trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
23.9.2003
Như Huy
“Reverb” – Một cuộc trưng bầy đáng chú ý
 

Có lẽ cuộc chuyển mình quan trọng nhất của nghệ thuật thị giác thế giới ở nửa sau của thế kỷ 20 chính là cuộc chuyển mình từ chủ nghĩa hiện đại (modernism) sang chủ nghĩa hậu hiện đại (post modernism). Cuộc chuyển mình đó mang hình ảnh của một cuộc “phá chấp” vĩ đại, trong đó, nghệ thuật đã khước từ cái vị trí kín cổng cao tường, biệt lập và nguyên trinh của mình để rũ áo thõng tay bước vào cuộc đời, bước vào chợ đời.

Một cuộc thay đổi niềm tin lớn xảy ra. Những niềm tin cũ của chủ nghĩa hiện đại như tính nguyên gốc (originality), tính duy nhất (uniqueness), tính chính danh (authenticity), tính biệt lập (autonomy ), tính hoàn tất (completeness), tính siêu nghiệm (transcedence), và chất lượng thẩm mỹ (aesthetic quality), những niềm tin bắt nguồn từ Kant và sau này được Greenberg, nhà lý thuyết của chủ nghĩa hình thức coi như đích cuối của mọi nỗ lực thẩm mỹ đã buộc phải thay đổi bằng những niềm tin khác.

Sự xuất hiện của Jacques Derrida với giải cấu trúc luận (deconstructionism) cùng với Roland Barthes với tuyên bố về “cái chết của tác giả” (“the death of author”) đã chính là những sự xuất hiện quan trọng cung cấp cho lý thuyết hậu hiện đại vũ khí để nó, rốt cục, tống cổ chủ nghĩa hiện đại ra khỏi vườn địa đàng trinh nguyên (chủ nghĩa hiện đại nghĩ thế đấy!) của nghệ thuật – nơi từng là chốn cư ngụ của những Adam và Eva trung lưu (bourgeois) da trắng với quan điểm tình dục bình thường – và biến chính cái vườn địa đàng đó thành một quảng trường công cộng cho tất cả mọi nỗ lực và quan tâm của mọi nghệ sỹ không kể mầu da, giới tính, quan điểm tình dục, chủng tộc v.v…

Theo Derrida, bản thân và xã hội chỉ là những cấu trúc của (và giới hạn bởi) ngôn ngữ. Tất cả là văn bản (text) và chẳng có gì ngoài văn bản. Tuy nhiên, khả tính của ngôn ngữ lại không ổn định, như Ferdinand de Saussure đã từng chỉ ra trước đây, sự bất định gây ra bởi mối quan hệ võ đoán (arbitrary) của tín hiệu (signifier) và cái được tín hiệu (signified) [1] , và tính bất định ấy của cấu trúc ngôn ngữ đã – một cách logic- gây ra sự không ổn định của văn bản.

Sự không ổn định của văn bản hơn nữa còn nằm ở chỗ: Mọi văn bản đều thường xuyên mang theo những ý nghĩa kìm giấu ở bên trong. Những ý nghĩa kìm giấu ấy (theo các nhà giải cấu trúc luận) thường khi lại nhiều hơn cái bề mặt mà nó hiển lộ. Các nhà giải cấu trúc luận vạch ra những quan hệ nước đôi giữa những khu vực trung tâm được ưu đãi trong văn bản với những khu vực ngoại biên, thứ yếu, và cho rằng chính những khu vực gọi là thứ yếu và ngoại biên trong văn bản mới là khu vực mang nhiều thông tin hơn cả. Bằng giải cấu trúc luận, họ tìm cách hoán vị giữa hai khu vực ngoại biên và trung tâm. Hành động ấy của họ được gọi là “decentering” [2] . Bên cạnh đó, sự xuất hiện của Roland Bathes với quan niệm về cái chết của tác giả cũng đã làm thay đổi nhận thức về vai trò của tác giả. Tác giả không còn được coi như kẻ sáng tạo (author as creator) nữa. Chức năng của tác giả giờ đây lại chính là việc phải dấn thân vào văn bản, chiếm hữu lấy những gì đã được viết và cung cấp những bình luận, chú giải cho nó. Nói một cách khác, “cái chết của tác giả đã là tiền đề cho sự ra đời của người đọc (kẻ giải mã văn bản)”.

