng cái mới ở đây [thơ mới] là tinh thần mới, là cảm xúc mới, là ở cái tôi mới, lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn. Nó dám đứng một mình, nói và nghĩ chỉ cho nó mà thôi. Mới ở đây là tinh thần, là nội dung. Thiết nghĩ sẽ không ai gọi nó là thơ mới nếu chỉ vì những câu xuống hàng, những dòng thơ không theo niêm luật Đường. Nguyễn Bính với thơ lục bát vẫn mới. Chế Lan Viên, Quách Tấn,… với thơ thất ngôn vẫn mới. Ở đây sự bùng nổ về nội dung đã xô đẩy cái hình thức xưa cũ mà làm nên những Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, … Cái ở lại và còn lại là sự đồng điệu và hài hoà, không phải giữa cái mới tinh thần và cái mới hình thức mà là giữa chúng và một thời đại mới.

Trường Chinh, khi viết Đề cương văn hoá, có thể không biết mình đang khai tử cái tôi vừa xuất hiện trong văn đàn Việt Nam. Khi viết văn hoá là một mặt trận làm cho nó trở thành một đường lối chính trị, họ đã bắt những người nghệ sĩ từ đó không còn được chỉ tung tăng với mây, với gió, với trăng. Họ phải đau cái đau của dân tộc, vui cái vui của quần chúng và như thế, họ phải gánh lại cái gánh nặng ngàn cân của cả ngàn năm mà họ tưởng chùng như mới trút được. Văn học nghệ thuật lại trở là công cụ, là vũ khí, là mặt trận. Là cách gọi mới của “văn dĩ tải đạo”. Cái thay đổi duy nhất là nội hàm của ‘đạo’ và cách hiểu cái sự ‘tải’: có trước hay là sau cái ‘văn’ mà thôi. Có trước, người ta, ở đâu đó, gọi là văn nghệ chỉ huy, có sau, có thể chính là nguyên nhân mà câu nói đó vẫn còn được nhắc lại.

Và tất cả trở thành những người đồng chí.

Chiến tranh và ước mơ độc lập dân tộc, không chỉ đã đẻ ra một cơ chế thời chiến, nó còn đẻ ra một trạng thái tinh thần của xã hội. Nó vạch ra những đường ranh dứt khoát cho những danh từ như phản động và hèn nhát, trung thành và phản bội. Nó tạo ra những vòng kim cô cho những biểu tượng. Hơn ở đâu hết, nó khôi phục lại quyền lực cho những câu chữ. Và ảnh hưởng của nó bao phủ lên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Nó nhào nặn nên một thế hệ mới với một mô thức cảm nhận mới bằng những hình tượng nó nghĩ là sẽ tạo ra. Sự hào hứng trồng người bắt nguồn từ những viễn tưởng duy ý chí và sự lãng mạn của chính những người đã từng tung hô cho một cái tôi chót vót, như một sự sám hối, như một sự ăn năn.

Bùi Ngọc Tấn trong CKN2000 đã có một phát hiện bàng hoàng, đó là sự hy sinh, sự đóng góp của bản thân người tù số 880 vào chiến thắng. Bằng cách phải đi tù, bằng cách âm thầm ngồi tù, ông đã đóng góp cái quí giá nhất của một Con Người: tự do, cho chiến thắng cuối cùng. Ông cũng khám phá ra rằng hình như ai trong xã hội cũng mới ở tù ra, tù nhiều vô kể, tất cả đã bị đóng dấu nung đỏ. Có thế thật, trong chiến tranh, tất cả là tù nhân. Tù nhân của chiến thắng, nhất là ở một nơi mà ý tưởng con người cá nhân chỉ vừa mới nhen nhóm thành hình, và chiến tranh thì kéo dài như không bao giờ kết thúc. Lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa xã hội, xét cho cùng chỉ là công cụ cho một mục đích, ở dưới đáy sâu của suy luận. Mục đích ấy, trong con mắt của đám đông, là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Trong quá trình nhào trộn với lý tưởng cộng sản nó biến thành cụm từ sự nghiệp cách mạng, ít nhất, trên một nửa đất nước. Sự đa dạng ở bản thân nội hàm sự nghiệp cách mạng và những diễn giải tù mù của nó là một cái vòng kim cô nữa cho một mảnh đất vốn đã nhiều. Suy rộng ra, đóng góp tự do cho một mục đích tối thượng đó không chỉ của một mình người tù Nguyễn Văn Tuấn, mà là đóng góp của cả một dân tộc. Có những người tù bắt buộc, có những người tù tự nguyện, có những người tù thể xác, có những người tù tinh thần. Tất cả, tất cả đều đã đóng góp bằng cách ấy: tự do, ít nhất, cho một trạng thái tinh thần của xã hội, cho một cái đích ngắm tròn vo ở cuối đường băng: đoàn kết và tập trung, một lần nữa, vì sự nghiệp cách mạng. Ở ngay trong nghĩa ngôn ngữ của chúng, có thể thấy ngay sự đối lập với tự do và dân chủ. Dường như, trong những năm tháng ấy, người ta sống bằng một trạng thái tinh thần, và vì một trạng thái tinh thần.

