…Nhưng đừng quên, rằng ý nghĩ bay qua bầu trời
Như người quen
Một ngày sẽ trở về với khuôn mặt mới…
I. Sự trở về của các thuật ngữ
Cuối những năm 1980, trên vô tuyến truyền hình Việt Nam xuất hiện một chương trình có tên là “Thông tin kinh tế xã hội“. Quảng cáo – đó tên thật của nó. Với vẻ rụt rè, chập chững ban đầu, bằng đủ loại uyển ngữ nhưng tuyệt nhiên không thiếu quyết liệt, quảng cáo tăng dần ảnh hưởng, mở rộng quy mô, bất chấp sự bực tức của khán giả truyền hình mỗi khi bộ phim hấp dẫn bị cắt ngang bởi đủ loaị dầu gội đầu, kẹo cao su và giấy vệ sinh phụ nữ. Thời gian thấm thoắt trôi, hôm nay tư thế của nghề quảng cáo khác xa rồi. Nó hiện diện ở khắp nơi, buộc chúng ta nhớ, buộc chúng ta chi tiêu và, từ lúc nào không ai nhớ nữa, nó chẳng cần phải mượn cái tên nào khác ngoài tên thật của mình: quảng cáo.
Những gì xảy ra ở nước ta cũng đã từng xảy ra hoặc sẽ xảy ra nơi khác. Cách đây vài chục năm, khi phe XHCN còn cường thịnh, ít nhất là bề ngoài, giữa các thành phố “phương Tây” và các thành phố “phương Ðông” có một điểm khác biệt dễ nhận thấy: một bên tràn ngập những biển quảng cáo hàng hoá, còn bên kia – những khẩu hiệu chính trị. Quảng cáo khi ấy bị coi như một thứ xấu xa, thậm chí một hiện tượng bệnh hoạn, con đẻ của chủ nghĩa tư bản. Sự khác biệt đó bây giờ không còn nữa.
Tuy nhiên, chớ lầm tưởng rằng quảng cáo lúc nào cũng được chấp nhận ở phương Tây. Ở Pháp, chẳng hạn, hồi giữa thế kỷ XX, những biển quảng cáo kiểu Mỹ lần đầu tiên xuất hiện dọc sông Seine đã bị dân chúng coi như một thứ gì đó quái gở, phản văn hoá. “Ðừng tưởng rằng với những thứ rác rưởi đó, các ngài sẽ bắt buộc được tôi mua hàng hoá của các ngài!” Người ta viết như thế với một thái độ khinh thị. Thị trưởng một số thành phố Pháp ra lệnh nghiêm cấm quảng cáo. Nhưng vô ích. Thị trường là vô địch và không ai có thể trốn thoát bàn tay vô hình của Adam Smith.
Nói chuyện thuật ngữ quảng cáo chỉ là nói một ví dụ về sức sống của những gì tự nhiên. Kinh tế thị trường cũng chỉ là một ví dụ khác. Ngày nay, trừ một vài quốc gia cuối cùng, mà theo chúng tôi cũng đang trong quá trình chuyển đổi, tuyệt đại đa số các quốc gia đều chọn kinh tế thị trường làm định hướng phát triển. Thực tế cho thấy, chưa có quốc gia nào trở nên giàu mạnh mà lại không đi theo hướng phát triển kinh tế thị trường. Rõ ràng, kinh tế thị trường là một thành tựu trí tuệ của chung nhân loại chứ không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản như có thời chúng ta lầm tưởng.
