Shirin Neshat, gốc Iran, sang Mỹ du học năm 17 tuổi. 16 năm sau, chị trở về để thấy một quê hương đã hoàn toàn biến dạng bởi cuộc Cách mạng Hồi giáo.
Rời Iran năm 1974, Shirin Neshat học mỹ thuật tại Đại học Berkeley, California, rồi định cư tại New York. Chị cùng chồng quản lý xưởng tranh phi thương mại “The Storefront for Art and Architecture”, sinh con, rồi chia tay chồng, tóm lại, sống cuộc sống của một phụ nữ New York độc lập. Năm 1990, 11 năm sau khi thể chế Shah thân Tây phương sụp đổ, chị thăm lại Iran. Chế độ Hồi giáo nghiêm khắc do Khomeini thiết lập sau cách mạng đã thay đổi triệt để phong cảnh xã hội và chính trị của Iran. “Tôi choáng váng. Tôi kinh ngạc chứng kiến một xã hội mà trong đó mọi người đều vận hành dưới một ý thức hệ chung, và sợ hãi bởi nó không còn điểm gì chung với những hồi tưởng thơ ấu của tôi”.

Unveiling, 1996
Trước khi quay lại Iran, Neshat đã ngừng sáng tác gần một thập kỷ. Nhưng năm 1993, ba năm sau chuyến viếng thăm đầu tiên, gần như với con mắt của một nhà dân tộc học, chị bắt đầu một loạt ảnh đen trắng mang tên “Unveiling”, và một năm sau, chuỗi ảnh “Woman of Allah”.

Women of Allah, 1996
Trong những ảnh đen trắng cận cảnh này Nashat tập trung vào khả năng biểu cảm rất hạn chế của cơ thể phụ nữ Hồi giáo: chỉ có tay, chân và mặt là không bị áo chador che kín. Trong một thế giới của che đậy và giấu giếm thì những thứ được phép lộ ra càng có nghĩa vụ và khả năng truyền tải nhiều hơn. Trong ảnh của chị, chữ viết phủ kín những bộ phận hở ra của những người đàn bà, xoáy ốc trên cánh tay, leo lên những ngón tay, thậm chí đập nhịp trong lòng trắng mắt. Chữ được trích từ những bài viết Hồi giáo cực đoan, hoặc của những người đấu tranh cho bình đẳng phụ nữ. Những người phụ nữ Iran, theo đúng nghĩa đen, đã bị “viết” đè lên, được định nghĩa lại bởi một ý thức hệ mới. Nhưng mặt khác, mỗi một li để trần của thân thể họ cũng thể hiện sự phản kháng.
Trong “Women of Allah”, những người phụ nữ cầm súng. Súng ôm trước mặt, súng ló ra ngoài tóc. Trong cuộc cách mạng 1978-79, nhiều phụ nữ đã là những người lính tự hào bảo vệ những giá trị Hồi giáo và chối bỏ quá trình phương Tây hoá xã hội Iran của vua Shah. Chiếc mạng che mặt trở thành một biểu tượng của cách mạng và khẳng định bản chất Hồi giáo. Shrin Neshat đi tìm khái niệm anh hùng, một khái niệm trung tâm của chính quyền Iran, đề cao lòng tin, sự hy sinh tột cùng và sự chối bỏ vật chất. “Tôi quan tâm tới câu hỏi: những quan niệm của phụ nữ Iran về tôn giáo, về chính trị và bạo lực đã và vẫn liên quan chặt chẽ tới nhau như thế nào”. Neshat thách thức tư duy của chúng ta rằng phụ nữ đương đại Iran chỉ đơn thuần là những nạn nhân của chính quyền. Hiện thực phức tạp hơn rất nhiều và không thể nắm bắt được qua chỉ một cái nhìn.
Sự bí ẩn và huyền bí của những tác phẩm của Neshat chút nữa đã đẩy chị vào vai trò một nghệ sĩ phương Đông trong một thế giới phương Tây vẫn nuôi dưỡng hoài vọng tới những văn hoá “nguyên vẹn” và “tinh khiết”, tới chất thơ của sự xa lạ. Nhưng thực ra, ảnh của chị không chỉ đơn giản gợi tính tò mò, mà chúng phức tạp hơn, liên kết dục tính và bạo lực, vừa quyến rũ vừa thể hiện sự phản kháng.
Để thoát khỏi sự chật hẹp của vai trò này, chị tiếp tục đi tìm những phương tiện để truyền tải ý đồ của mình một cách động hơn và có nhiều không gian hơn, cho phép khán giả nhiều khả năng diễn giải hơn. Dần dần, tại New York, chị tập hợp được xung quanh mình một nhóm những nghệ sĩ Iran thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, đủ mạnh để làm những dự án công phu hơn. Những tác phẩm tiếp theo mang dấu ấn ngày càng mạnh của sự tìm kiếm bản sắc cá nhân với sự cọ sát giữa gốc rễ Iran và kinh nghiệm sống tại phương Tây của chị. Neshat cho ra đời bộ ba “Turbulent”, “Rapture” và “Fervor”, ba video này tức khắc đưa chị lên vị trí những nghệ sĩ đương đại được chú ý nhất hiện nay.
“Turbulent” lấy xuất phát điểm từ một đạo luật Hồi giáo cấm phụ nữ không được trình diễn trước công chúng. Trên một màn hình, một ca sĩ nam đứng trên sân khấu, sau lưng là khán giả toàn nam giới. Anh hát một bài hát Iran cổ điển tuyệt vời, công chúng rộ lên say đắm hoan hỉ. Bài hát đẹp tới mức kinh ngạc, nhưng nằm trọn vẹn trong truyền thống. Khi âm thanh cuối cùng đã lắng đi, trên màn hình đối diện, một phụ nữ, che kín bởi chador, bắt đầu lên tiếng, trên một sân khấu không có ánh đèn, trước một nhà hát không có người xem. Chị phát ra những âm thanh, những tiếng kêu của đau đớn, của đam mê, của hưng phấn tột cùng. Từ màn hình đối diện, người ca sĩ nam quan sát với một vẻ kinh ngạc tột độ, một cái nhìn thể hiện sự ghen tuông. Hay của kính nể và sợ hãi? Anh đại diện cho lý tưởng và chuẩn mực của xã hội, thể hiện qua bài hát tình yêu của thế kỷ 13. Ngược với anh, người phụ nữ nổi loạn. Thực ra chị không được phép đứng trên sân khấu, và bài hát của chị phá vỡ tất cả những quy ước của âm nhạc Hồi giáo. Nhạc của chị tự do trong hình thức, ngẫu hứng, không gắn với một ngôn ngữ nào, đầy bất ngờ, và gần như hoang dại. Trong khi người ca sĩ nam nằm trong khuôn khổ của quy ước, thì chị tự do.
Trong “Rapture”, người xem, còn hơn cả với “Turbulent”, luôn luôn phải quyết định giữa hai màn ảnh đen trắng khổng lồ đối diện nhau. Bên này, 125 người đàn ông áo trắng quần đen di chuyển trên những tầng khác nhau của một pháo đài lớn bên bờ biển. Bên kia, phía chân trời của một sa mạc gió và cằn cỗi, những người đàn bà xuất hiện. Những người đàn ông gấp rút chạy trong những hành lang dài của pháo đài, vượt tầng, làm những nghi lễ khác nhau. Đôi lúc họ dừng lại và nhìn thẳng vào camera. Trong lúc đó, những người đàn bà đã tiến sát lại gần, họ ngồi sát nhau, quan sát màn hình bên kia hồi lâu, và đột nhiên cùng cất tiếng rú, nghe vừa như sợ vừa như vui, vừa như tức giận. Những người đàn ông bị đóng băng trong giây lát. Hai nhóm người bất động quan sát nhau. Những người đàn bà sắp xếp lại đội hình, họ đã đến sát bờ biển. Một nhóm người lên một chiếc thuyền gỗ nhỏ ra khơi và dần dần lẫn vào mặt biển. Họ có thể tới đích hay gặp cái chết, nhưng họ đã xuất phát. Những người đàn ông ở lại trong pháo đài của mình. Neshat để ngỏ kết cục, nhưng thông điệp của chị đã rõ: niềm hy vọng nằm trong tay những người đàn bà, những người thể hiện sức mạnh của mình rõ ràng nhất trong những khoảnh khắc của khủng hoảng.


