Bà Đoàn Cầm Thi trong bài viết “Phê bình văn học có phải là thương vay khóc mướn – Phạm Xuân Nguyên viết về Trần Dần và Tố Hữu” (talawas, 06/03/2003) có đặt cho ông Phạm Xuân Nguyên câu hỏi:
“Xin hỏi PXN: PXN hiểu thế nào về nhân cách và văn cách của Trần Dần và Tố Hữu? Bất cứ ai đã đọc thơ của hai ông đều thấy rằng đó là hai văn cách đối lập nhau. Bất cứ ai biết được những xung đột kịch liệt, một mất một còn, giữa hai con người này đều hiểu rằng đó là hai nhân cách đối lập nhau. Ai đã ‘yêu’ Trần Dần thì không thể ‘yêu’ được Tố Hữu (cả thơ lẫn người). Vậy cái niềm yêu mà PXN giành cho cả hai ông mới đáng ngờ làm sao!”
Nghe câu hỏi này – mong bà ĐCT thông cảm cho – tôi bất giác hình dung ra cái đường lối “một là ta, hai là địch”, “ai thắng ai”, tưởng đã phải phá sản theo dòng thời cuộc hoá ra vẫn khoẻ mạnh. Đường lối đó cũng đã được bà áp dụng trong một bài viết khác, bài “Có một nền văn học…khác” (talawas 20/12/2002). Cần khai sinh cho cái gọi là Văn Trẻ thì bà đã phải khai tử cái gọi là Văn Học Đổi Mới. Hai thứ này xuất phát từ những cơ sở của các biến động xã hội như thế nào cũng như sự tất yếu về lịch sử, văn hoá, thẩm mỹ và nhiều khía cạnh khác của chúng, bản chất của chúng phân biệt nhau đến mức độ nào hay chỉ ở cách mệnh danh, ở tuổi và… nhân cách của các tác giả, những điều ấy bài viết của bà không đề cập hoặc đề cập một cách không thoả đáng nhưng việc khai sinh và khai tử thì được triển khai rất lẹ trong tinh thần “ai thắng ai” đó.
1.Khai tử nền Văn Học Đổi Mới
Bà ĐCT viết như sau:
“Mười lăm năm Tướng về hưu, văn học Đổi Mới đang ở đâu? Sau khi khai thác thành công một số đề tài kỵ huý như Cải cách ruộng đất, đạo đức băng hoại, đặt cái nhìn nghi vấn về chiến tranh, các nhà văn trụ cột thời 1987-1991 đã góp gì thêm cho văn học Việt Nam? Tôi sẽ không nói gì về tác giả Nỗi buồn chiến tranh bởi lẽ Bảo Ninh khiêm tốn. Bao năm nay không viết gì đáng kể, và anh ý thức được điều đó, nên chỉ im lặng. Chúng ta tôn trọng sự im lặng đó. Tôi cũng sẽ không nói gì về Dương Thu Hương, vì chị chưa bao giờ coi văn học là say mê lớn nhất. Tôi sẽ nói về Phạm Thị Hoài, nhưng trong phần dành cho văn trẻ. Còn Nguyễn Huy Thiệp? Tác giả Tướng về hưu, sau nhiều lần tuyên bố gác bút, vẫn có nhiều tham vọng.”
Tôi xin phép nhận xét rằng “khai thác thành công một số đề tài kỵ húy như Cải cách ruộng đất, đạo đức băng hoại” là một nhận định vô thưởng vô phạt. Thế nào là khai thác thành công? Bà có thể chỉ ra một tác phẩm nào của văn học VN thời Đổi Mới đã khai thác thành công chủ đề Cải cách ruộng đất không? Hay mới chỉ chạm nhè nhẹ vào đó, nhắc thoáng qua vài chi tiết bóng gió đã là thành công? Cải cánh ruộng đất trước sau vẫn là một đề tài kỵ húy mà các nhà văn cũng như công luận VN không được phép khai thác. Nếu so với việc xử lý đề tài Cách mạng văn hóa trong văn học Trung Quốc mà trước thời “mở cửa” cũng bị cấm kỵ thì đề tài Cải cách ruộng đất hiện ra trong văn học VN một cách vô cùng mờ nhạt. Cùng với nó là hàng loạt đề tài “tế nhị” khác chưa hề được khai thác chứ đừng nói là khai thác thành công. Cách diễn đạt của bà ĐCT theo tôi không nói lên điều gì cả. Đó là cách nói dễ dãi không nên có ở một người ưa nghiêm túc và nghiêm khắc với người khác như bà ĐCT. Những nhận định chung chung theo kiểu “khai thác thành công”, “bước đầu thể hiện được”, “đã có những thành tựu nhất định”, “đã phản ánh có kết quả” v.v. luôn luôn xuất hiện trong các bài phê bình khiến cả người viết lẫn người đọc đều chán ngán không còn coi các nhà phê bình là đáng để ý.