Có lẽ cái trạng thái tinh thần độc lập dân tộc ấy, và bên cạnh đó là sự mê hoặc của một lí tưởng đã là sức mạnh tinh thần quyết định nhất làm im tiếng những phần tử tự do

Hoài Thanh đã nghĩ gì khi chính ông về sau phê phán tập tuyển thơ của mình. Có phải trước khi chính thức bị yêu cầu làm điều đó, ông cũng cảm thấy điều đó là cần thiết. Có phải ông làm điều đó một cách tự nguyện, một cách có ý thức, như một bằng chứng cho thấy sự lớn dậy của con người chính trị trước con người trí thức. Sự đau đớn của ông, nếu có, đã được định trước từ khi ông bước chân vào con đường cách mạng. Thế hệ lãng mạn đó, có người phải từ bỏ tự do của mình vì con người nghệ sĩ, còn có người đành chịu chết cả con người chính trị và con người nghệ sĩ để chỉ “bận làm người”. Nói bằng một cách nói đặc trưng, “những thế lực phản động” sẽ bị bánh xe lịch sử nghiền nát.

Có điều kiện đọc báo chí ngoài nước, tôi thấy hình bóng của Tố Hữu hiện ra lừng lững như một ông đao phủ thủ, chặt phăng những cái đầu hơn ông, khi là vì ghen tài, khi là vì những lý do cá nhân. Giống như mình ông phải chịu trách nhiệm tất cả các oan khiên và là đầu mối của việc đàn áp Nhân văn Giai phẩm (NVGP). Tôi có cảm tưởng rằng họ đã quá đề cao ông. Tôi nghĩ rằng, tội cho ông, trót làm thơ và lại làm chính trị nên trở thành một người giơ đầu chịu báng. Nói cho chính xác, (vẫn theo tôi) Tố Hữu, trong vụ NVGP (mà tôi được dạy rằng là một nhóm văn nghệ sĩ phản động) chỉ là một người phát ngôn, cất lên tiếng nói cho cái trạng thái tinh thần ấy, và vì vậy cũng góp công vun quén cho cái trạng thái tinh thần ấy thành hình và lớn dậy.

Xét từ khía cạnh xã hội, NVGP là sự thua cuộc của con người nghệ sĩ, con người trí thức trước một con người thực dụng, con người chính trị. Sự thua cuộc ấy là tiền định. Nó phản ánh mâu thuẫn lớn nhất của xã hội Việt nam hậu phong kiến: đó là mâu thuẫn giữa con người và xã hội, giữa cá nhân và cộng đồng. Trước đó, và bây giờ, không có những nỗ lực xây dựng một cá nhân, chỉ có những nỗ lực xây dựng một cộng đồng. Trước đó, và bây giờ, không có những nỗ lực xây dựng một con người, chỉ có những nỗ lực xây dựng một xã hội. Đặt trước cuộc chiến độc lập dân tộc, con người-cá nhân bị bóp chết. NVGP thất bại, không phải bởi vì sự đàn áp, mà bởi sự non nớt của ý thức con người-cá nhân trong xã hội Việt nam trước một bối cảnh xã hội không cho nhiều chọn lựa.

