Đoàn Cầm Thi
Khoảng 1963-1964, Trần Dần có làm một bài thơ gồm 104 câu thơ trong đó 95 câu có chữ chín :
Em ơi!
Ai xui nhà ươm chín mái?
…
Ai xui cửa chín chấn song
Đường về phố em đèn lên chín ngả
Thư đi ngỡ ngàng chín ngõ…
…
Anh ngồi không vặn nhạc
Xương sống chín đốt
Đàn câm chín nốt
Trong bài “Hội chứng Babylone”, PXN viết về bài thơ này: “lối thơ bốn năm chữ, ông (Trần Dần) tìm cách luyện chữ qua ca dao, ví như một bài ngót trăm câu, câu nào cũng có từ “chín” chỉ đơn vị đếm…” Sau đó, trong bài “Phê bình văn học có cần chính xác không?”, tôi viết: “Tôi đồ rằng Phạm Xuân Nguyên cũng chưa bao giờ đọc những bài thơ này của Trần Dần, chỉ nghe lỏm ở đâu”. Rõ ràng là trong đoạn trích trên, không phải câu nào cũng có 4, 5 chữ, và câu nào cũng có từ “chín”. Vậy sự nghi ngờ của tôi là có cơ sở.
Để bác lại bài viết của tôi, PXN cho đăng lại một bài PXN đã viết về Trần Dần cách đây 5 năm, với lời mở đầu: “Tôi gửi talawas đăng lại bài viết này cách đây năm năm như một cách trả lời sự suy diễn và quy kết của Ðoàn Cầm Thi (talawas 14/2/03). Cả bài đó tôi thấy không cần thiết nói lại, nhưng ở đoạn liên quan tới Trần Dần thì tôi không muốn vì một thái độ vô lối mà tôi bị mang tiếng bất kính với một nhà thơ tôi quý trọng cả về nhân cách và văn cách”.
Qua việc này, một lần nữa PXN để lộ bản chất nước đôi, cơ hội. Tệ hơn, PXN dùng “nhân cách và văn cách” của Trần Dần để bào chữa và trang điểm cho mình.
1.
Năm 1998, lúc cần khoác áo “đổi mới”, PXN viết: “Tôi đồ rằng vì ca dao là cái đã vốn quen vốn biết thành ra thường ra nhàm nên Trần Dần muốn thử sức mình làm mới lại nó, làm lạ nó đi “, “Trần Dần và những người đồng chí hướng với ông trên con đường cách tân thơ Việt đã thực hiện phương châm “hãy đập vào chữ, thơ là ở đấy”. Cố nhiên đẩy tới là cực đoan. Nhưng nếu sợ cực đoan mà không đẩy tới thì sẽ chẳng có sự phát triển, tiến bộ nào cả. Vả chăng “làm gì có chừng mực yêu? Làm gì có chừng mực thơ?” (Phùng Quán). Trong cuộc “cách mạng chữ” này, Trần Dần là người tiên phong và quyết liệt nhất “.
2.
Tháng 1/2003, để bảo vệ Thuỵ Khuê, PXN đổi trắng thay đen, lờ việc đã từng hết lời ca ngợi tính cách tân quyết liệt của Trần Dần và đồng chí của ông: “Trần Dần hồi 1946 ra tuyên ngôn “Dạ Ðài” chủ trương thơ tự do, mười năm sau làm thơ bậc thang theo kiểu Maia, và để chuẩn bị cho những chân trời có người bay ông quay về học ca dao … Những tuyên bố đoạn tuyệt luôn có hấp lực kiểu “à la mode” đối với những người viết non tài non tay non kiến văn bản lĩnh. Thường thì những người đó rồi sẽ lại bị cầm tù bởi những cái họ định phá bỏ . Vì họ không biết mình là ai, họ chạy theo người“.
3.
