Lê Thạch Linh
I.
Ðọc bài của Nguyễn Hoàng Sơn (“Dùng chữ quốc ngữ là một “tai họa” ư? [ talawas 23/1/2003 ]) thấy đáng cười đáng trách. Cười người viết, vì cãi lại một luận điểm khoa học của một nhà khoa học có hạng, ở đây là nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo nổi danh nhất nhì Việt Nam và uy tín quốc tế, mà đem một nhúm kiến thức vụn cộng với cái lối lý sự cù cưa “như thế… lẽ nào” ra khuấy lung tung thì bài viết thành một trò cười cho thiên hạ cũng là điều không lấy làm lạ.Nhưng trách cái cơ quan báo chí đã đăng và trao thưởng năm 2002 cho bài viết đó. Khi bài đó của Nguyễn Hoàng Sơn mới ra mình đã phản ứng tức thì với bạn bè: không thể lấy lẽ phải thông thường để bác lại một luận điểm khoa học được. Mặt trời ta thấy bằng mắt hàng ngày sáng ở Ðông chiều ở Tây nhưng không phải thế mà nói là mặt trời quay quanh Quả Ðất. Thuyết địa tâm của Ptoleme dẫu có được thần quyền ủng hộ cố trì níu đầu óc con người bao lâu thì cuối cùng cũng phải nhường chỗ cho thuyết nhật tâm của Copernic toàn thắng. Ông Sơn đã không có chút mảy lý thuyết ngôn ngữ học, ban biên tập tờ tạp chí đăng bài cũng chẳng thèm biết cuốn sách ông Hạo ra sao để xem người viết bài có hiểu được nội dung sách không, có trích dẫn đúng sách không, có dẫn giải đúng ý tưởng của tác giả sách không, cứ thế là bài viết được tung ra. Tung ra như một sự phê phán, quy kết, chứ không phải nhằm mục đích tranh luận khoa học, thế kể đã là không tôn trọng cá nhân ông Hạo, và giới ngôn ngữ học nước nhà nói chung. Ðến khi bài đó được trao thưởng bài phê bình nghiên cứu hay năm 2002 của tạp chí đăng nó, thì cái sự không tôn trọng này đã trở nên sự xúc phạm giới khoa học. Ðọc các bài của ông Hạo từ khi đăng báo chí, rồi đọc lại chúng khi in vào sách, mình hiểu cái luận điểm đó là ở trong cả một hệ thống luận điểm của ông về tiếng Việt đã được nghiền ngẫm nghiên cứu tìm hiểu bao nhiêu năm nay, chúng có căn cứ lý thuyết và thực tiễn ngôn ngữ, muốn tranh luận ở đây thì phải theo câu châm ngôn Pháp “có đồng đẳng mới bình đẳng”. Talawas sau đó đã đăng lại mấy bài của Cao Xuân Hạo cho thấy ông Sơn đã hiểu hời hợt và nông cạn những vấn đề ngữ học phức tạp, sâu xa của nhà khoa học nêu lên đến mức nào. Tác giả Nguyễn Tùng làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học (Pháp) trong bài “Ngôn ngữ, chữ viết và văn học ở Việt Nam” (tạp chí Thời đại, số 6, trang mạng http://thoidai.viet-studies.org/) sau khi khảo qua những vấn đề này trong lịch sử dân tộc, nhất là phần chữ viết trong so sánh với Nhật Bản, Hàn Quốc, đã kết luận: “Nếu không có việc chính quyền thuộc địa Pháp độc đoán dùng chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán nhằm một mặt đưa Việt Nam ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc để dễ bề “Âu hóa” và mặt khác làm yếu đi vai trò của tầng lớp nho sĩ đối kháng, thì không chừng cho đến ngày nay chữ Hán vẫn còn thống trị! Liệu xã hội Việt Nam đã có thể tự mình hoàn thiện chữ Nôm (bằng cách hệ thống hóa và đơn giản hóa nó) để dùng làm văn tự chính thức? Sự lựa chọn – nếu đã xảy ra! – có thuận lợi lớn là giữ được sự liên tục với chữ Hán và nhờ thế với văn hóa và văn học truyền thống“. Quan niệm của ông Hạo và ông Tùng có thể khác nhau về chữ Hán, nhưng cách nhìn của hai ông về sự liên tục của di sản Hán – Nôm qua chữ viết là giống nhau, điều này cho thấy đây là một vấn đề đang được giới khoa học nước nhà (trong và ngoài) quan tâm. Bởi không gì buồn cho bằng mình mù chữ trên đất nước mình…
II.