Các nhà văn trụ cột thời 1987-1991 này trong toàn bài sẽ không có cơ hội nào để trả lời câu hỏi đã góp gì thêm cho văn học Việt Nam mà bà ĐCT đặt ra. Bà gộp họ trong 4 đại diện: Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp. Dù yêu mến cả bốn tác giả này, tôi không thể đồng ý với sự giản lược đến mức như vậy của một nhà phê bình với giai đoạn văn học ấy. Thơ, Kịch, Lý luận văn học và Ký từng gây dư luận mạnh mẽ thời ấy biến khỏi nền văn học mà bà ĐCT có ý định khảo sát. Nhưng bản thân 2 trong số 4 đại diện mà bà kể tên cũng được bỏ ra ngoài danh sách đối tượng khảo sát một cách rất mau lẹ. Bảo Ninh thì vì khiêm tốn, bao năm nay không viết gì đáng kể, và anh ý thức được điều đó, nên chỉ im lặng mà không bị đem ra đánh giá, còn Dương Thu Hương thì chưa bao giờ coi văn học là say mê lớn nhất, mà lại biết công nhận giá trị văn học của đồng nghiệp như ở phần chú thích cho biết, nên bà ĐCT cũng “tha” cho, không vạch ra cái lý do đích đáng khiến họ cần nhường chỗ cho lớp trẻ. Tôi cho đó là những cách lập luận và thông tin không nên có trong phê bình văn học. Chuyện ông Bảo Ninh khiêm tốn hay bà Dương Thu Hương ít say mê văn chương và biết tôn trọng đồng nghiệp ai mà kiểm chứng được. Đó là những nhận xét “biết đâu mà lần”. Một nhà phê bình khác xuất phát trên những thông tin khác mà bảo ông Bảo Ninh kiêu ngạo hay bà Dương Thu Hương có tham vọng giật giải Nobel văn chương thì sao? Cuối cùng cãi nhau ai đúng ai sai chăng? Mà sai hay đúng ở đó thì cũng không quan hệ gì đến việc Bảo Ninh hay Dương Thu Hương có cống hiến gì ở một thời và cái thời ấy bấy giờ đã qua cũng như họ đã góp gì thêm cho văn học Việt Nam. Bà ĐCT trách cứ một cách rất hợp lý những nhận xét “biết đâu mà lần” của bà Thụy Khuê và của ông Phạm Xuân Nguyên nhưng xem ra cái lỗi này là lỗi chung của hầu hết các nhà phê bình văn học VN trong đó có bà mất rồi.
Ở trường hợp Nguyễn Huy Thiệp thì lý do khiến bà hướng sự quan tâm vào NHT là ông này “sau nhiều lần tuyên bố gác bút, vẫn có nhiều tham vọng“, thật là một lý do hài hước, xin lỗi bà là tôi đành phải nói như vậy. Nhà văn ai chẳng hơn một lần tuyên bố gác bút, còn tham vọng thì như đã nói ở trên, là chuyện vô cùng và không phải là tiêu chuẩn để nhà phê bình dựa vào được. Ông Kafka đòi đốt gần hết bản thảo của chính mình, người thì bảo là tham vọng phải cao lắm mới thế, người thì bảo phải khiêm tốn (vâng, lại khiêm tốn!) mới thế. Lại cãi nhau ai sai ai đúng hay sao?
Đọc đến những chỗ ấy tôi cũng cau mày khó chịu nhưng xét cho cùng đó vẫn có thể coi là những chuyện vặt không cần thiết phải vì đó mà hạ giá trị của cả bài. Vì vậy tôi chờ đợi bà chỉ ra những khủng hoảng sáng tạo của NHT khiến cả dòng Đổi Mới phải theo ông mà rút lui.