Nhân nói đến sai lầm, tôi chợt nhớ lại một cuộc trò chuyện riêng. Phóng viên tờ Thương Mại hỏi tôi, vì sao các giá trị phương Tây ngày càng lan toả, hay thậm chí là thống trị thế giới. Tôi đã trả lời rằng chúng ta chớ nhầm những giá trị phương Tây với những giá trị đến từ phương Tây, rằng những giá trị của riêng phương Tây không thể lan toả hay thống trị thế giới được, trừ phi bằng vũ lực – và như thế có nghĩa là chỉ nhất thời. Máy bay và truyền hình, dân chủ và thuyết tương đối, đó là những thứ đến từ phương Tây nhưng là những thành tựu của nhân loại. Cũng như vậy, la bàn và thuốc nổ của người Trung Quốc, số học và ngữ pháp của người Ấn Ðộ là một phần hành trang trí tuệ của con người ở bất cứ quốc gia nào. Mấy thế kỷ gần đây, phương Tây đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong cả lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần. Trong những thứ đến từ phương Tây, có rất nhiều thứ mang theo giá trị phổ quát. Chính những giá trị phổ quát ấy và chỉ có những giá trị phổ quát ấy mới có thể lan toả và được đón nhận ở mọi quốc gia.
Trở lại với những thuật ngữ. Sai lầm của chúng ta là trong một thời gian dài, vì những mục đích khác nhau, hoặc nhiều khi đơn thuần do cảm hứng của thời đại, chúng ta cố gán cho chúng những ý nghĩa không tự nhiên, lược bớt của chúng những ý nghĩa chân chính hoặc quy cho chúng những nguồn gốc giả tạo. Những từ như “cải lương”, “lý tưởng”, “tiến bộ”, “cách mạng”, “hủ hoá”… đều bị biến dạng vì những lý do như vậy. Thân phận của từ “cảnh sát”, chẳng hạn, là một trường hợp thú vị. Trước năm 1975, nó chỉ được dùng để chỉ cảnh sát của chính quyền Sài Gòn, còn cảnh sát ở miền Bắc được gọi là “công an”. Phải hàng chục năm sau khi thống nhất đất nước, từ “cảnh sát” mới dần dần trở lại. Trường hợp từ “đồng chí” còn thú vị hơn. Trong bối cảnh của chế độ xã hội lúc đó, “đồng chí” là một sáng tạo ngôn ngữ xuất sắc: người ta có thể dùng nó như một đại từ nhân xưng ngôi thứ hai tương đối trung lập, phù hợp với hầu hết các thành viên trong xã hội, trừ trẻ em và…”địch”. Từ “đồng chí” cho phép chúng ta thoát khỏi ràng buộc của những ông, bà, chú, bác, anh chị…, vì thế đã đóng vai trò tích cực trong việc xác lập tính bình đẳng, ít nhất là về mặt hình thức, giữa các công dân. Thật đáng tiếc, từ này đang dần dần mất đi. Ðó là một trong số những trường hợp ra đi đáng tiếc nhất. “Cuộc sống muốn vậy” – bạn có thể kết luận. Nhưng chúng ta phải công nhận rằng phía sau nó là một khoảng trống, rằng tiếng Việt đang cần một đại từ trung lập cho để thay thế nó trong những giao tiếp xã hội bình đẳng và không định kiến.
Bên cạnh các thuật ngữ được hồi sinh hoặc được soi rọi dưới ánh sáng mới (thực ra là ánh sáng cũ), để mang tải những nội dung mới (thực ra là nội dung cũ), như “Công ty”, “Trách nhiệm hữu hạn”, “Cổ đông”, “Tư vấn”, “Bảo hiểm”…còn có những từ bấy lâu vẫn tồn tại như những kẻ ăn nhờ và chỉ đến bây giờ mới có nội dung cuộc sống thực sự cho mình. Một ví dụ là “Chứng khoán”.
Mặc dù đã được những người anh em ngôn ngữ của mình dọn đường, “chứng khoán” vẫn không thoát khỏi thân phận bị ngờ vực. Ðối với đa số người dân, nó là một thứ gì đó xa lạ, thậm chí nguy hiểm, có thể xếp cùng nhóm với “Cờ bạc”, “Ma túy” hay nhẹ nhất cũng là “Xảo quyệt”, “Mạo hiểm”, những thứ chỉ dành riêng cho hạng tham tiền, liều lĩnh, muốn phất lên nhanh chóng mà thôi. Khi thị trường chứng khoán sắp được khai trương tại thành phố Hồ Chí Minh, một người bạn, một nhà thơ kiêm nhà báo có tên tuổi, hỏi tôi, liệu nước ta có cần, hoặc nếu cần thì liệu đã đến lúc phải có, thị trường chứng khoán hay không?
