La Toàn Vinh
Trong suốt một phần tư thế kỷ ở hải ngọai, hầu hết là ở Bắc Mỹ, tôi đã về thăm quê đâu độ gần chục lần, nhưng thời gian không được nhiều để đi hết những nẻo đường đất nước, gặp lại nhiều bạn bè xưa, mỗi người đều có việc của họ. Tôi cũng thường xuyên theo dõi những sinh hoạt nghệ thuật, trong những năm gần đây giới trẻ đã có những biểu hiện tích cực bên cạnh những trăn trở, ngơ ngác v.v…
Tôi đi làm triển lãm nhiều nơi trên thế giới, mỗi nơi đều có những sắc thái riêng, ra đời từ tinh thần, hoàn cảnh xã hội, nơi họ làm việc. Nhưng nếu đứng ở một nơi để mà nhìn, đánh giá, thì trở thành hạn hẹp. Lấy ví dụ như ở Việt Nam thì lấy nghệ thuật phim ảnh Triều Tiên, hội họa Thái Lan làm tiền đề ngưỡng mộ. Nhưng nếu đứng ở Mỹ hay Pháp mà nhìn thì chỉ thấy hư không lồng lộng, đại đa số đánh giá nghệ thuật đi kèm theo những giá trị kinh tế của quốc gia đó, thông qua những thương hiệu đã được quảng cáo. Nam Triều Tiên được chú ý là mạnh là vì họ có của cải vật chất như cái xe Hyundai, cái máy Samsung – nhưng thực sự những thứ ấy luôn là những vật chất sẽ trôi qua rất nhanh, để thay vào những tiện nghi mới. Nhớ hồi còn học mỹ thuật ở Sài Gòn, các thầy bạn thường hay ca ngợi về cái giải Prix de Rome ở Ý, nhưng sang đây bao năm tôi chẳng thấy gì, tìm trong thư viện chỉ thấy vài cuốn sách cũ, cả khi về Venice để làm performance tôi hỏi những họa sĩ bản xứ nhưng họ chỉ nói qua loa, vì giá trị đó chỉ vỏn vẹn trong vài cây số của thành Rome. Đó có phải là một thương hiệu quảng cáo thổi phồng bởi những bậc đàn anh của chúng tôi từ thời Đệ nhất Cộng hòa được xuất dương, mà đại đa số là ở Ý? Cho đến hôm nay trong nước hàng năm cũng có nhiều người tham dự những giải hội họa đại diện từ bên ngoài như giải Philip Morris. Về tinh thần thì bản thân người nghệ sĩ thường tự hào vì họ có những giao lưu với bên ngoài, thế nhưng ban giám khảo chấm giải là những người như thế nào, có ai biết tới không? Có một người bạn ở trong nước nhắc tới cái tên Philip Morris, tôi nghĩ ngay đến gói thuốc lá. Ở Mỹ, những nhà kinh doanh lớn mỗi năm phải “có nhiệm vụ” đưa vào quỹ nhân đạo vài phần trăm trong tổng số lượng tài sản mà họ có được, nhưng nếu họ mang biếu cho các trường đại học, các viện tế bần, thời tên tuổi sẽ được nêu trên bảng vàng, không phải nơi nào Giàu cũng kèm theo chữ Sang đâu, nhiều khi bị phải như vậy.
Tôi cũng vui lây khi những người đồng hương, đồng nghiệp đoạt giải, nhưng các vị cũng ráng làm sao để trở thành giám khảo, nếu không suốt đời giá trị nghệ thuật của mình đều nằm gọn trong bàn tay, đôi mắt người bên ngoài định đoạt. Họa sĩ Picasso cũng ngại vấn đề này lắm vì mẫu mực do chính mình tạo nên, dù rằng những giải thưởng không bắt buộc ai phải tham dự cả, giải thưởng nào cũng có những tiêu chuẩn nhất định, và định nghĩa về nghệ thuật phải như thế nào? Quý vị sẽ tìm thấy trong mỗi người hay ở ban giám khảo. Tuy rằng dù có quảng cáo cho thương hiệu nhưng mọi người sẽ biết về mình chăng, mọi người ở đây không phải tất cả.