Bà đưa ra những điểm sau:
– một là NHT không trung thực trong các tuyên bố của mình ở nước ngoài,
– hai là NHT không biết viết kịch,
– ba là nhân vật trong các truyện ngắn mới đây của NHT không còn hoang dại bất cần đời như Trương Chi mà chỉ còn những anh chàng xưng tôi đang bị tuổi già ập đến và ngồi ngoài mơn trớn độc giả rồi lại liên tục nhắc đến những thành công về vật chất. Và bà kết luận: khó có thể so sánh Nguyễn Huy Thiệp hôm nay với các nhà văn trẻ đương thời cả về thẩm mỹ lẫn khát vọng.
Tôi thật khó tin rằng đây là phê bình văn học nghiêm túc và học thuật chứ không phải phê bình văn học “bình dân” mà bà ĐCT tỏ ý coi thường.
a) Điểm một: từ chuyện không trung thực trong các tuyên bố ở nuớc ngoài đến chuyện phẩm chất tác phẩm xa nhau lắm. Ông NHT có thể cứ ra đến đầu ngõ (không cần phải ra đến nước ngoài) là nói dối như cuội và là một con người rất khó thương về mọi phương diện nhưng nếu tác phẩm ông viết ra tràn đầy sự xác thực thì lịch sử sẽ tha hết những cái tội khó thương kia mà chỉ còn vinh danh tác phẩm của ông thôi. Biết đâu ông cũng chẳng sung sướng gì khi phải mở miệng tuyên bố vòng vo nực cười như vậy ở Paris và nhờ cái đó ông sẽ tạo ra một nhân vật sống cuộc đời lá mặt lá trái cực kỳ thành công và chúng ta sẽ cảm ơn ông hơn một nhà văn tư cách rất trung thực nhưng chẳng đẻ ra một tác phẩm để đời nào. Với tư cách là một nhân vật của công luận thì những phát biểu trước công luận của ông như vậy không có tính chất giáo dục tốt, nhưng đem mặt này ra để kết luận mặt kia thì có đúng đường lối thật nhưng là đường lối đen trắng: một là trung thực thì tốt, tốt hết, hai là không trung thực thì tồi, tồi hết. Xin các nhà phê bình văn học lưu ý thêm sự hoà trộn phức tạp giữa hai gam mầu này.
b) Điều hai: ông NHT có biết viết kịch, viết phim, viết… phê bình văn học hay không, thật là chuyện khác. Ông là nhà văn của truyện ngắn. Giả sử bà ĐCT có viết một truyện ngắn dở thì cũng không ai đem điều đó ra để bình về nghệ thuật viết phê bình của bà. Con nào ra con nấy của ông Đỗ Kh. cũng còn có nghĩa như thế đấy ạ. Còn những kết luận của bà ĐCT về việc kịch của ông NHT không được dựng, hay kịch của ông chỉ là kịch truyền thanh tôi thấy không có sở cứ. Kịch truyền thanh khác kịch trình diễn trên sân khấu nhưng không phải vì thế mà kém chất lượng hơn, cùng một vở kịch có thể xử lý hai cách, cho truyền thanh và cho sân khấu. Kịch viết ra có được dựng không cũng là việc phức tạp hơn nhiều. Nếu chỉ vì kém phẩm chất mà không được dựng như bà nhận định thì bao nhiêu vở kịch đang diễn ra trên các sân khấu ở Việt Nam hiện nay đều xứng đáng hơn kịch của ông NHT cả. Điều đó không đúng một phần trăm nào. Bà cũng rời địa hạt của mình để bàn về một lãnh vực mà có lẽ sự thông hiểu của bà không hoàn toàn đủ. Lỗi này hình như cũng không phải là lỗi của riêng ai trong giới phê bình văn học Việt Nam mất rồi.
