trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
17.6.2003
Mộc Giai
Hay với trời đất
 

Ở “Vương quốc của thi ca” làm thơ chỉ là chuyện bình thường! Giữa một triều đại mà mọi quần thần ai cũng thể là thi sĩ (Trịnh Công Sơn)! Tham luận về thi ca trở nên là một vấn đề. Một vấn đề nếu ta nghĩ lại chuyện xưa. Nghĩ lại mấy ngàn trang sách ca ngợi tập thơ của nhà vua, rồi tập thơ này cũng đã rơi vào quên lãng. Có nhà thơ mấy chục năm được tuyên dương là thi sĩ của vương quốc và của thời đại, chết đi không có một ai thật thành tâm thương tiếc. Không kể những thần đồng (đã được ồn ào tuyên dương) của thi ca mà mỗi ngày chúng ta càng nhận ra cái nông cạn.

Tôi đặt vấn đề; nhưng dù tôi có là người Việt Nam, tôi không có một chút mặc cảm. Thật vậy, nếu ta nghĩ tới bao nhiêu thi sĩ hay văn sĩ (như gần đây thôi, văn sĩ của một cường quốc) dù đã được giải văn học cao quý nhất: giải Nobel, mà cũng lại bị đánh giá đúng mực và thật không để lại gì cho văn học.Vấn đề là thảo luận về văn thơ, đánh giá những trào lưu văn học, tìm hiểu chân giá trị, nhân cách…hay văn cách…của văn nghệ sĩ bao giờ cũng là một cuộc mạo hiểm; đối văn học Việt Nam, vàng thau lẫn lộn, tác phẩm không có hệ thống phân phối, thiếu thông tin, thiếu những kẻ mở đường phê bình giới thiệu văn học, bàn cãi về văn thơ thật là một cuộc dấn thân liều lĩnh (có khi ngay cả trong ý nghĩa thực tế chính trị của đời thường).

Riêng về thi ca, lại càng gian truân nữa; vì chính thi ca chỉ là “một khái niệm vô thường và sinh động”, như thế nào là Đẹp, như thế nào là Sự Thật…Những bài thơ chân chính, theo triết gia người Đức: M.Heidegger, cốt yếu vẫn chỉ là nói lên tâm thức của tác giả, nghĩa là nói về con người, con người “hiện là” với “bản thể tồn lưu” thực tại; với nhận thức đó, cũng theo M.Heidegger, nó không khác gì suy tư triết lý khi triết lý bàn về bản thể của con người, con người vĩnh cửu trong vũ trụ cảm nhận của tâm thức (le monde comme représentation). Con người của ngàn xưa, tự thượng cổ Hy Lạp, không thăng tiến mà còn như đang mất dần khả năng suy tư nhân tính trước áp lực của cái biết khoa học, những tiện nghi vật chất của kỹ thuật.

Nêu lên những vấn đề như vậy không phải là để đưa chúng ta trở về nội tâm, suy tư trong tháp ngà, đàm thoại với chính mình…Cốt yếu là khi bàn luận về thi ca, ngay trong những khi hăng say trà dư tửu hậu luận tới những trào lưu văn học Việt Nam, nói đến những nhà thơ (dù trong cái lạm phát của chữ này trong giới văn nghệ Việt Nam), chúng ta nên tránh xu hướng thường tình và đặt những câu hỏi hay những luận đề căn bản. Anh là thi sĩ ư! Anh đang trưởng thành là cái gì anh là: thi sĩ. Một nhận định giản dị và căn bản, hàm chứa tư tưởng của thuyết Hiện Sinh (Existentialisme), nhưng đối với người Việt Nam chúng ta – một dân tộc sống trong thi ca – đó là một điều dễ hiểu, mang đầy ý nghĩa của lẽ sống: Sống là sống thơ mộng, thi nhiên (Hölderlin – Bùi Giáng). Anh không cần phải đăng một hai bài thơ trên báo để được tôn vinh là nhà thơ, anh chỉ là thi sĩ khi anh cảm nhận thế giới xung quanh anh: một cành liễu, một bóng chim bay, một nụ cười hay một mối tình đang chết, tất cả không ngừng thay biến trong cái siêu thoát thơ mộng của tâm linh. Tài nghệ của anh ư! Là nằm trong toàn bộ sáng tác của anh . Thiên tài của Nguyễn Du, là “Truyện Kiều”, là “Thăng Long thành giả cầm ca” và tập thơ Hán Việt viết trong cuộc hành sứ phương Bắc…Thiên tài của Bùi Giáng, là ngàn trang sách, là ngàn ngàn những câu thơ in ra hay rải rắc trong trời đất.