Về vật chất, những người lọt vào mắt xanh hay vừa ý ban giám khảo sẽ được $5000, số tiền tính ra cũng lớn nhưng so với cái tên thương hiệu Philip Morris thì chẳng hề gì đâu. Nhớ lại khi còn là sinh viên mỹ thuật, hàng năm sinh viên hay thi đua đoạt giải nhất cũng $5000, do một chủ tiệm bán pizza bên cạnh trường khi chết để lại di chúc, mỗi năm cho sinh viên mỹ thuật. Nói như thế để thấy giữa một thương hiệu tư bản và một ông chủ tiệm nghèo, giữa giá trị của một lớp học và giá trị tài năng của cả quốc gia như Việt Nam chẳng hạn. Những người đoạt giải Philip Morris Việt Nam vừa qua, một giải lớn của Đông Nam Á, được tổ chức ở một nơi khỉ ho cò gáy, không biết ánh sáng văn minh có soi rọi đến kịp chưa. Người Việt Nam ra hải ngoại rất nhiều nhưng những thế hệ đó đã làm nên những gì, một câu hỏi lớn trên diễn đàn, có phải thiếu một điều gì chăng? Hay là mắc cỡ, xấu hổ v.v… Khách quan nhận thấy là mình thiếu đi vào dòng chính (mainstream) của trào lưu lớn, vì hội họa hải ngoại trên điạ bàn rộng lớn nên tâp trung nhiều số lượng biểu dương (manifestation), vì biểu dương mới có tác động mạnh trên bình diện rộng lớn. Phải tiếp xúc, giải thích những gì có thể đáp ứng được cho mọi người hiểu (cho dù cơ bản đã khó hiểu), tuy nhiên vào context này, nhất là thế kỷ này sự giãi bày dễ vướng vào chính trị. Ở Tây phương mọi hoạt động đi vào hệ thống, vì từ lâu lắm rồi có một người thành công tuyệt vời cùng với một group gồm 12 tông đồ, network cũng từ đây không có gì huyền bí cả. Hội họa có trường sở dạy, có giáo trình giáo án nhưng sao không giải thích được, như một nghịch lý nào đó trên 85% những họa sỹ nổi danh đều không qua môt trường nào cả? Nói như thế cũng là câu trả lời như là một nỗ lực tự bản thân, thí dụ người Triều Tiên tên Nam June Paik, khởi sự sang Tokyo học nhạc sau đó sang Đức tham gia vào dòng chính của Fluxus, đã khởi sắc từ thập niên 70, tác phẩm được nhiều người biết qua performance với Beuys. Cùng installation, ông Paik sắp đặt một tượng Phật Ngồi đối diện với cái máy truyền hình dùng một camera thâu chân dung của bức tượng và phát trên cái TV, hình ảnh ông Bụt nhìn cái chân dung mình trên màn ảnh điện tử, như tự mình soi rọi cho chính mình. Còn Wao Wu Ki thì xa hơn, từ Hàng Châu qua Pháp tham gia vào dòng chính của abstraction lyrique (trừu tượng trữ tình) với S. de Maria và Riopell. Những sự thành công của hai vị Á Châu này không phải một mình mà có được.
Cũng có người nói về giải điêu khắc ở Việt Nam với bao trăn trở vì những người tham dự không chuyên nghiệp. Theo tôi nghĩ, phần đông những người tham dự vì họ mong tìm cái tên đánh vào quần chúng để sự nghiệp đi lên, chứ nếu có tiền tài danh vọng rồi tham dự làm gì lỡ trượt thì phiền lắm. Tôi thấy tổ chức có phần dân chủ vì tinh thần mở rộng cho mọi người có khả năng, như ông Bụt nói “Ai cũng có khả năng thành Phật cả”. Tinh thần này giống ở Mỹ, những giải thưởng ra cho tất cả, có khi người học trò đoạt giải nhưng ông thầy thì không.
Nếu như điểm mạnh của tổ chức điêu khắc là tượng đài thì tương lai rất rõ, nên đẩy mạnh thêm lên để có một trường phái tượng đài tựa như họa sỹ Mexico Diego Rivera lúc ở Paris tham gia cùng Picasso và vẽ lập thể, sau đó ông chuyển hướng sang vẽ tranh tường (mural) để rồi từ đó người đời có được cái tên gọi muralism, sự kiện này mở đầu cho hội hoạ hoành tráng Mỹ, đã gây ấn tượng cho Jackson Pollock với những giới hạn ở nơi vô cùng.
© 2004 talawas