Sự xuất hiện của hai lãnh tụ tinh thần của chủ nghĩa hậu hiện đại nói trên đã cung cấp cho chủ nghĩa này những phương thức và tiền đề mới để từ đó rất nhiều trào lưu, trường phái khác nhau và khác trước đã ra đời trong nỗ lực thể hiện nghệ thuật, không theo cái cách mang tính “hình thức” (formal) nữa, mà như một sự “trình hiện” (representation) [3] . Một ngôn ngữ hoàn toàn mới mẻ đã trở nên phương tiện giao lưu chính yếu của mọi nghệ sỹ toàn cầu.

Từ góc độ này, có thể nói sự xuất hiện của bốn nghệ sỹ Úc với quá trình hoạt động đáng nể (xem tiểu sử hoạt động của họ tại gallery) trong cuộc triển lãm mang tên “Reverb” tại Mai’s Gallery (16 Nguyễn Huệ, Q.1, HCMC từ 13/09 tới 10/10/2003) là một động thái tích cực theo nghĩa: những sứ giả mang thông điệp “trình hiện” của chủ nghĩa hậu hiện đại tới với công chúng của nghệ thuật thị giác tại Việt Nam.

Xuất hiện như một nghệ sỹ của nghệ thuật ý niệm (conceptual art), Gail Joy Kenning với tuyên ngôn mở đầu trong lời giới thiệu về tác phẩm của mình đã nhấn mạnh ngay tầm quan trọng của hành trình (progress) hơn là đích tới của tác phẩm: “Không phải là trạng thái, mà sự hình thành mới là điều quan trọng.”

gailJoy

Tác phẩm của Gail là hình ảnh của 14 biến thể của một chiếc nón lá. Có thể nói theo cách nói của Chomsky để diễn tả tác phẩm này: tác phẩm của Gail chính là 14 câu phái sinh (derived sentence) từ một câu lõi (kernel sentence) trong cái ngữ pháp tạo sinh (generative grammar) của nghệ thuật ý niệm để định vị ấn tượng (cũng là nhận thức) chủ quan của Gail về sự chậm, tĩnh của xã hội Việt Nam (trái ngược với sự biến động thường trực của xã hội phương Tây).

Trái với Gail, Sue Pedley lại mang nghệ thuật của mình hoà vào trong thiên nhiên như một can thiệp nhẹ nhàng có chủ ý vào một tổng thể mặc định, và thông qua đó biến cái tổng thể (sau khi bị can thiệp đã không còn mặc định) ấy thành một lời phát ngôn, tiếng thở dài, nụ cười nhẹ, sự băn khoăn, lời giải đáp… nhỏ bé của tác giả (con người) trước thiên nhiên.

SuePedley

Với tác phẩm sắp đặt của mình, mới thoạt nhìn Bonita Ely đã làm người xem nhớ tới những tác phẩm của một số nghệ sỹ đương đại Trung Quốc, những người từng sử dụng thư pháp, chữ triện cho nghệ thuật của họ như XuBing, Gu Wenda… Tuy nhiên, tính chất biếm phỏng (parody) của những nghệ sỹ Trung Quốc nói trên trong việc sử dụng chữ như một biểu tượng của một nền văn hóa nặng nề và cần thoát khỏi đã hoàn toàn vắng bóng trong tác phẩm của Bonita Ely. Trái lại, hành động trưng ra một loạt những tranh chữ triện của Bonita có vẻ như là việc bầy tỏ sự ngưỡng mộ của nghệ sỹ trước những cái gọi là bí ẩn của thế giới phương Đông. Với sự trưng bầy đó, có lẽ Bonita muốn nêu bật lên mối liên hệ hai mặt của tính đối chứng và tính biểu tượng trong chữ viết tượng hình. Nghệ sỹ cũng muốn chỉ ra sự đối nghịch giữa hệ thống văn bản khô cứng của phương Tây đối với những văn bản duy mỹ và tượng hình của phương Ðông, và qua đó lưu ý về sự tương phản giữa phương Ðông và phương Tây trong quan niệm về thế giới.

BonitaElay

Sự tiếp cận của Glen Clark với những vấn đề Việt Nam trong triển lãm này, theo tôi là một sự tiếp cận thú vị và sâu sắc hơn cả. Trong bài thơ đầy uẩn khúc (có thể gọi như vậy về lời tự bạch của Glen cho triển lãm) [4] , Glen Clark đã trưng ra một loạt những lát cắt mà thông qua đó người đọc có thể nhận ra phần nào những vấn đề của Việt Nam hiện đại. Từ những vấn đề rộng lớn, thậm chí với diện tích từ “Hà nội, Huế đến… Singapore”, và mang dấu ấn của những thảm kịch cách đây không xa của bom napal, cái chết, mìn và những nạn nhân trên biển… cho tới những vấn đề cụ thể và nhỏ xinh như cái lúm đồng tiền (biểu tượng cho nụ cười?) đã trở lại trên khuôn mặt của một cô gái Việt tên là Thúy, hiện đang sống tại Florida.

