Lê Quỳnh (LQ): Hà Nội và Sài Gòn – hai thành phố trung tâm ở hai đầu Việt Nam thường được so sánh với nhau về nhiều mặt. Ông David Lamb là phóng viên của tờ Thời báo Los Angeles với sáu năm có mặt tại chiến trường Việt Nam. Từ năm 1997 tới 2002, ông sống tại Hà Nội với tư cách trưởng văn phòng đại diện của tờ Thời báo Los Angeles. Năm 2002, ông xuất bản quyển sách Vietnam, Now: A reporter returns (Việt Nam hôm nay – người phóng viên trở lại):
David Lamb: Với tôi, Hà Nội là một trong những thành phố thú vị và đẹp nhất mà tôi đã sống. Người Hà Nội rất nhiệt tình và chào đón người nước ngoài, đặc biệt người Mỹ. Đây là ngạc nhiên lớn với bất kì người Mỹ nào mới tới Việt Nam lần đầu tiên. Về nhiều mặt, cuộc sống ở Hà Nội giản đơn hơn tại Mỹ. Trong bốn năm sống ở Hà Nội, vợ chồng tôi chỉ đi làm bằng xe đạp. Và khi đi xe đạp trên đường phố Hà Nội, bạn có cảm giác mình đi qua phòng khách của mọi người. Có một cảm giác rất thân mật khi mà các ngôi nhà trổ hẳn ra đường phố và đa số các phòng phía trước biến thành cửa hàng bán buôn. Phần nào đó, sự khác nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội cũng giống như New York và Boston tại Mỹ. New York là nơi có nhịp sống nhanh, trung tâm thương mại còn Boston, hay Hà Nội, là ngôi nhà của những trí thức, nhà thơ, nhà văn. Có người bảo tôi ở Hà Nội, người ta trầm ngâm suy nghĩ, rồi lại tiếp tục suy nghĩ; còn tại Sài Gòn, người ta trầm ngâm suy nghĩ, và rồi bắt tay vào việc.
LQ: Giáo sư William Logan, đại học Deakin, Melbourne, tự nhận mình là người yêu Hà Nội, một tình yêu thể hiện qua quyển sách dày ba trăm trang Hanoi: A Biography of a City (Hà Nội: Tiểu sử một thành phố):
William Logan: Theo tôi, giữa nhiều người Hà Nội có một niềm tin rằng họ là người nối tiếp của một truyền thống văn hóa lâu đời. Bắt đầu với nền văn minh sông Hồng, thì người Hà Nội rất tự hào về thành phố và nền văn hóa tìm thấy ở Hà Nội. Họ tin là người miền Nam thuộc một vùng đất mới thì chủ yếu mang đầu óc buôn bán, còn nền văn hóa đại diện cho Việt Nam thì tìm thấy ở Hà Nội. Mặc dù, khi nói về truyền thống thì càng đi sâu về trước ta càng thấy rõ ảnh hưởng của Trung Quốc. Nhưng đây cũng là điều tự nhiên vì châu Á có một vài nền văn hóa lớn, chẳng hạn như Trung Quốc, Ấn Độ, đã bành trướng ra các nước khác. Đó là một điều tự nhiên của lịch sử và theo tôi, cũng không có lý do gì để phủ nhận hay cảm thấy thua kém.
LQ: Theo ông thì ngoài ảnh hưởng Trung Quốc, thì Hà Nội, theo thời gian, đã chịu những ảnh hưởng nào khác từ bên ngoài?
William Logan: Rất khó xác định đâu thật sự là Việt Nam, và đâu là sự kết hợp giữa yếu tố Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt là trong xây dựng. Nếu ta nói về di sản phi vật thể như ca khúc, ngôn ngữ thì có thể tìm thấy yếu tố bản địa rõ rệt hơn. Nhưng nếu lại là những thành quách, đền thờ thì yếu tố Trung Quốc rất rõ. Và đến thời thuộc địa, thì lại có ảnh hưởng của người Pháp. Tôi ngạc nhiên khi đọc về mức độ của việc xây dựng và tàn phá mà người Pháp tạo ra tại Hà Nội. Một mặt người Pháp muốn tạo ra môṭ thành phố lớn trong vùng Đông Nam Á mặt khác họ cũng thể hiện điều có thể gọi là tàn bạo đối với thành phố này. Họ phá hủy thành cổ Hà Nội vì nó là một biểu tượng khác với hình ảnh chủ nghĩa thực dân lúc đó. Mặt khác, người Pháp cũng đem những ảnh hưởng kiến trúc mới từ châu Âu lúc đó, như quan niệm về đường phố, cây xanh. Rồi những năm sau này kiểu kiến trúc của Nga lại chen vào Hà Nội. Tất cả những ảnh hưởng này đã tạo nên một thành phố rất đặc biệt tại Đông Nam Á, thậm chí châu Á.Gương mặt của thành phố Hà Nội cũng thể hiện rõ những biến động lịch sử đã đi qua.