Ðọc bài của Ðức Kôn Ðôi điều về chuyển thể từ văn lên phim,  [ talawas, 3/2/2003 ]), cắc cớ sao lại nhớ tập thơ Cửa mở của Việt Phương. Tập thơ này ra năm 1972 tại Hà Nội và vì nó có một số ý số câu “mở cửa” sớm nên đã sớm bị đẩy vào im lặng. Hồi đó đang chiến tranh, đôi bên kẻ thù nói với nhau rất quyết liệt, và cũng khá ngây ngô, ví như:
Ta nhất quyết trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
Ðồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ
Ôi cái niềm tin mới ngờ nghệch làm sao
Và
Tất cả những gì xấu xa của tao là thuộc về mày
Tất cả những gì tốt đẹp của mày là thuộc về tao
Và:
Mở đài địch như mở toang cánh cửa
Nghe nó chửi ta mà tin ở ngày mai
Thời mở cửa Cửa mở đã được mở lại.
Lấy làm lạ tại sao Ðức Kôn lại cho những ý kiến người khác chê phim “Mê Thảo thời vang bóng” là “nói ngược”? Chẳng hóa ra ông ta cho phim này chỉ được khen chứ không được chê? Hoặc giả, ông ta cho “nói ngược” là những ai nói khác ý ông ta? Mà trong hai khả năng chuyển thể, ông ta theo khả năng này, người ta theo khả năng khác, biết ai “ngược” ai bây giờ?
III.
Ðọc bài của Nam Dao (“Xổ bụi” [ talawas 8/2/03 ]) thấy thương và phục Trần Dần cùng các “nạn hữu” của ông ghê gớm. Phục là phục ông đã chấp nhận sống thân phận mình, đã dám sống là mình, đã dám liều thân cho điều tâm niệm “nhân cách là văn cách”, để những gì ông để lại hôm nay đủ làm chứng cho một con người đã biết sống chứ không chịu chết. Thương là thương ông, những người như ông, cứ bị người đời đòi phải treo gương tuẫn tiết, nghĩa là bắt ông phải thành anh hùng, thần tượng cho họ hoan hô, lấy làm phương tiện cho mục đích của họ. Còn khi ông không làm thế thì họ quay ra khinh khi, rẻ rúng ngay. Ðiều này tác giả bài viết đã nói kỹ, và xúc động. Mình chỉ liên hệ với trường hợp Nguyễn Huy Thiệp vừa rồi cũng na ná lâm tình thế như vậy trong một bài trên mạng. Nhà văn tồn tại bằng tác phẩm. Bài viết của Nam Dao còn thấy cập nhật cuộc tranh luận “Hội chứng Babylone” ở câu này: “Những ai đã chôn Trần Dần? Chưa chôn? Vì anh chưa chết, thế hệ trẻ ơi!”. Trần Dần quyết liệt chôn thế hệ trước và khẩn thiết kêu gào thế hệ sau chôn thế hệ mình. Ðoạn tuyệt và lên đường là vậy đó chăng?
IV.
Ðọc bài của Trần Tiễn Cao Ðăng (“Chiều kích lớn hơn của tự do“[ talawas 10/2/03 ]), thích ở sự đàng hoàng, thẳng thắn, tự tin của người viết. Và tán thành thái độ của ông Ðăng. Cuộc tranh luận về tập thơ Chất trụ của Nguyễn Hữu Hồng Minh đã bị phá vỡ lằn ranh, khi một bên nói về tự do bản thể của người sáng tạo dù ở bất kỳ đâu, và một bên bàn sang tự do ngoại giới của con người xã hội trong từng xã hội cụ thể. Mình thật không ưa trò đánh lộn sòng chính trị vào văn chương, tệ hơn nữa là mượn chuyện văn chương để lớn tiếng chuyện chính trị. Ðọc vào những bài như vậy, không chỉ cái ý lộ ra, mà cả những chỗ ngoắt ngoéo chữ nghĩa khiến người đọc lắm khi rùng mình. Mỗi người có một thân phận, và có một tự do thân phận (được lựa chọn hay bị áp đặt), nhưng là người sáng tạo thì có chung một thân phận và một tự do: sống hết mình trong tự do sáng tạo của mình. Trần Tiễn Cao Ðăng nói đúng. Hy vọng sau bài này cuộc tranh luận thơ (và không chỉ nó) sẽ về lại đúng lằn ranh của nó, như ông Ðăng mong muốn, như nhiều người khác cũng muốn, chắc vậy.