GlenClarke

GlenClarke Detail

Tính chất mở của tác phẩm của Glen nằm ở chỗ ông đã chọn một chất liệu có sẵn hàng loạt (tờ tiền được copy thành hơn 800 bản) để sử dụng cho tác phẩm của mình và qua đó tạo nên một biểu tượng trái với mục đích ban đầu của tờ tiền (được gấp thành 800 chiếc áo – liên hệ với câu chuyện về cô gái tên Thúy trong bài thơ). Vì lẽ đó, tác phẩm của Glen đã không còn mang tính một chiều khép kín của một đồ vật nguyên trinh, mà đã bị xoay chiều bởi tính chất hai mặt của một đồ vật có sẵn hàng loạt (ready made) được sử dụng trái mục đích và mở ra ngoại cảnh. Cả bốn tác phẩm của bốn nghệ sỹ Úc này đều đậm đặc cái khí quyển của chủ nghĩa hậu hiện đại thông qua cách lựa chọn những chất liệu phi truyền thống, sự quan tâm tới những chủ đề xã hội (theo cách riêng của mỗi người), sự chú ý tới không gian cụ thể của nơi trưng bầy và sự trưng ra vai trò nghệ sỹ như người giải mã và bình luận “văn bản” xã hội (chứ không còn là người sáng tạo ra những vấn đề thẩm mỹ).

Vì tất cả những lý do trên, trong hoàn cảnh cụ thể của nghệ thuật thị giác Việt Nam, đây có lẽ là một cuộc triển lãm rất đáng xem, không chỉ với công chúng, mà còn với tất cả các nghệ sỹ quan tâm đến việc làm mới nghệ thuật của mình.


Tài liệu tham khảo

Derrida for Beginners” by Jim Powell, James Powell, Van Howell (Illustrator), Publisher: Writers and Readers, Inc., 1996
Introducing Barthes” by Philip Thody, Ann Course (Illustrator), Richard Appignanesi, Publisher: Totem Books, 1997
Writing Degree Zero” by Roland Barthes, Susan Sonntag (Preface), Annette Lavers (Translator), Publisher: Farrar, Strauss, and Girox, Inc., 1990 (ban dich “Độ không của lối viết” cua Nguyên Ngọc)

© 2003 talawas


[1]Ví dụ như mối quan hệ giữa hình ảnh cái cây và chữ “cây” (trong tiếng việt, chữ “cây” biểu thị cho cái hình ảnh cây nhưng trong tiếng Anh, cây lại là “tree”, còn trong tiếng Ðức, cây lại là “der Baum”. Hình ảnh cây thì chỉ có một, trong khi đó từ “cây” (“tree”, “der Baum” v.v…) lại rất nhiều (khác nhau trong mọi ngôn ngữ). Như vậy, cái từ “cây” (“tree”, “der Baum” v.v…) đó được con người cung cấp một cách võ đoán (arbirtrary) cho hình ảnh mà họ thấy.

[2]Ví dụ: Trong nghệ thuật thị giác thì từ lâu nay, thị giác nằm ở khu vực trung tâm và chiếm vị trí quan trọng hơn ngôn từ cũng như không gian chiếm vị trí quan trọng hơn thời gian. Dưới ảnh hưởng của giải cấu trúc luận, những nhà phê bình nghệ thuật đã tuyên bố về tính ưu việt của ngôn từ trong nghệ thuật thị giác, và do đó họ đã cung cấp cơ sở cho conceptual art. Họ cũng quả quyết về tính ưu việt của thời gian trước không gian, bằng cách thiết lập cơ sở cho tính “sân khấu” trong nghệ thuật thị giác (và từ đó cung cấp cơ sở cho performance art, installation ar, video art…)



[3] Chữ của giáo sư Cao Xuân Hạo



[4]Glen Clarke Artist’s Statement



‘Statistics no longer mean anything.’

MIA’s,

Deaths,

Prosthetics,

Still births and Deformities,

Tonnage of bombs dropped,

Lengths of Tunnels,

Numbers of still active Land Mines,

Etc,



Statistics / Hanoi to Hue

Thousands of eucalypt saplings struggling to survive in the dead soil

A seemingly endless splattering of bomb craters alongside the rail line

Countless clusters of unmarked graves.



