Nguyễn Hoàng Ðức
Tôi muốn soi chiếu tầm vóc của tác giả Ngô Tự Lập bằng thước đo phổ quát. Suốt dòng lịch sử nhận thức nhân loại, có một thước đo do tổ sư triết học Aristote nghĩ ra, đó là: xã hội được thiết lập bởi ba cấp độ giá trị con người:
- những người thực hành,
- những người biết cách làm giống, đó là những nghệ sĩ,
- cao nhất là những người của nhận thức và lý thuyết.
Làm nghề nhận thức là gian nan, cam go, khó khăn nhất. Qua đây, cũng nên thẳng thắn nhìn nhận, ngành nhận thức, hay lý thuyết nói chung còn rất non trẻ ở xứ ta. Thêm nữa, thể tạng của người xứ ta lâu nay vẫn nhiễm nặng căn tính “dễ làm khó bỏ”, “ngồi mát ăn bát vàng”, vì thế ít ai dám đi vào con đường sỏi đá của nhận thức. Hầu hết các cây bút từ thanh xuân đến phụ lão đều thích đi vào con đường thơ với chiếu rải dọc đường, rượu rót tràn đợi thi nhân, mỹ nương chầu rìa muốn tán thưởng “vui đâu chầu đấy”, và hoa lá sẵn sàng rợp bóng tươi mát xoa dịu những tâm hồn nhẹ tênh tênh. Nhìn vào đời sống văn học cận đại và hiện đại, thấy liền, từ thời Thơ Mới, qua thời chống Pháp, rồi chống Mỹ có cả ngàn thi nhân đã khai trương vòng nguyệt quế nổi tiếng, vậy mà nhìn đi nhìn lại vẫn chỉ thấy có một tâm điểm làm sức sống nhận thức cho các thi nhân, đó chẳng ai khác ngoài: Hoài Thanh.
Có rất nhiều người ung dung tự mãn rằng: học thức chỉ là thứ sao chép từ ông thầy xuống học trò, còn người ta viết văn làm thơ là người sáng tạo, đem lại những sản phẩm tưởng tượng mới cho đời. Họ đã nhầm. Duy nhất trong lịch sử chỉ đến thế kỷ 20, văn chương nghệ thuật cũng như các ngành khoa học khác mới đạt đến độ chín muồi của nhận thức, để có tên gọi là:”Thế kỷ phê bình”. Thử nhìn sang nền văn học Nga, trời ơi, biết bao cây bút sáng tác nổi tiếng như Puskin, Gogol, Dostoievski, Lev Tolstoi, Gorki, Simonov…nhưng có phải nhìn đi ngoái lại chỉ thấy có nhà phê bình Bakhtin, một nhận thức đóng vai trò “sách của những cuốn sách” không chỉ ở Nga mà trên toàn thế giới? Vậy đánh giá Bakhtin thế nào đây? Chúng ta có thể đưa ra những ý kiến khác nhau, nhưng chắc chắn không chối bỏ nổi thước đo này: Các tác phẩm dành cho tất cả các bạn đọc thuộc mọi tầng lớp, nhưng sách lý luận phê bình chỉ dành cho những người nghiên cứu ở tầng lớp trên.
Ở Việt Nam, tương tự, chúng ta cũng nên đặt câu hỏi, trong bốn mươi nhà thơ nổi tiếng và nổi tăm trong tập “Thi nhân Việt Nam” cùng cả nghìn người dính dấp với tiếng tăm chầu rìa xung quanh sân khấu đó, giá trị của Hoài Thanh đổi được mấy cây bút gieo vần? Hỏi để chúng ta liên tưởng thôi, còn theo thước đo do nhân loại để lại chưa một lần xê dịch, tôi xin được nhắc lại: Người nhận thức lớn hơn người biết làm.
Trong bối cảnh nhà thơ nhiều như lá mùa hạ đua nhau ùa vào vườn thi ca thưởng hoa vọng nguyệt, kiếm chút nổi tiếng vần vèo đầu môi chót lưỡi, thì có một con người đã sửa soạn khá đủ các hành trang, dám bước vào con đuờng sỏi đá đó là: nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập.
Trước đây, trong một bài viết, tác giả Ông Văn Tùng, một người khá thành thạo giới văn học Việt Nam qua nhiều thập niên, đã nói đại loại: Tôi thấy rất nhiều người ít học có thể làm thơ, nhiều người học vừa vừa có thể viết truyện, nhưng tuyệt nhiên không thể thấy ai học ít, chữ nghĩa ít, không uyên thâm Ðông Tây kim cổ có thể viết phê bình. Vậy thì hành trình số phận đã dành cho tác giả Ngô Tự Lập một chặng đường làm nên hành trang khá đồ sộ để khơi thông dòng mực phê bình. Ngô Tự Lập sinh năm 1962, anh tốt nghiệp đại học hàng hải tại Liên Xô năm 1986, rồi làm thuyền trưởng hải quân đến năm 1990, giỏi cả tiếng Anh và tiếng Pháp, đã từng qua Pháp làm Master về văn chương, biết cả tiếng Italia…Tôi đã từng xem kỹ tập truyện ngắn “Mộng du và những truyện khác” của anh. ở đó, phải thừa nhận, tôi thấy một nhận thức, một trí tưởng tượng, một bút pháp không thể nào không vị nể, có thể nói “khá phi phàm”. Ðặc biệt, mới đây tôi có được đọc cuốn tiểu luận “Những đường bay của mê lộ” của anh, dày 160 trang, bao gồm 9 bài tiểu luận, khá bao quát, triển khai trên những vấn đề lớn như: 1. “Bản sắc văn hoá – tính tương đối của sự đa dạng”; 2. “Thơ hay là cái chết của thời gian”; 3. “Cô đơn như là một định mệnh”; 4. “Ma với tư cách là nhân vật văn học”; 5. “Văn học Việt Nam hậu chiến – những cuộc trở về nhọc nhằn”…
Muốn trở thành tác giả lý luận cần có hai điều chính. Thứ nhất, như Kinh Thánh nói, “Lòng có đầy miệng mới nói ra”, nên không có thiên kinh vạn quyển trong đầu thì biết lấy gì để viết? Nhưng có rất nhiều sách trong đầu các hủ nho chỉ là những ngăn kéo cũ (học nhiều mà đứng trước vài vần thơ không dám phán một lời), vì vậy cần phải có điều thứ hai, như người Pháp nói, “Một cái đầu biết làm tốt hơn cái đầu đầy chữ”. Tác giả Ngô Tự Lập có cả hai báu vật này. Trong tập tiểu luận của mình, đặc biệt với bài “Bản sắc văn hoá – tính tương đối của sự đa dạng”, anh bàn rất thấu đáo về đời sống văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc trong liên đới với hoàn cảnh cùng giá trị hội nhập của toàn nhân loại. Ðộc đáo hơn, với bài “Văn học Việt Nam hậu chiến – những cuộc trở về nhọc nhằn”, anh hoàn toàn thể hiện những chiều sâu của văn học Việt Nam từ chiến tranh chuyển sang hoà bình với một bút lực vừa bao quát, vừa sâu sắc, vừa mang trách nhiệm cao.