V.
Ðọc bài của Lê Huy (“Không nên làm lớn chuyện” [ talawas 10/2/03 ]), nghĩ là ông này có ý tốt theo kiểu hòa cả làng khi đứng ra phân giải chuyện dịch câu của Camus “Je me révolte donc nous sommes”. Ông Huy mong các người thảo luận đừng nên làm lớn chuyện dịch một câu nhỏ đó mà rồi hỏng chuyện lớn không biết chừng. Một thái độ đoàn kết thế là đáng ghi nhận. Nhưng mình vẫn thấy để dịch câu đó theo chữ hay theo nghĩa còn là nên nghĩ tiếp. Tiện đây trích ra một đoạn của André Maurois phân tích L’Homme Révolté để thêm một khả năng tìm cách dịch cho đúng tư tưởng của Camus:
“L’homme est la seule créature qui refuse d’être ce qu’elle est”, bref qui se révolte contre sa condition. Cette révolte est l’essentiel de son être.” “Je crois que je ne crois à rien, dit l’homme révolté, mais je ne puis douter de ma protestation ou, à la Descartes: “Je crie donc je suis.” L’homme révolté est un homme qui dit non, mais il ne peut dire non à ce qui est sans dire oui à autre chose. Tout mouvement de révolte invoque tacitement une valuer. Apparemment négative, la révolte devient positive quand elle révèle en l’homme ce qui est à defendre. Une solidarité et celui-ci à son tour ne trouve de justification qu’en cette solidarité. Dans l’absurde (l’Etranger, le Mythe de Sisyphe) l’expérience était individuelle; dans la révolte elle est l’aventure de tous (la Peste, l’Homme Révolté) car tous souffrent de cette distance de l’homme au monde. Cette évidence tire l’individu de sa solitude. “Je me révolte, donc nous sommes”. (André Maurois, De Proust à Camus, Librairie Académique Perrin Paris, 1964, p. 338).
VI.
Ðọc mấy bài của Ðỗ Nguyên (“Cần phải có căn bản triết để nói chuyện triết học“[ talawas 10/2/03 ], “Lại chuyện dịch thuật triết lý” [ talawas 2/2/03 ], “Quả thực, cần phải có căn bản triết để nói chuyện triết học” [ talawas 10/2/03 ]), chợt nhớ mấy chuyện xưa chuyện nay.
- Lớp thanh niên Việt đầu thế kỷ hai mươi theo học chữ Pháp nhưng không quên nếp nhà. Các chàng khi đã quen với cái chữ Phú Lang Sa thì óc thông minh hài hước có tự ngàn xưa nổi lên, lấy mẹo tiếng Việt áp chế tiếng Tây. Thế là các chàng đố nhau lấy chữ Tây làm câu đối ta. Mà là đối lái. Một chàng xướng:
Ði vê lô (vélo) bị vô lê (volé)
Hóc hiểm thật, đến thế này thì bố thằng Tây cũng chịu. Ði xe đạp bị mất cắp. Tiếng Pháp nhưng lái theo kiểu tiếng Việt.
Nhưng bố thằng Tây có thể chịu, chứ anh dân Việt không chịu. Một chàng lên tiếng đối:
Học phi lô (philosophie) bị phô li (folie).
Triết học lôi thôi rắc rối quá, học nhiều quá “tẩu hỏa nhập ma”, bị điên. Hay, đối khá chỉnh, tài tình nhất là đối được tiếng Pháp lái theo kiểu Việt.
Thế là kho tàng câu đối Việt có thêm câu đối mới Việt – Pháp.