c) Điểm ba: Nhân vật của ông NHT đang ở cái giai đoạn bị tuổi già ập đến, suy ra nhà văn NHT cũng đang… giối già? Nhân vật nhắc đến các thành công về vật chất, suy ra nhà văn NHTđang… lý tài hoá? Còn khi nhân vật trật quần đái xuống sông thì suy ra NHT… chơi ngông lắm phải không? Phê bình văn học theo đường lối ấu trĩ này lẽ ra cũng phải phá sản theo dòng thời cuộc từ lâu rồi.Thẩm mỹ của NHT thua kém nhóm Trẻ, vì ông không để cho nhân vật của mình nói tiếng Pháp, uống rượu, hút thuốc, nhảy đầm, mặc soóc và đánh ten-nít như nhân vật của Nguyễn Việt Hà mà bà ĐCT ca ngợi? Ông Trần Vũ chắc phải rất băn khoăn khi thấy chỉ vì nhân vật nữ của mình được mặc bên trong chiếc áo dài Cát tường, một “chiếc quần lót kiểu Tây mỏng manh” mà thẩm mỹ và khát vọng của mình cao hơn NHT. Gu là chuyện vô cùng. Bà ĐCT có thể thấy sống, áp phe và yêu đều hết mình là… mới mẻ, bà ĐCT có thể cho là Nguyễn Việt Hà hay hơn, đáng đọc hơn NHT, đó là chuyện của bà ĐCT. Như tôi thì thấy hình ảnh mà ông Trần Vũ đưa ra không gây ấn tượng nào. Quần lót thì chắc chắn là kiểu Tây rồi, trong y phục truyền thống của phụ nữ VN không có quần lót, cái lót bên trong ở bộ phận ấy của y phục truyền thống của ta thì không ai gọi là… quần. Chẳng khác nào nói: đi một chiếc xe hơi kiểu Tây. Tất nhiên là không có xe hơi kiểu Ta! Xe hơi hay quần lót mang thương hiệu Việt Nam thì có, nhưng kiểu của chúng tất nhiêu là kiểu Tây. Quần lót mỏng manh là một cách miêu tả nhàm, không có gì là sinh động hấp dẫn nữa, không làm người đọc hình dung được điều gì cụ thể nữa. Đó là chuyện gu của tôi. Nhưng khi bà ĐCT nhận định về thẩm mỹ và khát vọng của NHT so với TV v.v. trên cơ sở những điều kể trên thì tôi e việc đó đã ra ngoài phạm vi gu rồi.
Riêng Phạm Thị Hoài thì được bà “cứu” sang cho cùng cánh với cái gọi là Văn Trẻ bằng cách cho PTH cái nhiệm vụ “giới thiệu các tác giả thường còn ít tuổi” (nếu thống kê đầy đủ thì có lẽ tuổi trung bình của các tác giả trên talawas mà PTH tham gia phải ngoài…45. Xin lỗi talawas! tôi không chê các bạn già nua mà chỉ nêu một con số khách quan thôi.), hơn nữa chỉ có chừng ấy là đã tỏ rõ bản lĩnh và chỗ đứng của mình. Nếu bây giờ NHT cũng đi giới thiệu các tác giả thường còn ít tuổi (tôi vừa được đọc bài viết rất… dở của NHT về tác giả… còn ít tuổi là Phan Huyền Thư) thì ông cũng tỏ rõ bản lĩnh và chỗ đứng của mình hay sao? Và những ai trong thời đại trẻ trung này mà cứ đi giới thiệu những tác giả già như Võ Phiến, Lê Đạt hoặc đã chết lâu lắm rồi thì không có bản lĩnh và chỗ đứng hay sao? Còn những đánh giá khác của bà về PTH trong bài này thì chung chung tới mức lắp vào ai cũng được: những sáng tác luôn luôn mới, không chỉ là nhà văn hiện thực phê phán, không có ý định trung thành với mình… Tôi đảm bảo là 99% nhà văn Việt Nam cho rằng mình là như thế chứ riêng gì trường hợp PTH. PTH trong những năm gần đây viết rất ít, nhiều người cho là PTH đang bế tắc nhưng bà ĐCT không đả động gì đến việc đó, chỉ kết luận rất nhanh gọn về trường hợp PTH.
Tôi cũng tin rằng đối với đông đảo người yêu văn chương Việt Nam thì Văn Học Đổi Mới là một cái gì rộng và phức tạp hơn cái bi hài kịch là vài câu tuyên bố ở ngoại quốc, thất bại trong việc viết kịch, thay đổi và… già hoá đội ngũ nhân vật, và việc không để cho các nhân vật của mình biết ăn, mặc, nhảy nhót, một cách…sành điệu của Nguyễn Huy Thiệp nhiều. Khủng hoảng sáng tạo của NHT trong nhiều năm gần đây nằm ở những chỗ khác, không phải trong những điểm mà bà ĐCT bỏ công nêu lên. Bà đã không làm việc thật sự mà nhà phê bình cần làm mà lại bỏ nhiều công vào những chi tiết phụ.