Thơ là nghệ thuật; mọi sáng tác nghệ thuật sáng giá chân chính nào mà cũng chẳng hàm chứa chất thơ (Sống là sống thơ mộng , thi nhiên!). Đã là nghệ thuật, thì làm sao có thước đo lường (khoa học) để định thế nào là hay là dở. Nhưng thật đâu đó trong tâm thức, trong sự học hỏi hiểu biết được trau giồi, qua kinh nghiệm trường đời, chúng ta ai cũng có một thước đo, thước đo của sự chân thành. Phải! Chỉ một nét vẽ thôi của Bùi Xuân Phái, dưới mắt của kẻ đã suy tư và am hiểu nghệ thuật, hàm chứa nhiều ý nghĩa hơn trăm bức tranh trưng bầy ở đường Đồng Khởi (Sài-gòn), mời mọc khách du ngoạn. Một bài thơ, một câu thơ cũng vậy, những văn học giả cũng biết định rõ đó là những câu vè hay một bài thủ xảo. Ngược lại, cũng có một hai câu thơ thôi, hầu như có thể mang chữ ký của bất cứ ai, không thêu thùa văn cách, không điểm trang chơi chữ, nằm trong bối cảnh của một thi sĩ chân chính, bỗng có chiều sâu trong cái cảm nhận tự nhiên của độc giả, một cảm nhận không dễ gì san sẻ. Những câu thơ giản dị bình thường nhưng đã viết ra với sức mạnh nội tâm của tác giả:

Sông ơi! em bỏ sa mù

Đi thiêm thiếp cõi quân thù gọi nhau

Bùi Giáng

Nhưng thế nào là từ trường nội tâm, thế nào là sức mạnh nghệ thuật bắt người đọc phải suy tư mà không rơi vào lý luận máy móc của cái biết, cái học? Đối ngay với hai câu thơ trên của Bùi Giáng, đó chính thật là vấn đề đưa đến những đấu thoại, bàn cãi đối lập…Cũng như khi Trần Dần phê bình, năm 1955, tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu “không có cá tính, thậm chí những câu thơ hay của Tố Hữu cũng không có chữ ký riêng , có thể ký ở dưới là Nguyễn Du, Tản Đà hay Ca Dao đều được” (trích theo Phạm Thị Hoài [1]). Không có cá tính! Trần Dần thật ra đã nêu lên một nhận định sôi nổi (chắc gây nhiều phẫn nộ) rằng tập Việt Bắc của Tố Hữu không có nội tâm, không có sự chân thành lãng mạn từ cuộc sống nghệ sĩ của chính mình. Tuy rằng câu tiếp sau của Trần Dần đã làm nhẹ đi nhiều cái cực đoan của ý kiến. Chính nó lại mang theo một mâu thuẫn; vì những câu thơ hay thì phải là tự nhiên nó hay, hay với trời đất chứ không phải vì một hai thủ xảo từ ngữ để có văn cách hay mang một chữ ký riêng biệt. Tôi muốn nghĩ Trần Dần thật trong thâm tâm đã có ý nói rằng những câu thơ hay của Tố Hữu cũng chỉ là bóng bẩy, làm người đọc xúc động thấy hay hay vì liên tưởng tới những câu của Nguyễn Du, Tản Đà hay Ca Dao…

Dù sao theo tôi nghĩ, bàn luận về thi ca cũng như về nghệ thuật, chúng ta đều cùng một ý kiến căn bản: người nghệ sĩ phải nhảy qua bóng mình (Trần Dần). Vì bóng mình, tức là hình ảnh của mình trong cái nhìn của kẻ khác. Vì bóng mình, tức là cái thằng mình đóng trò trên màn ảnh xã hội, với những nhịp nhảy hai ba của danh vọng, với những chuyện ta bà nhân gian được thua lợi lộc tiền tài…Người thi sĩ phải hơn ai hết vượt qua cái ảo ảnh bề ngoài để tìm lại chính mình trong “một tháp ngà”, trong cái cõi của suy tư đơn độc, chân thành tiếp nhận tiếng nói của trời đất để biết đáp lại bằng tiếng ca cuả mình “hiện là”, thực nghiệm khắc khoải đau thương, hoan lạc phù du trong cái phận làm người. Trong cái nghĩa đó, thi ca không khác gì triết học, triết học“hiện tượng luận về sinh động tâm thức” (Hegel). Nên tôi đã tự nghĩ, những tham luận gần đây trong giới văn học Việt Nam về trào lưu “Thơ Trẻ” , “Thơ Tân hình thức” , “Thơ Siêu hình” đều là những tham luận ở vòng ngoài của Thi Ca. Riêng ra Trẻ có nghĩa gì? Chúng ta đều biết thế nào là “chưa kịp trẻ đã già rồi”. Còn “Tân hình thức” , ” Siêu hình”? Để nói như Heidegger, trong nghệ thuật thi ca không có gì mới từ thời thượng cổ Hy Lạp cho đến bây giờ.