Ði vélo bị volé – chuyện này thường có.
Học philo bị folie – chuyện này hiếm, nhưng không phải không có.
- Tô Ðông Pha, một trong bát đại gia của văn chương Tàu, khi còn ở kinh đô, một hôm đọc bài thơ của tể
tướng Vương An Thạch gặp hai câu :
Minh nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm
thì cho là nhảm, vì có ai bao giờ lại viết: Trăng sáng hót đầu núi, Chó vàng nằm
giữa hoa. Và Tô xin phép đổi chữ «khiếu» ra chữ «chiếu», chữ «tâm» ra chữ «âm»
cho hai câu thơ thành:
Minh nguyệt sơn đầu chiếu
Hoàng khuyển ngoạ hoa âm
thì theo ông mới có nghĩa: Trăng sáng treo đầu núi, Chó vàng nằm dưới hoa. Có
nghĩa thực, nhưng hai câu thơ đã thành ra thường quá. Vương An Thạch cười, chê
Tô Đông Pha kiến thức hẹp hòi. Tô lấy làm bực. Xảy khi Tô bị biếm phải rời kinh
ra miền sơn cước, mới hay chốn xa có giống chim gọi là "minh nguyệt",
giống sâu gọi là "hoàng khuyển", bèn cúi đầu vái vọng về kinh chịu
cái biết của tể tướng họ Vương.
- Phan Khôi, nhà nho Phan Khôi thức thời sớm ở buổi mưa Âu gió Mỹ, có kể lại chuyện lúc hai mươi tuổi được đọc cuốn “Việt Nam vong quốc sử” từ Nhật Bản gửi về, ông không chỉ thu nhận được những cảm tưởng mới lạ, mà còn thấy được cái sự người An Nam viết chữ Hán.
“Cuốn sách ấy, ông Lương Khải Siêu đứng tác giả, nhưng cả phần chính văn do cụ Phan Bội Châu soạn, ông Lương chỉ viết mấy tờ đầu như cái tiểu dẫn. Trong phần như tiểu dẫn ấy, ông Lương có nói một câu tợ hồ phân bua với độc giả người Tàu mà rằng, trong sách nếu có chỗ văn không được nhã thuần, ấy là vì muốn để ý cho còn cái chơn tích của tác giả, cụ Phan, nên không hề sửa chữa một chữ nào.
Ðọc câu phân bua đó tôi phải ngẩn người ra, tôi phải đánh dấu trong đầu một sự chú ý rất lớn: à, té ra học giỏi như Phan Bội Châu của An Nam, văn hay như Phan Bội Châu của An Nam mà viết ra người Tàu còn bảo là có chỗ không được nhã thuần.
Nhã là nhã nhặn, đối với tục; thuần là như con thú rừng đem về tập luyện đã lành đi (dompté). Viết văn mà không được nhã thuần, nghĩa là còn pha giọng tục, còn như con voi lung lăng chưa chịu vố, bành; con ngựa hay cất hay đá, chưa chịu cương, khớp.
Người ngoại quốc viết tiếng Pháp, có nhiều câu không sai mẹo, không tối ý, người Pháp xem vẫn hiểu nhưng không cho là được, gọi là pas francais. Thì khi người ngoại quốc viết văn Tàu mà bị phê là không được nhã thuần, cũng có nghĩa như thế, nghĩa là pas chinois vậy.
Sau khi tôi thấy ông Lương Khải Siêu phê văn cụ Sào Nam rằng còn có chỗ pas chinois, tôi bèn để ý xem lại văn của những người An Nam khác viết thì quả nhiên thấy ra có nhiều chỗ pas chinois lắm”.
Phan Khôi dẫn ra mấy chỗ trong bộ “Ðại Nam chánh biên liệt truyện sơ tập” làm xong năm Tự Ðức thứ năm, do các nhà khoa bảng danh tiếng biên duyệt. Ðây là một chỗ:
“Cuốn 30, truyện Nguyễn Văn Nhạc, tờ 15, chỗ nói Nhạc nghe Huệ chết, chính mình đem hơn ba trăm liêu thuộc cùng em gái ra thăm, đi đến địa đầu Quảng Ngãi thì “bị viên đồn tướng của Huệ ngăn lại” mà biên là: vi Huệ đồn tướng trở chi cũng lại không trôi nữa. Theo văn Pháp, câu này muốn đặt lối actif thì nói: Huệ đồn tướng trở chi; muốn đặt lối passif thì nói: vi Huệ đồn tướng sở trở; chứ không ai lại đặt câu bằng lối passif lại còn để chữ chi là chữ chỉ có thể dùng được trong câu actif mà thôi”.