LQ: Nhiều biến động đã đi qua Hà Nội. Một khi đời sống kinh tế khá hơn, liệu nó có ảnh hưởng thế nào tới cuộc sống văn hoá? Sophie Quinn-Judge là sử gia người Anh với mối quan tâm nghiên cứu về lịch sử chính trị Việt Nam thế kỉ hai mươi. Bà Sophie Quinn-Judge hiện đang dạy tại trường London School of Economics & Political Science, gọi tắt là LSE. Bà cho biết cảm tưởng của mình sau khi thăm Hà Nội năm 2002
Sophie Quinn-Judge: Nhiều điều đã thay đổi, đặc biệt là Hà Nội đã khác biệt đến mức ngạ̣c nhiên. Và dĩ nhiên, cuộc sống của người dân đã sung túc hơn. Mọi người có vẻ lạc quan trọng việc kiếm sống. Chỉ có điều tôi cảm thấy sự trỗi dậy trong đời sống kinh tế cùng những cơ hội mà nó mở ra đã không kéo theo một sự phát triển tương tự trong đời sống tinh thần. Tôi không có những tiếp xúc với giới khoa học và tôi chắc là trong khoa học thì có khác. Tuy vậy, về lĩnh vực nghệ thuật cũng như những cuộc thảo luận về các sự kiện chính trị hay diễn biến cuộc sống hàng ngày, thì vẫn tồn tại một sự kiểm duyệt mà tôi nghĩ là không cần thiết.
LQ: Liệu đây có thể gọi là sự tự kiểm duyệt của chính người dân hay không?
Sophie Quinn-Judge: Tôi chắc là có. Việt Nam đang trong thời bình, không có tai họa gì lớn trong vòng mười năm qua, và tôi nghĩ mọi người có quyền hưởng thụ cuộc sống. Có lẽ nhiều người có cảm giác thỏa mãn với cuộc sống hiện nay, tuy vậy, dường như có điều gì đó đang thiếu. Tôi chắc là Hà Nội cũng như người dân rồi sẽ phồn vinh hơn, nhưng Hà Nội đóng vai trò gì trong tương lai, đó là một câu hỏi lớn. Gần đây tôi có nghĩ về Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác, và cách thức thu hẹp khoảng cách kinh tế của Việt Nam. Nhưng Việt Nam cũng khác một số nước trong vùng, như Singapore chẳng hạn. Đó là một nước rất hiện đại, nhưng là một nước nhỏ, một nơi mà bầu không khí chính trị có thể được kiểm soát khá chặt. Việt Nam thì khác, đó là một nước rộng lớn hơn, giàu có về người, về ý tưởng mà có thể thức giấc và tạo nên sự khác biệt tại Việt Nam trong tương lai.
LQ: Trong phần một, quý vị đã làm quen với Anne Kristine Naess, một người Na Uy nghiên cứu về hội họa tại Hà Nội những năm 90. Theo cô, một trong những lý do mà hội họa có thể được tự do phát triển tại Việt Nam là vì chủ đề chính trị hầu như không xuất hiện trong tác phẩm của các họa sĩ.
Anne Kristine Naess: Tôi nghĩ các họa sĩ ở Hà Nội bây giờ không quan tâm nhiều tới chính trị. Họ quan tâm những chủ đề về cái đẹp, tình yêu, tâm linh. Tranh của họ nói chung không làm mất lòng ai, vì thế họ có nhiều tự do hơn họa sĩ ở các nước khác, như Malaysia chẳng hạn. Dĩ nhiên ý tôi không phải là các họa sĩ Hà Nội chỉ quan tâm chuyện bán tranh. Không thể có họa sĩ giỏi nếu anh ta lấy tiền làm nguồn cảm hứng đầu tiên. Không phải họa sĩ nào cũng giàu tại Hà Nội. Tôi biết có những họa sĩ chấp nhận làm những công việc nhàm chán để có tiền mua màu, giá vẽ. Hơn nữa, hội họa Hà Nội bây giờ rất phức tạp, không phải lúc nào ta cũng biết các họa sĩ muốn gì. Ta không biết liệu những bức tranh họ trưng bày trong các gallery có phải là tác phẩm tâm huyết của họ hay chỉ là phương tiện để họ có thể theo đuổi những sáng tạo khác.
LQ: Từ một thời gian rất lâu, trong các ngành nghệ thuật tại Việt Nam, thường người ta có thói quen tìm tới văn học với hi vọng tìm thấy những suy tư, vấn đề trong cuộc sống phản ánh trong tác phẩm các nhà văn. Wayne Larkin là một nhà văn người Mỹ. Trong nhiều năm, ông đã tham gia dịch nhiều tác phẩm Việt Nam sang tiếng Anh. Những nhà văn miền Bắc trở về Hà Nội sau năm 1975 và đối diện với xã hội thời hậu chiến – họ đã viết thế nào?
Wayne Larkin: Điều tôi tìm thấy trong tác phẩm của nhiều nhà văn hiện đại là tác động của hiện đại hóa tới xã hội Việt Nam, những mâu thuẫn khi sự nhấn mạnh vào một cuộc chiến mà ở đó mọi người biết mình làm gì, cùng có mục tiêu chung, cùng đoàn kết và sẵn sàng hi sinh cho chiến thắng đã khó có chỗ trong những năm hậu chiến. Đó là những điều tôi thấy trong những tác phẩm của nhà văn Việt Nam, một cảm giác rằng dường như chủ nghĩa lý tưởng đã mất đi khi xã hội trở nên phức tạp và nhiều cạnh tranh hơn.
