trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
11.8.2003
Phạm Việt Vinh
Giã từ thần tượng
 

Nói gì thì nói, vào những năm cuối của thiên niên kỷ qua, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã là một hiện tượng, một thần tượng của không ít người mê văn và thích nghĩ về thời cuộc. Ðể rồi gần đây, khối kẻ bị bất ngờ vì hình như, cả Nguyễn Huy Thiệp kia cũng trở nên bạc màu hoặc là do, hoặc là để theo dòng “thời đại” Việt nam.



Còn nhớ, cách đây 7-8 năm, trên một tờ báo Việt ngữ tại nước ngoài, có một tùy bút hư cấu về Nguyễn Huy Thiệp. Từ lòng yêu, tác giả bài báo đã thả cho suy tưởng của mình lần đến lối ngõ, gõ cửa vào nhà ngồi đàm đạo với nhà văn. Nguyễn Huy Thiệp ngồi đó như một tiên ông, như một đạo sỹ thấu hiểu thế gian và đang dồn nén, đang nghiền ngấu trong mình nỗi đau nhân kiếp. Chuyến viếng thăm tưởng tượng tràn ngập không khí hành hương về một chốn cao siêu, về một nơi thần tượng.

Thực ra, tôi cũng khá băn khoăn khi gọi ông là “thần tượng”. Rồi thực may- cuối năm ngoái, trên diễn đàn talawas, nhà phê bình văn học Thụy Khuê tại Paris cho rằng: Nguyễn Huy Thiệp là thần tượng của nhiều nhà văn trẻ hiện nay! Một nhận định không hề do dự. Như một lẽ tự nhiên. Có điều, ngay cả khi khen cái “sâu xa của tư tưởng”, cái thâm thúy “đào sâu được khoảng trống, có tính đa nghĩa ở những gì chưa nói” trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp, thì Thụy Khê đã chỉ khẳng định Nguyễn Huy Thiệp là cây cao bóng cả, là tấm gương cho giới viết văn. Chứ chưa phải cho những người đọc văn. Suy tư của Lê Minh Hà (trên Tạp chí Văn học tháng 5.2000, đuợc đăng lại trong talawas tháng 9.2002) hơi có chiều hướng khác. Mặc dù đã nhắc lại câu nói của một nhà văn hải ngoại về Nguyễn Huy Thiệp:” Văn chương đến thế là cùng”, và khẳng định “ông đã tạo hẳn một dòng chảy mới cho văn học Việt nam, là bóng cả của nhiều người viết văn hiện nay”, thì toàn bộ bài viết vẫn là một sự cảm thụ tư tưởng của tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp, một sự cảm thụ con người Nguyễn Huy Thiệp. Nói chung, nó mang tải chủ yếu lòng sùng kính của một độc giả thạo văn – đối với một con người thần tượng.

Không ai tỉnh táo mà có thể chối cãi rằng Nguyễn Huy Thiệp không phải là một hiện tượng của Việt nam đương đại, rằng tác phẩm của ông không phải là những viên kim cương của văn học Việt nam từ trước tới nay. Ngay sau khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trên văn đàn, không chỉ trong văn giới chuyên môn, mà cho cả những người chỉ biết thích đọc văn chúng tôi, cùng với sự bàng hoàng, kính phục, cùng với cái “yêu”, cái “sướng” khi đọc Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi còn say sưa theo dõi những bình luận, tranh cãi đối với văn ông. Ðiều dễ thấy là những phản bác, sỉ mắng, tuyệt đại đa số đều hết sức thô và khá ngớ ngẩn – như bản thân nhà văn từng nhận xét: “Sau khi đã đọc tất cả những tranh luận ấy thì tôi cảm thấy chẳng ai biết gì về lịch sử cả”. Trong khi đó, những cảm nhận “văn chương Nguyễn Huy Thiệp ba lần kỳ lạ”, những đề nghị trao cho ông “cây bút vàng” lại hết sức thuyết phục, hết sức thành tâm. Hình như lòng mến mộ hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp của giới chuyên môn và của chúng tôi hồi đó còn mang cả sắc thái của một sự giác ngộ, của một nỗi thỏa thuê sau bao nhiêu năm nhập nhòa, đói khát.