Tháng 2/2003, khi bị tôi phê bình về thái độ “lập lờ nước đôi”, PXN lại lôi bài viết cũ về Trần Dần ra. Những lời rào trước đón sau của PXN, nào “quí trọng cả về nhân cách và văn cách”, nào đi “đưa tang ông”, nào “ghi sổ tang”, sẽ trở nên nhạt thếch, nếu người ta biết rằng chỉ trước đó ít lâu, Phạm Xuân Nguyên cũng đến thăm Tố Hữu và viết về ông với những lời không kém phần tôn kính và âu yếm. Đây là một bài viết của PXN (ký tên Ngân Xuyên) về Tố Hữu: “…sáng 30-4-1996. Nắng rực rỡ phố phường Hà Nội cái ngày lịch sử đó (…) Ông(TH) bước ra tiếp chúng tôi trong bộ quần áo mặc ở nhà, trông bình dị như mọi ông lão trên đời (…) Ông cười vui vẻ. Chúng tôi cũng vui vẻ cười. (…) Trí nhớ ở tuổi “xưa nay hiếm” của ông vẫn thật tuyệt. Trong tôi vẳng lên giai điệu nhạc “Ðảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”. (…) Cách hai mươi mốt năm trước, cái buổi trưa của ngày này đã reo lên trong thơ ông niềm vui chiến thắng vĩ đại “Ôi buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp. Bác Hồ ơi, toàn thắng về ta”. Bây giờ gần trọn một buổi sáng ông đã trò chuyện thơ ca với chúng tôi, thân mật, ấm cúng trong tình thơ, dù có lúc những xao động cuộc đời vẫn len vào câu chuyện (…) có lẽ bị quyến rũ bởi nhạc điệu những bài thơ do ông đọc lên, tôi đã xin phép được đọc ông nghe một bài thơ ngắn (…) ông hỏi thăm song thân tôi (…) Phút ấy nhìn ông, tôi như thấy lại anh thanh niên xứ Huế năm mười bảy tuổi…”. Xin nói thêm là bài viết này của PXN đã được chọn đăng nhân dịp ngày mất của Tố Hữu[1].
Xin hỏi: PXN hiểu thế nào về nhân cách và văn cách của Trần Dần và Tố Hữu? Bất cứ ai đã đọc thơ của hai ông đều thấy rằng đó là hai văn cách đối lập nhau. Bất cứ ai biết những xung đột kịch liệt, một mất một còn giữa hai con người này, đều hiểu rằng đó là hai nhân cách đối nghịch nhau. Ai đã “yêu” Trần Dần thì không thể “yêu” được Tố Hữu (cả thơ lẫn người)[2]. Vậy cái niềm yêu ồn ào mà PXN giành cho cả hai ông mới đáng ngờ làm sao!
Phải chăng PXN chính là kẻ mà người đời gọi là “tuần chay nào cũng có nước mắt”?
4.
Tôi không đồng ý với thái độ mập mờ của PXN. Trong bài “Phê bình văn học có cần chính xác không?”, tôi đặt câu hỏi một cách cụ thể, rõ ràng, có cơ sở, tại sao PXN không trả lời từng câu hỏi của tôi? Xin hỏi: “Cả bài đó (của ĐCT) tôi thấy không cần thiết nói lại” nghĩa là gì? In lại một bài viết cách đây 5 năm “như một cách trả lời” nghĩa là gì? Xin nhắc PXN, thái độ lấp liếm đó của PXN không che mắt được ai[3]. Hơn nữa, PXN lại phạm thêm sai lầm nghề nghiệp : lái chuyện tình cảm riêng tư vào phê bình là lĩnh vực công. Trong bài trước, tôi không đặt vấn đề là PXN có ” bất kính ” hay không với Trần Dần, mà chỉ kết luận PXN hồ đồ khi nhận định thơ ông. Nhưng cho dù PXN có kêu to lên là “quí trọng” Trần Dần rồi trốn sau bóng của ông, thì không vì thế mà người ta quên được PXN cố tình lảng tránh những câu hỏi về tư cách phê bình của chính PXN.
Paris, 3/2/2003.
© 2003 talawas
[1] Câu chuyện dịch thơ – Trò chuyện cùng nhà thơ Tố Hữu, Văn học nước ngoài, số 3 năm 1996. Đăng lại trên talawas 26/12/2002. Không hiểu Ngân Xuyên mải ” tung hứng ” thế nào mà chỉ chép lại có mấy câu thơ của Verlaine và Aragon thôi cũng có lỗi.
[2] Xem thêm Đỗ Kh., Con nào ra con nấy, talawas 09/01/2003
[3] Xem thêm Hoàng Xuân Lãm, Thư đ ộc giả Talawas 01/03/2003