LQ: Trước những thay đổi như vậy, thì một người nước ngoài sẽ xem đâu là thử thách đang đối diện giới trí thức tại Hà Nội hôm nay? Sau đây là bà Dana Sachs, tác giả quyển sách Ngôi nhà trên phố mơ: hồi kí của một phụ nữ Mỹ ở Việt Nam.
Dana Sachs: Tôi nghĩ trong giới trí thức tại Hà Nội, có những người muốn trở thành một lực lượng thay đổi xã hội, nhưng cũng có những người lại muốn nhìn lại những giá trị quá khứ. Mối quan hệ giữa đổi mới và quá khứ, theo tôi là mối bận tâm lớn của những người trí thức Hà Nội. Mà thật ra có lẽ điều này đúng với cả Việt Nam thời kì đổi mới. Ở cả trong chính trị, kinh tế hay văn hóa, câu hỏi chính vẫn luôn là Việt Nam nên mở cửa tới mức nào và khép tới mức nào. Và từ trước đến nay người ta vẫn cố gắng tìm ra cách làm sao cân bằng giữa các ảnh hưởng này.
LQ: Nếu nói những vấn đề của Hà Nội cũng là vấn đề của Việt Nam ngày nay, vậy thì giới trẻ sẽ đóng vai trò gì? Chúng ta quay lại với phóng viên David Lamb:
David Lamb: Tôi tin là khi Việt Nam trở nên giàu có hơn thì người dân sẽ không chỉ đòi hỏi mà sẽ còn nhận được thêm tự do. Lịch sử cho thấy khi các nước giàu hơn, tầng lớp trung lưu nhiều hơn, số người có học tăng lên, thì lẽ tự nhiên là họ sẽ muốn có thêm tự do – tự do có tiếng nói quyết định tương lai của mình, có tiếng nói trong hoạt động của chính phủ, tự do báo chí. Trong bốn năm sống tại Hà Nội, tôi đã chứng kiến sự mở rộng quyền tự do cho người dân, dù còn chậm chạp. Tất nhiên vẫn còn một chặng đường dài trước khi người dân tại đây được tự do như nhiều nước khác, như Singapore hay thậm chí Indonesia. Theo tôi, giới trẻ tại Việt Nam hiện nay nói chung mang tâm trạng lạc quan về tương lai. Một trong những lý do là vì so với một thập niên trước đây, thế hệ hiện nay có nhiều cơ hội hơn. Nhưng nếu chính phủ Việt Nam không biến được những cơ hội này thành hiện thực, nếu sự khao khát kiến thức của giới trẻ không được thỏa mãn để giúp họ có cuộc sống sung túc, thì chính phủ sẽ gặp thách thức. Theo tôi, thách thức lớn nhất hiện nay của chính phủ Việt Nam là làm sao đáp ứng được nguyện vọng của thế hệ trẻ.
LQ: Và cuối cùng, như giáo sự William Logan viết trong lời cuối quyển sách Hà Nội: tiểu sử một thành phố, thì những người nước ngoài gọi là chuyên gia sẽ không thể áp đặt ý kiến của mình về hướng đi của Hà Nội trong tương lai. Điều họ có thể, và cũng là điều mà tạp chí văn hóa lần này cố gắng thực hiện, đó là đưa ra một số ý kiến so sánh trong bối cảnh Việt Nam muốn trở thành một phần của thế giới hiện đại. Xin nhường lời cuối cho giáo sư Mandy Thomas – thuộc đại học quốc gia Úc – với nhận xét về sự thay đổi không gian công cộng tại Hà Nội trong mấy năm qua
Mandy Thomas: Trong mười năm qua, Hà Nội chứng kiến ngày càng nhiều người đổ ra đường phố tham gia các hoạt động hàng ngày. Ví dụ gần đây là rất nhiều thanh niên tràn ra đường phố Hà Nội ăn mừng trong thời gian diễn ra World Cup. Những hoạt động thế này 10, 15 năm trước ta không thể thấy, trừ khi đó là hoạt động lễ hội do nhà nước tổ chức. Giờ đây, rất đông người tham gia các hoạt động phi chính trị trên đường phố, trong khi số lượng người tham dự các hoạt động của nhà nước tổ chức ở những nơi công cộng không nhiều như vậy. Đây là sự thay đổi lớn trong cách sử dụng không gian công cộng ̣(public space) tại Hà Nội. Nếu như ta xem các cảnh quan là hình dáng vật chất thể hiện sự biến đổi của những tư tưởng xã hội-chính trị, thì theo tôi chúng ta có thể sẽ chứng kiến việc giảm độc quyền làm chủ không gian công cộng của nhà nước và sự phát triển của một thành phố mà ở đó khát vọng đóng góp của người dân được chấp nhận nhiều hơn.
London 12/2002