Tuy có nói lúc trên là “không làm như Nguyễn Minh Châu ‘đọc lời ai điếu’ cho Văn Học Đổi Mới” nhưng cuối cùng thì bà ĐCT vẫn không ngần ngại nói rằng “ngày tận thế của Văn Học Đổi Mới” đã được “đánh dấu“. Good Bye Văn Học Đổi Mới! Ngày của ngươi đã hết mà độc giả không được biết điều gì thêm rằng ngươi đã góp gì thêm cho văn học Việt Nam.
2. Khai sinh Văn Trẻ
Văn Học Trẻ được bà ĐCT cho lên ngôi trên cơ sở của những tiêu chuẩn không thể gọi là học thuật, còn chúng có “nôm na“, “xuề xoà” như ở bà Thụy Khuê mà bà phê phán hay không thì tôi xin phép không kết luận. Tôi cho đó là những tiêu chuẩn kỳ quặc. Bà cho rằng “đối thoại với độc giả, tranh cãi với bạn văn, là một trong những khác biệt lớn nhất giữa thế hệ trẻ và những người đi trước họ.”. Tiêu chuẩn này được bà đưa ra trước tiên. Những năm cao trào của Văn Học Đổi Mới có lẽ bà không được trực tiếp chứng kiến. Nếu có một cái gọi là “đối thoại với độc giả” trong văn học Việt Nam thì có lẽ nó xảy ra rầm rộ nhất trong những năm huy hoàng của Văn Học Đổi Mới với Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Dương Thu Hương, Nhật Tuấn, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Duy, Hoàng Hưng, Dư Thị Hoàn, các nhà thơ Nhân Văn-Giai Phẩm vừa được phục hồi,… và trên hết là Nguyễn Huy Thiệp. Bà ĐCT có lẽ không được dự những buổi nói chuyện chật ních người nghe của các tác giả nói trên, còn sự “tranh cãi với bạn văn” thuở ấy tất nhiên không diễn ra trên Internet như ngày nay nhưng chỉ cần tìm lại báo chí bà sẽ thấy rằng thời huy hoàng ấy cho đến nay vẫn chưa có gì vượt qua được. Có ai trong số các tác giả của cái gọi là Văn Trẻ mà bà đang tuyên dương chiếm được sự quan tâm đến mức ấy của cả công chúng lẫn người trong giới? Ngay cả trong những năm vừa rồi, khi mà cái Văn Trẻ ấy đã xuất hiện, nó cũng không đứng trong sự chú ý thật sự của công luận và của chính văn đàn. Những người đối thoại và tranh cãi nhiều nhất trong những năm Hậu Đổi Mới vừa qua cũng không phải là giới Trẻ. Người duy nhất đáp ứng cái tiêu chuyển “đối thoại với độc giả”, “tranh cãi với bạn văn” một cách khác so với “những người đi trước” trong toàn bộ cái khối Trẻ theo danh sách của bà ĐCT là Vi Thùy Linh. Tiếc rằng tôi không cho đó là “đối thoại với độc giả“, vì VTL chỉ làm có một việc là trả lời phỏng vấn để đưa ra những tuyên ngôn rằng mình là thế này thế kia. Tôi cũng không cho đó là “tranh cãi với bạn văn” vì những người dám mở miệng chê hoặc chỉ cần không hoà theo khen VTL đã biết rằng mình dại dột, rằng như vậy thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng và từ nay sẽ im thin thít. Quả thật đó là sự khác nhau rất lớn giữa “những người đi trước” và Vi Thùy Linh. Nếu đó là sự tranh cãi với bạn văn đáng được biểu dương thì tôi e rằng chúng ta sắp rơi vào một chủ nghĩa toàn trị mới mất rồi.