Rapture, 1999
Sự giằng xé giữa hai văn hóa Đông và Tây là đề tài của tác phẩm mới nhất, mang tên “Soliloquy”. Đây cũng là tác phẩm mang tính riêng tư nhất của chị. Hai người phụ nữ, hai mặt của một nội tâm, sống trong hai thế giới khác nhau. Khác với những sáng tác trước đây, mạch kể của “Soliloquy” đơn giản, những hình ảnh dập khuôn. Phương Tây là một thế giới siêu hiện đại, phương Đông hiện lên như trong truyện cổ tích. Sự trừu tượng và những nhịp điệu của những tác phẩm trước vắng bóng ở đây. “Soliloquy” đưa ra câu trả lời nhiều hơn là đặt ra câu hỏi. Phải chăng đây là bước chuyển tiếp từ mỹ thuật “ngoại vi” tới mỹ thuật “chính thống”, từ phim “độc lập” tới Hollywood? Những sáng tác tiếp theo của Sherin Neshat sẽ trả lời.
Ảnh và video installation của Shirin Neshat đã tham dự các triển lãm quốc tế lớn, trong đó có Bienale of Sidney, 1996; Walker Art Center, Minneapolis, Minnesota, 1998; Museum of Contemporary Art, Chicago, 1999; Whitney Museum of American Art at Philip Morris, New York; Tate Gallery of Modern Art, London, 1998; The Art Institute of Chicago, 1999; Bienale de Lyon, 2000; Bienale de Valencia, 2001. Video “Turbulent” đoạt giải International Prize tại Venice Biennale 1999. Neshat sinh năm 1957 tại Qazvin, Iran, sống tại New York.
Tài liệu tham khảo:
“Shirin Neshat: Eastern Values,” Flash Art, November-December 1997
“Cream: Contemporary Art in Culture”, edited by Phaidon Press, 1998
“Shirin Neshat: Islamic Counterpoints”, Art in America, October 2001
© Talawas 2002