Ðầu năm 91, đến nhà một bạn thân, thấy trước bàn làm việc một Nguyễn Huy Thiệp được ký họa bằng bút chì, lồng trong khung kính treo trang trọng – như tượng Chopin yên vị trên vô số chiếc dương cầm. Khi ngồi vào bàn viết, đối diện với bạn tôi là một chân dung với ánh mắt trầm sâu, và những sắc cạnh của một khuôn mặt đầy khắc khổ. Chủ nhà mặt mũi căng phồng: “Một tay họa sỹ trong nước gửi tặng tao. Mày chớ có hy vọng xin!”. Rồi, mỗi khi có chút tin gì hay bài gì của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi cũng cấp tốc gửi cho nhau. Ðể mà thưởng thức, để mà yêu, để mà kính phục và tự hào – còn hơn cả đối với một thần tượng. Lòng yêu Nguyễn Huy Thiệp không phải chỉ được nuôi bằng sự rúng động đến từng tế bào thần kinh khi được hỏi: “Hoa ban ơi, một nghìn năm trước…”. Trên cái đó là sự ngưỡng mộ cái sâu xa trong cách nhìn nhân và xét thế của ông. Khi mổ xẻ con người, “lưỡi dao mổ sắc lạnh Nguyễn Huy Thiệp” vẫn muốn làm lộ ra cái nhân, cái ái. Khi bay lượn rồi xục xạo vào mọi tầng của lịch sử quê hương, văn chương của ông – ngoài tính truy cứu, thậm chí tiên tri, chủ yếu là bắt từng con người phải đối đầu với thực tại, nhiều khi hết sức trực tiếp. Ở đây, nội dung thời thế mang tính triết khá cao – một điều cực hiếm trong văn học Việt nam. Rồi nữa, mặc cho cái bến bờ còn lãng đãng khói sương, Nguyễn Huy Thiệp còn rủ rê người ta hy vọng, còn lôi kéo người ta “đi về biển, ở đó có Con gái Thủy thần“. Và sau cùng, đọc ai đó tả ông ngày nào: “quần áo bạc màu, đầu đội chiếc mũ lá, lầm lũi đạp xe giữa nắng hè Hà nội” để về đâu mà dọn ra cho thiên hạ những bữa cỗ nhiều khi phù thủy mà vẫn sang vẫn bổ, chúng tôi đã thật tin ông – một bậc đàn anh. Với thời gian, chúng tôi hy vọng, đợi chờ.

Ðể rồi không ít kẻ ngỡ ngàng khi biết ông mở quán ăn. Ít ai đến đó, sau khi ra về mà còn biết mình đã thưởng thức món gì. Hầu hết chỉ còn nhớ mình đã nhìn thấy ông, đã nói chuyện với ông. Sao lại “quán ăn”? Trả lời một phóng viên, ông cho biết: “Tôi đã thành công trong văn chương, nay muốn thử sức và muốn cũng thành công trong lĩnh vực nhà hàng!”. Từ những ngày phải lăn lộn kiếm sống bằng những công việc giản đơn, trong cao trào bung ra làm giàu với cơ chế “kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa”, sẽ chẳng ai được phép trách ông phát chí kinh doanh. Chỉ tội nghiệp, hụt hẫng cho những kẻ – trong đó có chúng tôi, vẫn mê những “bữa cỗ” ngày nào, vẫn chờ, vẫn đợi. Và cuối cùng, hình như Nguyễn Huy Thiệp cũng đổi ý. Trả lời phóng viên báo “An ninh thế giới cuối tháng” tại Hà nội vào tháng 4.2003, nhà văn chiêm nghiệm:”Ông phải sống đến một mức nào đó để hiểu trời sinh ra ông để làm gì. Trời sinh ra chỉ để làm một việc thôi”. Phải chăng, ông đã nhận ra rằng: Trời sinh ra Nguyễn Huy Thiệp là để tiếp tục viết văn? Nhưng những mong mỏi, ngóng trông của những kẻ chúng tôi liệu có còn hy vọng?