Nhưng bỏ qua những chuyện này thì đấy có phải là một tiêu chuẩn đứng vững để đăng quang cho cái gọi là Văn Trẻ không? Bản thân tác phẩm mà không có gì đặc biệt thì có chịu khó phát biểu, tranh cãi thế nào, chịu khó tự quảng cáo mình khắp nơi cũng chẳng thuyết phục được ai. Ngược lại là khác. Bà ĐCT cũng đưa ra những bằng chứng rất kỳ quặc khác cho thấy cái…khao khát, cái…mở ra, cái…hướng ra những chân trời mới của khối Trẻ: “Vi Thùy Linh học tiếng Pháp, Ngô Tự Lập, Bùi Hoằng Vị, Thuận, tự dịch sáng tác của mình ra Pháp ngữ hay Anh ngữ“, “các nhà văn trẻ Việt Nam hôm nay say mê khám phá các nền văn học thế giới qua bản dịch hay bản gốc“. Dương Thu Hương cũng học tiếng Pháp đấy, mà học trong tù nữa kia! Các nhà văn trẻ làm thế nào mà khám phá các nền văn học thế giới qua bản dịch được, nếu không có cánh… già bỏ công ra dịch. Ông Nguyên Ngọc thì nên cùng với Văn Học Đổi Mới về hưu, vì ông không có khát vọng hướng tới các…chân trời mới như cánh Trẻ, còn việc ông giỏi tiếng Pháp và công phu dịch những tác giả ngoại quốc cho cánh trẻ đọc và… khám phá lại là chuyện không có giá trị gì hay sao? Sự thật có thể làm cho bà ĐCT buồn, nhưng riêng về cái khoản ngoại ngữ thì tiếc rằng trong danh sách Trẻ mà bà nêu ra thì không một ai có thể sánh được với “những người đi truớc” như Nguyên Ngọc, Dương Tường, Hoàng Hưng, Trần Dần, và với cả những nhà văn, nhà thơ mà bà có thể không chú ý đến như Nguyễn Quang Thiều, Thái Bá Tân, Phạm Sông Hồng, Bằng Việt… cũng vậy. Cái không thể sánh được ở đây đối với những người mới… đang học ngoại ngữ như Vi Thùy Linh là đương nhiên không có gì phải bàn, sẽ còn rất lâu họ mới đủ khả năng khám phá các nền văn học thế giới trong nguyên bản. Nhưng cái không thể sánh được cũng dành cho những người có khả năng ngoại ngữ như Trần Vũ, Thuận, Bùi Hoằng Vị…, vì họ mới dừng ở mức có ngoại ngữ như những người đơn giản là… có ngoại ngữ mà thôi, chưa hề có một cống hiến đáng kể nào cho nền dịch thuật nuớc nhà. Nếu thống kê thì đáng tiếc là số nhà văn VN làm chủ được một hay nhiều ngoại ngữ ở lớp… già chắc chắn nhiều hơn hẳn ở lớp trẻ.
Nhưng lại bỏ qua những chuyện ấy thì đó có phải là tiêu chuẩn đứng vững để đánh giá chất lượng của một cái gọi là… “một nền văn học…khác” không? Học tiếng Pháp thật chăm, đọc nguyên bản thật nhiều, tự dịch mình ra đủ thứ tiếng, xin cứ việc, nhưng tác phẩm không có gì đặc sắc thì có thêm cả ngoại ngữ của Sao Hoả và tự dịch mình ra tiếng Sao Kim cũng chẳng thuyết phục được ai. Ngược lại là khác. Cá nhân tôi thì cho rằng Nguyễn Huy Thiệp có thể không biết, không học một ngoại ngữ nào hết và cũng không quan tâm đến các nền văn học thế giới, nhưng không phải vì thế mà ông không có khát vọng hướng tới những… chân trời mới? Nếu khát vọng chỉ được đo đếm qua mấy thứ vừa kể thì tôi cũng đành lắc đầu không biết nói vào đâu nữa. Nguyễn Bình Phương cũng ở trong số các tác giả của khối Trẻ. Anh vừa không tham gia vào “đối thoại với độc giả”, “tranh cãi với bạn văn“, vừa không đọc được ngoại ngữ gì ghê gớm và cũng không quá quan trọng cái sự ngoại ngữ, khát vọng “chân trời mớI” của anh không cao hay sao, và vì lý do gì mà anh được ĐCT hoan nghênh nhỉ? Nếu là vì ngòi bút của anh “lặn sâu trong tầng tầng lớp lớp của vô thức và tiềm thức” như sự giới thiệu của ĐCT thì anh chung “dòng” với không biết bao