Từ chữ Hán của người Việt, Phan Khôi suy ra chữ Pháp của người Việt rồi cũng thế.
“Cái trạng huống của văn học chữ Pháp ở nước ta mai sau ra thế nào, tôi có thể đoán biết từ hôm nay. Văn của ông Nguyễn Mạnh Tường hay của ông Phạm Duy Khiêm, mãi đến sau đây vài mươi năm rồi người ta sẽ tìm thấy nó pas francais cũng như văn cụ Sào Nam đã không được nhã thuần, của các quan Sử quán đời Tự Ðức đã sai văn pháp! Thế thì sao người ta còn sính chữ Tây cũng như ngày xưa đã sính chữ Tàu?”.
Gớm thay ông Phan Khôi, cái tầm nhìn và đởm lược!
Và ông kết luận:
“Rút lại, một thứ chữ ngoại quốc nào cũng chỉ hành dụng bởi sự nhu cầu của thời đại mà thôi, còn muốn lập nên nền văn học thì ắt phải là văn tự bản quốc mới được. Vậy chúng ta nên đồng thanh kêu: Hỡi, người Việt Nam, trở về với quốc văn!”.
Câu chuyện và ý tưởng này của Phan Khôi được ông viết trong bài “Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta” đăng trên tạp chí Tao Ðàn số 1 (1/3/1939) và số 2 (16/3/1939).
VII.
Ðọc bài của Phạm Xuân Nguyên (“Hội chứng Babylone” [ talawas 31/1/03 ]) cảm tưởng như đọc tiểu thuyết, nhưng cũng có một số khúc rẽ ngang hơi miên man.Vì ông ta có nhiều ý muốn nói quá, mà những ý ấy đôi khi lại là cả một vấn đề lớn. Giá ông ta có thể viết chúng thành hẳn một bài khác, để mời độc giả xem hồi sau sẽ rõ, như vậy sẽ không làm giảm sự tập trung của người đọc vào vấn đề chính và giúp họ dễ theo dõi vấn đề hơn, nhất là đối với những người ngoài cuộc hay ngoại đạo (nếu như ông ta hướng tới cả họ nữa). Cái câu “Connais-toi toi même” mình vẫn nghĩ là của Socrate, thấy ông Nguyên ghi là tương truyền, mình đã giật mình, đến khi nghe ông khác bác lại ông Nguyên bảo đó là câu ghi ở ngôi đền Delphes bên Hy Lạp, mình càng giật mình. Ðúng sai thế nào đây? Chẳng biết các ông ta này ở đâu mà hỏi, đành cầu cứu các ông Tây trên mạng vậy. Ðây là hai cái tra được về “Connais-toi toi-même” và Socrate:
Socrate avait pris pour devise le connais-toi toi même qui était une maxime gravée dans le vestibule du temple de Delphes, l’homme grec apprenait le sens de la mesure. “Connaissons notre portée” “La mesure est la meilleur des choses” Le “connais-toi toi-même” est non pas une invitation à une introspection psychologique mais la proclamation des limites de l’homme. Ce precept est la formule la plus haute de la sagesse des limites. Cette sagesse pratique se dit en grec phronesis .La phronesis est une exportation à la réserve dans le savoir et une invitation à la modération dans l’usage du plaisir.
(www.maths.net/philo/socrate.htm).
In his search for wisdom, Socrat spent his time in the streets and the market-place, talking to all kinds of people. His slogan was : “Know Thyself”. By a skilful use of questions, he made men realize what they know and what they did not really know. By this method of question and answer, he said, he dug out from men’s mind the truthes that were lying there unkown to them. This kind of teaching has ever since been known as Socratic method.
(www.horus.ics.org.eg/html/Socrat.html).