Thái độ của người dân có thể giải thích được. Trước hết, ngờ vực là hậu quả trực tiếp của sự thiếu hiểu biết. Ðứa trẻ sợ ma vì không hiểu gì về ma. Trong nghệ thuật, nhạc Jazz từng bị nguyền rủa ở châu Âu, những cách tân của Van Gogh từng rơi vào sự ghẻ lạnh… Lý do thứ hai có nguồn gốc tâm lý: hoạt động kinh doanh chứng khoán quả là đầy mạo hiểm và so với cờ bạc cũng không xa là mấy. Nhưng còn có lý do thứ ba, có lẽ là lý do quan trọng nhất, đó là định kiến. Và không chỉ có định kiến chính trị. Chính các nhà văn, các nhà điện ảnh đã vẽ nên chân dung xã hội của những nhà kinh doanh chứng khoán: tham lam, ích kỷ, liều lĩnh, thậm chí tàn ác… Những kết cục cũng thường là bi thảm: quá nhiều đổ vỡ, quá nhiều tuyệt vọng, quá nhiều vụ nhảy lầu… Xu hướng này có vẻ ngược lại với cách người ta hay dùng để mô tả những tay cướp biển.
Nhưng văn chương và cuộc sống quả là khác nhau nhiều. Cướp biển thời nào cũng tàn ác, còn thị trường chứng khoán Việt Nam, dẫu chưa lấy gì làm sôi động, vẫn vận hành, như một cỗ máy đang rà trơn để một ngày không xa có thể hỗ trợ cho dòng vốn, duy trì sức sống của nền kinh tế. Thuật ngữ chứng khoán, cũng như nhiều bạn bè của nó, cuối cùng đã an cư trong cộng đồng thuật ngữ tiếng Việt. Và hình như vẫn chưa có vụ nhảy lầu nào.
II. Sự trở về của những thể loại
Trong chiến tranh, có nhiều điểm tương đồng giữa thân phận con người với thân phận của những thể loại văn học. Chiến tranh đẩy những người dân bình thường ra khỏi xóm làng, xưởng máy, ra khỏi gia đình và thậm chí ra khỏi những thói quen của họ. Khi chiến tranh chấm dứt, với những kinh nghiệm chiến tranh và ký ức về quá khứ, họ trở về thì tất cả đã đổi thay. Họ trở thành những kẻ bên lề, hay đúng hơn là những kẻ bị “lưu đày trên đất mẹ”, nói theo nhà thơ nữ Phan Huyền Thư.
Tương tự như thế, chiến tranh áp đặt lên nghệ thuật, trong đó có văn học, những quy luật khắc nghiệt của nó. Chiến tranh đặt người lính vào vị trí trung tâm và đặt mục tiêu chiến thắng lên cao nhất. Văn học nghệ thuật cũng được coi là một thứ vũ khí, vũ khí tinh thần. Dễ hiểu rằng trong bối cảnh như thế, có những thể loại và đề tài được đề cao, trong khi những thể loại và đề tài khác bị quên lãng, bị bỏ rơi, hay thậm chí bị coi rẻ và cấm đoán.
Những điều này có thể thấy rất rõ trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, nơi hai cuộc chiến tranh tàn khốc và sự chia cắt đất nước cùng những thảm kịch của nó khiến cho nhiều thể loại và đề tài văn học như trinh thám, ma quái, nhục cảm hay tôn giáo…, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam – dĩ nhiên với mức độ khác nhau – trở thành lạc lõng, hay ít nhất là thứ yếu. Một nền văn học như thế có thể gọi là một nền văn học chiến tranh.