nhiêu nhà văn bất cứ thế hệ nào, và nhất là chung với Nguyễn Huy Thiệp đấy, tôi cũng có thể nói như thế về NHT mà không sợ sai, nhưng NHT cũng như vậy thì không còn giá trị, trong khi NBP cũng như vậy thì rất giá trị hay sao? Toàn bộ sự liệt kê của ĐCT ở từng tác giả chẳng cho thấy họ thật sự khác và mới ở chỗ nào. Cần chứng minh tài năng của Vi Thùy Linh thì ĐCT trích mấy câu VTL tuyên bố và trích một bài thơ của VTL và kết luận ngon lành: “Bài thơ sau đủ nói lên tài năng của Vi Thùy Linh“. Nguyễn Bình Phương, Thuận…, đều được trích ra vài câu, thế là đủ để bà ĐCT chứng minh sự mới mẻ của họ. Cần khẳng định Nguyễn Thanh Sơn thì: “phát hiện nhiều tài năng mớI“, “suy nghĩ luôn cập nhật“… Quả là những nhận định đúng với mọi nơi, phù hợp với mọi chỗ, vậy cũng phù hợp với Văn Trẻ, nhưng chúng có một giá trị phê bình văn học gì không thì có thể nói là hoàn toàn không. Người đọc chỉ được đọc một bài quảng cáo cho Văn Trẻ theo kiểu “Xem đi! Đây này! Hay lắm! Hơn hẳn thế hệ trước!” Good Morning, Văn Trẻ! Ngày của ngươi đang đến!
3. Tố Hữu và Trần Dần
Trở lại với câu hỏi của bà ĐCT với ông PXN:
a) Bà ĐCT hình như cho mình ở vị trí được phép “gí súng vào ngực” ông Xuân Nguyên – Ngân Xuyên, yêu cầu ông ấy phải khai mau: theo ai? Theo Tố Hữu hay theo Trần Dần? Chỉ được phép chọn một! Hơn nữa, tuy là không nói ra, nhưng ông PXN dường như không thật sự có cái quyền lựa chọn tự do ấy nữa, khi mà, bà ĐCT có vẻ như cho rằng người ta chỉ có thể chọn Trần Dần.Vì sao ông PXN không được phép thích Trần Dần ở chỗ này, mến Tố Hữu ở chỗ kia? Cứ coi như ông PXN coi Trần Dần là tình yêu lớn nhất của mình đi và trót dại có thêm chút tình với Tố Hữu ở lĩnh vực dịch thuật (toàn bộ bài của Ngân Xuyên về Tố Hữu xoay quanh chuyện dịch thuật. Ông ta khi xuất hiện với tư cách nhà báo và nhà bình luận văn học thì dùng tên Phạm Xuân Nguyên, khi xuất hiện là dịch giả thì dùng tên Ngân Xuyên), thì cái cách hạ sách nhất là bắt PXN phải từ bỏ ngay một bên. Tình yêu trong cuộc đời thật vốn đã không thể dùng đen-trắng, dùng loại trừ, dùng “tối hậu thư” để giải quyết. Tình yêu đối với văn chương, chữ nghĩa lại càng không thể được giải quyết bằng “ai thắng ai” được. Tôi cũng có thể hỏi rằng văn cách và nhân cách của Trần Dần và Vi Thùy Linh khác nhau một trời một vực, làm sao ĐCT có thể vừa ca ngợi TD vừa ca ngợi VTL? Nhưng đó là một câu hỏi vô lý, trong tình yêu luôn có những điểm mù. Giả sử sau này ĐCT có “ân hận” về một “tình yêu” văn chương nào đó của mình thì đó là chuyện của bà, tự bà phải sống với kinh nghiệm đó thôi, làm sao người ngoài can thiệp được, mà cũng không phải vì thế mà bà tốt hơn hay kém đi, chân thực hơn hay giả tạo hơn. Tôi xin trích lại một câu của bà Phạm Thị Hoài trong bài tiểu luận “Đọc” (talawas, 08/1/2003): “Không có cuốn sách nào ôm trọn một cuộc đời, và chẳng ai cần ngạc nhiên hay xấu hổ vì đã từng tôn sùng một tác giả mà sau này mới ngớ ra là rởm.” Nếu đem chuyện nhân cách của các nhà văn ra bàn theo cách mà bà trình bày về Nguyễn Huy Thiệp và Dương Thu Hương thì hai nhân cách ấy quả là đối lập, nhưng tôi vẫn thích cả người này lẫn người kia và tuyệt đối không có mặc cảm tội lỗi gian trá gì ở đó cả. Không biết bà thế nào, tôi thì không muốn ở trong một nền độc tài của tình yêu. Những con đường của trái tim và của… gu thì chỉ Chúa mới biết.