Ðọc tuyên ngôn của ông – vẫn ở số báo trên: “Nói thật với ông, với cuốn tiểu thuyết mới của tôi Tuổi 20 yêu dấu, tôi đảm bảo nó sẽ là một cuộc tranh luận văn học lớn. Nó sẽ là một cú sốc đối với tiểu thuyết Việt nam…Ðây không phải là một tác phẩm khá nhất. Tại vì rất nhiều lý do mà tôi chỉ đạt được 6/10 yêu cầu mà tôi đặt ra. Nhưng mà chỉ riêng thế thôi, tôi đảm bảo với ông, nó vẫn là một sự kiện của tiểu thuyết Việt nam!”, chúng tôi thấy hiện ra trước mắt một Nguyễn Huy Thiệp hoàn toàn mới. Hay là ông vẫn chưa hết chí kinh doanh? Nghe ông nói: “Tác phẩm của tôi mang ý thức công dân rất cao…Tôi cũng có tham vọng gửi nhiều thông điệp khác nhau tới độc giả, nhất là độc giả trẻ:…cuộc sống là tươi đẹp, tuổi trẻ là tươi đẹp, đừng nên vì bất kỳ lý do gì mà hủy hoại hay làm tổn thương nó…” cũng là một sự lạ lùng: Nguyễn Huy Thiệp- một công dân mẫn cán, một nhà tuyên huấn thuận lưỡi đại ngôn – điều hiếm có ngay cả ở những nơi vua chúa trong những tác phẩm bất hủ của ông? Hay là ngày xưa thì thế, còn hôm nay kẻ si mê Con gái Thủy thần đã chẳng ngại xếp văn chương vào hai đầu đòn gánh “ý thức công dân” bán rong trên lối “đi về biển“? Khi “Gặp Nguyễn Huy Thiệp trong thế giới riêng” (talawas 15.9.2002 ), nhà văn Trần Thị Trường được Trang – vợ Nguyễn Huy Thiệp, nhắc lại một ý của chồng : “Anh ấy bảo: Khác người thì dễ chết lắm”. Vậy thì, cái cười mỉm ngày xưa khi đọc câu :”…giống kiến vàng là chúa ghét người ta cựa quậy” (Những bài học nông thôn) nay liệu đã hớ hênh? Ở đây, e rằng khi “cười thầm: Thế nhưng ông ấy vẫn sống khác đấy thôi”, Trần Thị Trường đã không hoàn toàn có lý!

Ðành rằng, trả lời phỏng vấn khác với viết văn, nhưng có ai dám bảo lời, chữ trên báo của Nguyễn Huy Thiệp không phải là sản phẩm của ông?

Ðành rằng, nói và sống không phải là đồng nhất, nhưng “văn” bao giờ “cũng là người”. Những ngọn gió Huơ Tát, những Phẩm tiết, những Vàng những Lửa, những Không có vua đã đúc lên một thần tượng Nguyễn Huy Thiệp, vậy thì những thổ lộ gần đây của ông với Trần Thị Trường vào tháng 7.2002, với báo An ninh thế giới cuối tháng 4.2003, và kể cả tại Paris hồi tháng 4.2002 – khi ông lý giải “hiện tượng Nguyên Ngọc” bằng “tuổi già”, liệu có phải là những mảng graffiti không kém phần sắc sảo mà ông đã tự quệt lên hình ảnh mình trong óc những người đã yêu ông? Khi bảo rằng “già rồi thì có làm gì người ta cũng tha cho”, liệu rằng ông có biết đến Trần Ðộ – một người chẳng hề xa Nguyên Ngọc?



Ðành rằng, những ngỡ ngàng này chẳng mang tính chuyên môn, nhưng “văn chương là tiếng gọi đàn” – như chính Nguyễn Huy Thiệp đã nhắc lại lời một ai đó. Hình như, từ ông, tiếng gọi huyền ảo trong chốn khói sương ngày nào đã không còn. Hôm nay, với thực tế đầy vẻ phấn son, liệu chúng tôi có còn hy vọng vào những thông điệp dán nhãn “ý thức công dân” thật lớn?

Ðâu còn cặp mắt soi rọi và những nét hằn trên bức phác họa trước bàn của thằng bạn ngày nào. Trên mặt báo hôm nay là một Nguyễn Huy Thiệp mặt tươi, nheo mắt cười khi tự hỏi: “Hay tôi là một người có thể nói là hèn?”. Chúng tôi chẳng tin rằng ông vui do đã tìm ra Con gái Thủy thần; vì chẳng lẽ, “món nộm xuồng xã” ông đã tiên đoán cho thế giới ngày nào, mà nay được pha chế có đơn giản vậy ư?

Thật nhiều lần, ông từng nói :”Cứ sống đã!”. Ðúng vậy, nhưng môi trường sống ra sao, và sống như thế nào, cũng là những điều không kém phần quan trọng. Từ mấy dòng này, chúng tội giã biệt ông, để nghĩ rằng: liệu có ngày gặp lại, nếu cuộc đời chẳng giống hiện nay?

21.7.2003

© 2003 talawas

 
© talawas 2026