Thế ra câu đó là câu châm ngôn ở cửa đền Delphes được Socrate hay dùng mỗi khi ông đàm luận với mọi người dân Hy Lạp ngoài đường ngoài chợ và nhờ ông nó được lưu truyền phổ biến tới mức được gán cho ông, vậy thì hai chữ “tương truyền” là phải rồi. Bài ông Nguyên, cái đáng quan tâm để bàn luận là ở phần ba, khi ông ta nêu thẳng suy nghĩ của mình về vấn đề “Hội chứng Babylone”, chứ còn sa vào bắt bẻ mấy chữ hình như, tương truyền thì rõ là vụn vặt quá. Biết đâu ông Nguyên chẳng chơi khăm các vị, gài bẫy ở đó, để xem các vị cãi nhau với ông ta thế nào. Nếu quả vậy, rõ là các vị đã mắc bẫy ông ta, đáng buồn. Buồn cả cho ông Nguyên.
VIII.
Ðọc bài của Hoàng Ngọc-Tuấn (Vài điều cần nói với Phạm Xuân Nguyên,[ talawas 11/2/03 ]), buồn vì lại thất vọng. Cái chuyện cuốn sách “Một góc nhìn của trí thức” (tập 2) của tạp chí Tia Sáng thế nào không rõ, nhưng cứ theo lý mà suy thì chắc phải có nguyên do sao đó nên ông Nguyên trong lời tựa dẫn câu trong bài của ông Tuấn mà không nói tên tác giả rõ ra. Ông ấy đề tựa cho cuốn sách, làm sao không biết trong sách đó có bài đó của ông Tuấn, mà như thế là độc giả đã biết bài đó là của ai rồi. Sự thất vọng của mình ở chỗ khác. Mình từng có đọc một số bài của Hoàng Ngọc-Tuấn, chịu ông này đọc nhiều biết rộng, tư duy mạch lạc sáng sủa, một nhà nhạc học đi vào văn học như thế kể cũng là hiếm. Hôm rồi có người vừa gọi điện hỏi mình cuốn Văn học hiện đại và hậu hiện đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lý thuyết của Hoàng Ngọc-Tuấn có được không, – được, có nên mua không, – nên, mua bằng cách nào, – đến đây mình hơi ngắc ngứ, không biết ở trong nước thì bằng cách nào mua được một cuốn sách ở ngoài nước. “Vài điều cần nói” của ông ta lần này chắc được đây, mình nghĩ, tuy đã có lần ông ta làm mình thất vọng. Ðó là hồi trên tạp chí Hợp Lưu ông ta la oai oái nhà thơ Lê Ðạt về một câu dịch E. Hemingway để rồi om sòm kêu “đạo đức nghề nghiệp”, không hay ông Ðạt đọc tiếng Pháp, còn ông ta đọc tiếng Anh. Ông Ðạt đã có bài mách cho ông Tuấn (Hoàng Ngọc-) biết. Ông Nguyên cũng đã viết kỹ chuyện này trong bài “Văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên” đăng Hợp Lưu, nhất là đã dẫn và chú rất kỹ các tài liệu bằng cả Anh văn, Pháp văn, Nga văn. Nhưng đọc vào bài rồi mình lại ngớ ra thất vọng khi thấy ông này cãi nhau với người chỉ có độc một ngón võ là “đạo đức nghề nghiệp”, mà ngón này cũng chỉ có độc một động tác là cho rằng đối phương “chưa đọc bài đó, sách đó”. Hoàng Ngọc-Tuấn, cũng như Hoặc Ngữ (chẳng biết hai ông này có phải “mình với ta tuy hai mà một” không?) rất thích “tăng nặng” vấn đề khi thấy ai sẩy tay viết sai một vài chữ ngoại ngữ. Trong bài của Ðỗ Nguyên có nhắc lại lời Hoặc Ngữ chê Phạm Xuân Nguyên viết sai cái đầu đề tác phẩm của Saint-Exupéry, nhưng cái câu của A. Camus về nổi loạn Ðỗ Nguyên viết sai (“Je revolte donc nous sommes” thay vì “Je me révolte, donc nous sommes”) thì không biết Hoặc Ngữ có cho là Ðỗ Nguyên chưa đọc “L’homme révolté” không đây? Hay nói như Phạm Xuân Nguyên, đó là lỗi biên tập thôi?