b) Với tất cả sự khác biệt thì Trần Dần và Tố Hữu có nhiều điểm chung hơn ĐCT tưởng, chỉ cần đọc cuốn Ghi 1954-1960 là có thể thấy điều đó. Ngày 17 tháng Năm1958, nhân đọc một bài trên một tờ báo xuất bản tại miền Nam về vụ NVGP, Trần Dần ghi: “Tôi bị cái nhục chúng nhắc đến trong số văn nghệ sĩ “dũng cảm” kia; tất cả số văn nghệ sĩ đó đều đã thấy rõ tội lỗi của mình trong cuộc đấu tranh tư tưởng vừa qua.” (tr. 263). Vì sao ông thấy nhục? Có lẽ mọi chuyện cũng không hẳn đơn giản tới mức người ta có thể phân biệt bạn-thù rõ ràng như vậy. Chúng ta sẽ còn mất nhiều thời gian để khôi phục lại bức tranh thật của lịch sử giai đoạn này cùng những nhân vật nổi bật của nó. Mà biết đâu Tố Hữu cũng để lại những ghi chép cá nhân chưa được khám phá. Với tôi, cả hai đều là những trí thức cánh tả tự nguyện đi theo cách mạng, không ai cuỡng bức họ cả. Họ đều hân hoan đón nhận cuộc cách mạng đó, đều muốn xây dựng một chế độ mới, mỗi người bằng cách của mình. Họ đều là những tài năng thơ khác thường. Theo tôi thì tập Từ Ấy của Tố Hữu còn chứng tỏ năng khiếu ban đầu của ông hơn những bài thơ đầu tay của Trần Dần. Cho đến cuối đời họ đều trung thành với chế độ mà họ mong xây dựng, mỗi người trung thành theo cách của mình. Họ là hai bi kịch đặc trưng cho cùng một thời đại. Mẫu số chung của họ lớn hơn của rất nhiều tác giả Trẻ hiện nay nhiều. Nếu chỉ xét ở lĩnh vực dịch thuật thì chắc chắn họ đều là những dịch giả tốt, nhiều công lao và chắc chắn là họ đủ sự chuyên nghiệp để tôn trọng nhau ở lĩnh vực này. Cuối cùng xin nói thêm rằng với tất cả sự khác biệt, giữa bà ĐCT và ông PXN cũng có nhiều điểm chung hơn bà tưởng. Cái khác biệt khi hai ông bà ca ngợi bài thơ dài tập ca dao- phản ca dao của Trần Dần là ở chỗ bà ĐCT nói chính xác bài thơ ấy có bao nhiêu câu, và bao nhiêu câu có chữ “chín”, còn ông PXN không được chính xác như thế, nhưng cái chung là cả hai ông bà đều chỉ có thể trích ra một số câu, không đưa ra một phân tích sáng giá nào về chúng với tư cách Thơ. Và một điểm chung quan trọng nữa: cả hai ông bà cùng khen Vi Thùy Linh.
Bà Đoàn Cầm Thi tỏ ra rất nhạy bén, sắc sảo trong việc chỉ ra những sai lầm của người khác. Điều ấy rất cần thiết. Nguy hiểm lớn nhất ở bà theo tôi là khuynh hướng đen-trắng sơ lược và khuynh hướng đẩy đối tượng phê bình vào trận chiến “ai thắng ai”. Theo thiển ý của riêng tôi thì mỗi khi câu hỏi này được đặt ra là không có ai thật sự thắng cả, đôi bên đều trở thành chiến bại, mà thua thiệt nhất là phía đứng giữa: độc giả. Mong rằng mấy lời thẳng thắn này không cản bước đi của bà.
© 2003 talawas