Statistics / Thuy

Thuy left Vietnam at a very young age.

The boat that Thuy left on had a large number of people on board.

It was at sea for a number of weeks.

After sinking, many perished.

Thuy was in the water for many hours before her rescue.

Thuy lost a number of her siblings.

Thuy spent many months in a Singapore refugee camp.

Eventually Thuy was reunited with her Father, Mother and Sister.

Thuy has one dimple on her left cheek.



Statistics / Shirts / Entities

When Thuy taught me how to make these shirts from the American One-Dollar Note she told me the story her mother told her.

She said;

When she was very young a bad man stole her dimple and that one-day when that man meets his judgment her dimple will return.

Thuy lives in Tampa, Florida.



Statistics / The space

In discussion with a member of 4A staff I learnt that the architect, adhering to the principals of Feng Shui, described the stair well / light well as the space between Heaven and Earth.



Statistics / Thematic.

For a long time I have been making work in the belief that ‘the correct distance between objects’ is critical, whether the distance is physical, cultural or emotional’. Two objects too close to each other become one, two objects too far apart no longer relate to each other.



Statistics / The work

I think this is a good space to fill with a given number of ‘Unknown Entities’

That are missing / presumed dead, from many locations and tyrants not just Hitler, Amin, Poll Pot, Milosevic, etc the list goes on. Statistics no longer mean anything.





Bản tiếng Việt (do gallery cung cấp)



‘Thống kê không còn mang ý nghĩa gì nữa.’

Sự mất tích,

Những cái chết,

Tàn tật,

Những dị dạng của trẻ,

Hàng tấn bom đã dội xuống

Chiều dài của những đường hầm,

Còn rất nhiều mìn ẩn dưới đất,





Thống kê / Từ Hà Nội đến Huế

Hàng ngàn cây bạch đàn nhỏ đấu tranh để được sống trên miền đất chết.

Tiếng kêu rên vô tận của những hố bom dọc đường tầu

Vô số phần mộ không tên



Thống kê / Thúy

Thúy rời Việt Nam khi còn rất trẻ.

Thúy đi cùng rất nhiều người.

Nó đã lênh đênh trên biển nhiều tuần

Sau khi nó bị đắm, rất nhiều người đã chết

Thúy đã bơi giữa biển nhiều giờ trước khi được cứu vớt.

Một số anh chị em ruột của Thúy đã bị chết trong chuyến đi này.

Thúy đã trải qua nhiều tháng ở một trại tị nạn Singapore

Cuối cùng Thúy đã được gặp lại ba mẹ và chị gái.

Thúy có một lúm đồng tiền trên má trái.



Thống kê / Những chiếc áo sơ mi / Sự tồn tại

Khi Thúy dạy tôi cách xếp một đô la thành cái áo sơ mi, cô ấy kể cho tôi nghe câu chuyện mà mẹ cô đã kể cho cô

Cô nói:

Khi cô còn rất trẻ một người đàn ông xấu đã đánh cắp lúm đồng tiền của cô ấy và một ngày kia khi người đàn ông đi hầu địa thì lúm đồng tiền của cô đã quay trở lại.

Thúy sống ở Tampa, Florida.



Thống kê / Không gian

Trong cuộc thảo luận với 1 thành viên của nhân sự 4A, tôi đã học được rằng nhà kiến trúc sư theo Phong Thủy mô tả cái cầu thang tốt / ánh sáng tốt là không gian giữa thiên đàng và trần thế.



Thống kê / Chủ đề

Trong một thời gian dài tôi làm việc với niềm tin rằng “khoảng cách chính xác giữa các đối tượng” là quan trọng, bất kể khoảng cách ấy mang tính vật lý, văn hóa hoặc xúc cảm. Hai vật thể qua gần nhau trở thành một vật thể. Hai vật thể quá xa nhau không còn liên quan tới nhau nữa.



Thống kê / Tác phẩm

Tôi nghĩ đây là một chỗ tốt để làm kín nó với một số “tồn tại không được biết đến”.

Đó là những cái chết mất xác phỏng đoán ở nhiều nơi, của nhiều bạo chúa, không chỉ là Hitler, Amin, Poll Pot, Milosevic v.v… danh sách dài vô tận. Thống kê không còn mang ý nghĩa gì nữa.

 
© talawas 2026