Lại nhớ câu chuyện Nguyễn Triệu Luật viết 64 năm về trước: “Cụ Huỳnh Thúc Kháng có một cái hành động vô cùng bạo dạn mà cũng vô cùng tự cao. Mỗi khi cần viết thư cho người Pháp, cụ cứ viết lấy, mặc kệ cả những “phốt” kếch sù ở trong. Cụ không thương con tai, cái mắt người Pháp chút nào! Cụ nói rằng: “Họ không có phép trách bị và cười tôi ở chỗ đó được. Họ muốn thi giỏi, hãy khá thi chữ Nho với tôi!”. Tôi mà là cụ thì tôi nói: “… hãy khá thi Việt văn với tôi”. Một bữa nghe đâu cụ viết một cái thư ra Tòa khâm với những “phốt” ghê lắm. Một người Pháp làm báo ở Hà Nội đem ra giễu cụ: “Ðó! Lãnh tụ An Nam đó!”. Ồ hay! thế ra theo ông, lãnh tụ An Nam phải giỏi chữ Pháp à? Một cái bướng đó, theo tôi, cụ đáng làm lãnh tụ hơn ai hết” (Tao Ðàn, số 5, 1939).
Theo một người bạn cho biết địa chỉ Website Tiền Vệ, vào xem, thì thấy đây là một trang mạng đàng hoàng. Dạo qua một hồi, nhấp chuột vào chỗ tạp chí Việt, mở số 8, và sự tò mò dắt mình chọn đọc ngay bài đầu tiên là bài của Hoàng Ngọc-Tuấn “Từ các “lý thuyết” chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài và Văn là người đến đạo đức chuyên nghiệp trong văn học“. Vẫn như bao giờ, bài ông Tuấn tỉ mỉ, chi tiết, rất nhiều chú thích, dẫn giải ngọn ngành sách vở, đọc ông ta có thể thu được nhiều kiến thức của người khác. Mình lại thử như ông Tuấn thường làm là lấy câu dịch đối chiếu với nguyên bản, đoạn trong bài Discours sur le style của Buffon mà ông ta có dẫn bản Pháp văn ở chú thích 28. Ngay vào đầu mình đã bất ngờ: “Chỉ có những tác phẩm là lưu truyền hậu thế:” (Les ouvrages bien écrits seront les seuls qui passeront à la postérité:), hai chữ “bien écrits” đã bị bỏ không dịch, mà đấy là hai chữ quan trọng nếu lưu ý đây đang nói về phong cách. Không phải tác phẩm nào cũng được lưu truyền hậu thế, mà phải là “những tác phẩm viết hay, viết giỏi” (bien écrits). Cả đoạn sau dấu hai chấm, bản dịch chính xác, gọn gàng, trơn tru lắm. Vậy hai chữ bị bỏ quên kia chắc chỉ là sơ suất, mình nghĩ vậy, chứ chẳng lẽ không lý gì mình lại nghĩ Hoàng Ngọc-Tuấn lấy bản dịch này của ai như ông ta thường hay gán ghép vậy cho người khác mỗi khi bắt thấy một lỗi sai. Lẽ ra mình có thể lấy Email của ông Tuấn trên mạng Tiền Vệ mách lại cho ông ta sơ suất ấy, nhưng bắt chước ông ta mình cũng thử bắt bẻ cái lỗi ấy của ông ta trên mạng chơi. Mà chưa chắc ông ta đã chịu đâu đấy, vì trong bài ông ta viết là “tạm dịch” thôi mà.
Nhân đà nói chuyện cái câu của Buffon, xin lại dẫn ra đây một đoạn nữa của Nguyễn Triệu Luật (vẫn trong bài đã trích trên) để giúp Hoàng Ngọc Tuấn có thêm tư liệu: “Buffon nói rằng: “Cách hành văn tức là cái riêng của mỗi người đó” (Le style, c’est l’homme même). Hồi ấy người ta thấy ông bệ vệ, rườm rà, dõng dạc, riêm rúa quá, chế nhạo ông là mặc lễ phục mà viết (en manchette de dentelles). Ðáp lại, ông nói: Ý là ý chung của thiên hạ, cách