Nhưng chiến tranh cuối cùng cũng chấm dứt. Và cho dù những vết thương chiến tranh vẫn còn hiện diện ở khắp nơi, cuộc sống nói chung và văn học nói riêng cũng dần dần trở lại bình thường. Các thể loại và đề tài từng bị coi rẻ trước kia lần lượt từ chốn lưu đày trở lại. Một ví dụ rất trực quan là văn học kỳ ảo. Chỉ trong vài năm trời, rất nhiều tuyển tập truyện ma, truyện kinh dị, truyện quái dị… liên tiếp ra đời trong khi các kiệt tác như Liêu trai chí dị hay Dracula được tái bản với số lượng lớn. Bản thân người viết bài này cũng đóng góp vào đó tập Ðêm bướm ma, một hợp tuyển truyện ma Việt Nam được tái bản khá nhanh và bộ Truyện kỳ ảo thế giới 6 tập. Riêng Thái Bá Tân cho xuất bản hẳn một tập truyện ma dày 500 trang và tuyên bố sang năm sẽ in tiếp một tập nữa cũng chừng ấy trang cho đủ 1000! Có thể nói, sau Thế Lữ, anh là tác giả đầu tiên của văn học đương đại dốc sức thâm canh trên mảnh đất ít người nhiều ma này.
Nhưng văn học kỳ ảo là một thể loại may mắn, cho dù không phải không gặp những phản ứng quyết liệt, như những gì diễn ra với bộ sách của Những chuyện kỳ bí của Stine do nhà Kim Ðồng xuất bản. Với nhiều thể loại hoặc đề tài khác, sự trở về hết sức nhọc nhằn. Cuộc sống đã khác đi và cả người đọc lẫn nhà văn đều không còn như cũ. Phần đông độc giả không thoát được những định kiến và thói quen của quá khứ. Họ phản đối một cách quyết liệt, và coi đó là sự “xuống cấp”, sự “thoái hoá” của văn học. Trong khi đó, một số khác lại có thái độ thái quá theo chiều hướng ngược lại. Họ coi sự trở về nói trên là sự trở về với văn học đích thực, còn toàn bộ văn học thời chiến tranh là “tuyên truyền”, giả dối, “phi nhân tính” và không có giá trị. Thơ nhục cảm chẳng hạn, từ hàng chục năm nay luôn là vấn đề nóng bỏng. Tất nhiên nồng độ đã tăng đáng kể, không rõ đó là kết quả của sự từng trải hay do tác động của những tụ điểm vui chơi giải trí thời kinh tế thị truờng. Hồi đầu Ðổi Mới, chỉ cần câu cô gái trách bạn trai không cài cúc áo cho cho mình sau phút giây “êm đềm” trên ghế đá trong thơ Dư Thị Hoàn đã đủ làm nóng văn đàn, bây giờ lũ ngựa tơ của Phan Huyền Thư hay con mèo động đực của Vi Thuỳ Linh có làm một số người khó chịu nhưng hình như cũng chấp nhận được.
Trong văn học Việt Nam thời hậu chiến, chúng ta nhận thấy tình trạng hết sức phức tạp, gần như là hỗn loạn. Rất nhiều tiểu thuyết đại chúng được ca ngợi như những kiệt tác trong khi tác phẩm của James Joyce, Borges… hầu như vẫn còn vô danh và những bóng ma từ đầu và giữa thế kỷ XX như Chủ nghĩa siêu thực, Tiểu thuyết mới… được chào đón như những thứ tân kỳ. Trong văn học đương đại Việt Nam hiện nay đầy rẫy những điển tích tôn giáo (hãy đọc các tên sách: Biển cứu rỗi, Cơ hội của chúa, Chuông vọng cuối chiều, Cõi nhân gian, Dây neo trần gian, Hậu thiên đường, Cõi người rung chuông tận thế, …), những đoạn trích dẫn rất đáng ngờ và tên tuổi của các học giả và trường phái nước ngoài. Dĩ nhiên cũng không thể quên tình dục. Những hiện tượng này phần nhiều là giả tạo, học đòi và trong một số trường hợp là cách để tác giả thu hút sự quan tâm của công chúng. Tuy nhiên, theo tôi, đó là điều không tránh khỏi và thậm chí rất đáng mừng. Ðó là dấu hiệu cho thấy rằng sau một thời gian chiến tranh và mâu thuẫn quá dài, cùng với người dân trên cả hai miền đất nước, văn học Việt Nam đang học cách vượt qua các thói quen và định kiến để trở thành một nền văn học dân sự.