Tuy nhiên nếu cần phải bàn tới những trào lưu hay phong trào văn học – sự kiện thời đại – trong lịch sử Văn Nghệ Việt Nam chúng ta, tôi chỉ nghĩ đến được hai dấu ngoặc lịch sử: 1) thời đại của Nguyễn Du (với Phạm Thái, Hồ Xuân Hương…) mở cửa cho chữ Nôm và nguồn cảm hứng hiện thực lãng mạn, 2) thời đại của Thơ Mới (với phong trào tiểu thuyết, với sự sáng lập trường Mỹ Thuật Đông Dương…), thời đại của truyền bá chữ Quốc Ngữ và tiếp nhận văn hoá phương Tây. Thời đại của Thơ Mới là nửa đầu thế kỷ thứ 20. Còn ở nửa sau của thế kỷ thứ 20 này, lớn lao trong lịch sử của đất nước chúng ta, với bao nhiêu những biến thiên xã hội, những đổi đời…, nếu không bàn đến sự đóng góp nhân chứng nghệ thuật của cá nhân nghệ sĩ, mà chỉ bàn đến sự kiện chính trị văn nghệ để lại dư âm trong giới văn nghệ, gây dựng một xu hướng, một cái nhìn trong cả một hai thế hệ văn nghệ sĩ (đặc biệt trong đám Sĩ Phu bắc hà), thì chúng ta bắt buộc phải đồng tình với Phạm Thị Hoài: đó là tinh thần Nhân Văn Giai Phẩm. Nhân Văn Giai Phẩm chỉ là một manh nha hoạt động văn học, mà tức khắc đã là một thảm án văn học chính trị. Nhưng nó đã chấn động xã hội, để lại một dư âm: tinh thần (hay phong cách) Nhân Văn Giai Phẩm (Phạm Thị Hoài). Đó là tinh thần của những quán cà-phê chui, của hai ba xị đế quốc lủi mà hai ba người bạn chia nhau trong bóng tối, nói với nhau bằng những câu nhát gừng, hàm chứa ý nghĩa trong một hai chữ độc đáo riêng tư hay ẩn dụ qua một ánh mắt…Đó là tinh thần của trí thức ôm giữ được kiến thức của thời niên thiếu (trước cách mạng tháng Tám), nay không có sách để học hay để đọc, chỉ còn biết trầm tư tự tại, sống trong một bối cảnh xã hội siêu thực, bối cảnh mà học giả Từ Chi bỗng thấy mình quần đùi hở hang, áo rách từng mảnh chạy tranh mua bó rau muống úa của mậu dịch nhà nước, ngộ thấy rằng từ lâu đã tự quên cả chính mình…Một thực trạng xã hội, văn học chính trị u mờ, huyền ảo nay nhìn lại như có sẵn một chiều sâu lãng mạn, một tác động kích thích tư duy. Thế giới kỳ bí, nhân loại ẩn tàng trong một không gian không màu sắc của sự im lặng, vũ trụ của những hoạ sĩ bực thầy Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm! Ngược lại theo tôi được biết, Nhân Văn Giai Phẩm không để lại trong văn học một tác phẩm thật sự nào, tuy tinh thần nó đã thấm nhuần thế hệ sau để chúng ta được có những sáng tác văn học đáng kể: “Thiên đương mù” của Dương Thu Hương, “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh…Trong văn học, chính yếu là Nhân Văn Giai Phẩm đã để lại những nạn nhân, mà tiêu biểu là Trần Dần và Đặng Đình Hưng. Phải đọc“Bến lạ” dài độ mười trang sách, “Ô Mai” dài độ hai mươi trang sách: hai bài độc thoại của Đặng Đình Hưng, có thể nói là những văn bản “tân hình thức” hay ” siêu hình”, mang mang huyền diệu nên thơ, thì chúng ta mới biết dù là nạn nhân, những văn nghệ sĩ đó vẫn để lại một dư âm để chúng ta xúc động và suy tư. Suy tư như khi chúng ta đứng trước bức chân dung tự hoạ của Van Gogh, vẽ mấy tháng trước khi chết, sau khi tự cắt một bên tai!

Tôi xin đóng góp bài này cho diễn đàn “Tham luận Văn Học” của talawas. Một diễn đàn vô tư, mở rộng cho mọi tầng lớp xã hội, cho mọi phương trời…Dẫu không tránh được sự ồn ào chợ đời, diễn đàn mang đến cho chúng ta được nhiều thông tin. Điều đáng nói, có lẽ là nó đang reo hạt giống cho mai sau. Biết đâu nhỉ từ đó sẽ nẩy nở một Tư Mã Thiên, một Tư Mã Thiên cho lịch sử văn nghệ Việt nam ở thế kỷ thứ 20, ” với bao nhiêu mầm ung độc với bao nhiêu nụ hồng đời “.

© 2003 talawas


[1] Phạm Thị Hoài, Thủ lĩnh trong bóng tối, talawas 19.01.2003

 
© talawas 2026