Tập sách của anh, theo tôi là rất đáng nể, về mọi mặt đem lại cho người đọc những nhận thức và thông tin thiết yếu theo đề tài mà anh gợi ra. Chỉ còn lại, theo tôi, nó gợn lên hai điểm:
- Ở trang 45, anh viết: “Viết văn thực chất là giải một bài toán tối ưu. Chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng việc giải bài toán này vô cùng biến hoá, ngẫu hứng và cũng vô cùng may rủi”. Ðọc đoạn này người ta chưa thấy nổi lên sứ mệnh của nhà văn. Theo tôi, sứ mệnh của bất kỳ ngành nghề nào còn lớn hơn cả sự cách tân cũng như “giải bài toán”. Bởi lẽ ở đời có vô vàn sự “giải bài toán” thất bại trên con đường sứ mệnh, nhưng con người đó vẫn vĩ đại như thường.
- 2. Ở trang 73, anh coi “thơ vừa là hàng hoá vừa là dịch vụ”, vậy mà anh lại viết “rằng bây giờ chỉ có các nhà thơ đọc nhau. Thậm chí tình trạng còn trầm trọng hơn: ngay cả các nhà thơ cũng không đọc nhau nữa. Có lẽ, rồi sẽ đến lúc chỉ còn tác giả thơ đọc thơ của chính mình mà thôi”. Theo tôi, đây là cách nhìn thiếu nhất quán và mâu thuẫn. Nếu thơ là hàng hoá và dịch vụ, thì không thể không có nhiều người cần đến nó.
*
Người Việt nói: “Muốn tròn thì phải có khuôn, muốn vuông thì phải có thước”. Cuốn sách “Những đường bay của mê lộ” cùng con đường nhận thức mà Ngô Tự Lập theo đuổi, là một trong những cái thước rất hiếm hoi của dân tộc ta. Sau Hoài Thanh với “Thi Nhân Việt Nam”, sau Hoàng Ngọc Hiến với “Văn học phải đạo”, sau Lại Nguyên Ân với “Văn học cán bộ”, sau Ðỗ Minh Tuấn với “Văn học dây dẫn”, sau Nguyễn Hưng Quốc với “Thơ vân vân và vân vân”, sau Ðông La với “Biên độ của trí tưởng tượng”…thì giờ đây có một chiếc “thước” Ngô Tự Lập rất đáng trọng thị với “Văn học Việt Nam hậu chiến- những cuộc trở về nhọc nhằn”.
Văn học Việt đầy rẫy những sự nổi tiếng nhưng chưa hẳn đã có giá trị vì không được đo bằng “thước”. Sự nổi tiếng của các cháu gái thì chưa kịp bò qua tuổi dậy thì, lớn lên khi “ngực” lép thì danh cũng xẹp. Còn nhiều chú nhiều bác thì sợ về hưu vì biết rằng xuống khỏi ghế thì tài cũng hết. Vì vậy cần, và rất cần, nhiều hơn những cái thước. Và cái thước Ngô Tự Lập khai sinh trong một hoàn cảnh như vậy thật đáng chào mừng, hy vọng, và hoan nghênh.
Triết gia Kant, cũng như Sartre, có chung một nhận định rằng: Cuốn sách giá trị nhất là nó để lại trong con người ta nhiều vấn đề nhất để trăn trở dày vò và suy ngẫm. Cuốn sách đó đã giúp ta tái sinh chính tâm hồn mình. Theo đó những cuốn sách giá trị lớn hơn hẳn những cuốn “sách hay”, đòi vuốt ve, ngâm nga, “đàn ca” phục vụ bạn đọc. Nghệ thuật mang tư tưởng bao giờ cũng lớn hơn nghệ thuật thù tạc, vì nghệ thuật thù tạc chỉ là nô bộc đòi thết cuộc đời mấy chầu vui vẻ.
Và theo phong cách đó, tôi tin, tác giả Ngô Tự Lập cùng với cuốn sách “Những đường bay của mê lộ”, có một cặp mắt rất thức tỉnh, chẳng mê muội chút nào, mời chúng ta bước vào hành trình chân thật cho cuộc đời và văn học.
21/5/2003
© 2003 talawas