Giờ đây, tất cả vẫn đang đi đúng quĩ đạo của chúng, chỉ với một vận tốc ở trên giới hạn của sự sốt ruột. Đầu tiên là sự tan rã của cái trạng thái tinh thần đã từng gắn bó hầu như tất cả lại đó, cái mà người ta bây giò ai đó gọi là sự trói buộc. Đầu tiên là sự nhìn lại các giá trị một thời. Rồi người ta sớm nhận ra rằng đó không phải là cái chúng ta cần. Đó đơn thuần là lịch sử. Đó đơn thuần là ngày hôm qua. Một ngày hôm qua bị chèn ép, bị vùi dập để không kịp chết hẳn, chết gìa hay đúng hơn, không sống hết tuổi trời, mà còn sống tuổi người leo lét mãi, không được ‘làm phân bón'(1). Những Vi Thùy Linh hôm nay, cuống rốn không chôn dưới bom Mĩ, lưng không còn muốn đeo cái gánh nặng ngàn năm nữa, họ cần nói về họ, về tương lai của họ, về những quan tâm của họ. Họ ‘Khát’ và tôi cũng khát. Cái khát ấy là cái khát tương lai, mà cũng là cái khát quá khứ. Một quá khứ sẽ cho họ điểm tựa bằng sự trong sáng, chứ không phải cho họ sự thách đố vì sự tù mù. Họ cần ra khỏi cái trạng thái tinh thần đã và đang ngự trị ấy mà cho dù đang tan rã, những tan rữa của chúng vẫn còn lùng nhùng vùi lấp mãi. Họ có thể như không hoang mang, họ có thể như rất là tự tin, nhưng chính trong sự tự tin đó, tôi lại cảm thấy cái hoang mang và cô đơn của một thế hệ không được chỉ đường, lại cảm thấy sự quanh quẩn đầy nghi hoặc. Có thể sự tự tin ấy chỉ là một cách che dấu sự hoang mang? Và sự hoang mang ấy thì khác lắm cái hoang mang nhộn nhịp và hứng khởi của những nhà thơ mới. Cái hoang mang của ngày hôm nay, hình như có nguyên nhân không dính gì đến văn học. Cái hoang mang của ngày hôm nay, còn là sự ám ảnh của quá khứ.

Đặt một câu hỏi: Thơ trẻ hôm nay có gì mới? Có phải nó mới ở cách ‘tra tấn những con chữ’, cách tạo liên tưởng, cách sắp đặt từ? Có thể là như vậy, nhưng nếu chỉ có vậy, nó không đủ để tạo nên một thế hệ mới như thơ mới đã từng tạo nên. Liệu có thể có cái mới giam hãm trong những tâm trạng cũ, những ý thức cũ, những tư tưởng cũ? Nếu có thơ trẻ mới, thì đó là sự quay trở lại của con người nghệ sĩ, con người trí thức khỏi cái tập thể. Khi xưa thơ mới từng là sự dứt phá ra khỏi cái lịch sử, cái đám đông. Còn thơ trẻ sẽ là những cố gắng dứt phá ra khỏi cái tập thể, cái đồng dạng, không phải để đi tìm một tháp ngà quên lãng, mà để đi tìm một sự chia sẻ. Những câu chữ không còn e dè một quá khứ, không vun quén cho một cái đích ngắm, không vì sự nghiệp giáo dục, hay vì một lí tưởng, đơn giản là nó cần được nói ra, nó có nhu cầu được giải toả và được soi sáng, nó là một tâm trạng, một tâm trạng đang cần không gian để lớn dậy. Nguyễn Quốc Trụ đã rất kiệm lời khi ông cho rằng thơ trẻ là một phản ứng, một “sự thất bại của thành công”(1). Tôi muốn hiểu rằng ông muốn nói thơ trẻ chỉ là sự trở về: trở về với một tinh thần mới, một cảm xúc mới, một cái tôi mới mà Hoài Thanh từng nói đến. Thế thì ai bảo là nó trẻ? Có thể nó chỉ non trên con đường trở về phía trước của mình!

_________________

1- Nguyễn Quốc Trụ: “Những chi tiết thơ trong một cõi không thơ “, Talawas, 5-8-2002.

 
© talawas 2026