III. Sự trở về của cá tính tác giả
Trong một cuộc nói chuyện, nhà văn Tô Hoài nói với tôi, đại ý rằng ngày trước chỉ cần đọc vài trang là người ta đã có thể phân biệt được Nam Cao với Nguyên Hồng, Xuân Diệu với Huy Cận, Nhất Linh với Nguyễn Công Hoan, còn thời chống Pháp và chống Mỹ, ông chịu không thể biết các nhà văn khác nhau ở chỗ nào.
Dĩ nhiên, đó chỉ là câu nói lúc thân mật, chỉ là một nhận xét định tính hơn là định lượng, và dĩ nhiên là văn học kháng chiến không phải hoàn toàn không có những tác giả độc đáo. Nhưng không thể phủ nhận một thực tế là đa số các tác giả của giai đoạn ấy khá giống nhau, không chỉ về chủ đề, ngôn ngữ, giọng điệu, cấu trúc tác phẩm… mà cả về cảm xúc và cách xử lý cảm xúc. Hồi chiến tranh, cốt truyện phổ biến nhất như sau: cô du kích nọ yêu một anh giải phóng, trong khi cô lại bị một tay sĩ quan Sài Gòn tàn ác nhưng cũng có học và si tình theo đuổi. Cốt chuyện éo le ở chỗ cô gái bị bắt, bị đe doạ nhưng quyết không khai. Cuối cùng, thường là cô gái chết hoặc khi cô trốn được ra bưng biền thì anh chiến sĩ giải phóng đã hy sinh. Những bi kịch kiểu này cũng thường gặp trong thơ, tôi chỉ xin đưa ra vài ví dụ là Núi Ðôi của Vũ Cao, Quê hương của Giang Nam hay Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn.
Sau 1975, trong khi nhạc vàng lan tràn ỉ eo khắp chợ cùng quê thì văn học cũng kịp đưa ra một mô típ mới. Bây giờ anh lính Sài Gòn hoá ra cũng là người tốt nhưng bị số phận đưa đẩy; còn anh lính giải phóng tội nghiệp trở về thì vợ hoặc người yêu đã phụ bạc vì “hoàn cảnh” – cái hoàn cảnh ác nghiệt trong trường hợp này mới tiện lợi làm sao! Và anh lính – từ “lính” bây giờ cũng có vẻ hợp thời hơn là từ “người chiến sĩ” hay “anh bộ đội” – trở về sẽ phải lãnh một nhiệm vụ cao thượng nữa là che chở cho cô vợ goá cùng đứa con mồ côi của đồng đội đã hy sinh…
Các bạn có thể cho rằng tôi võ đoán. Nhưng ít nhất, đó là cảm giác thật của tôi với tư cách một người đọc. Tôi có thể đưa ra những ví dụ về ngôn ngữ, cấu trúc… Nhưng điều đó không thật cần thiết, và không phải là mục đích của tôi. Mục đích của tôi cũng tuyệt nhiên không phải là chứng minh rằng các nhà văn chống Pháp hay chống Mỹ là không độc đáo. Ngược lại là đằng khác. Theo tôi, cái độc đáo nhất của thế hệ này chính là ở tính tập thể. Chúng ta sẽ thất bại nếu cố gắng tìm trong thế hệ ấy thật nhiều nhà văn với phong cách cá nhân riêng biệt, điều rất dễ làm với hầu hết các giai đoạn văn học khác, nhưng chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng toàn bộ thế hệ những nhà văn ít cá tính ấy lại làm nên một bản đồng ca hùng tráng. Trong thế hệ này, rất nhiều người đã từng hay vẫn đang mặc áo lính. Nhưng nếu không là người lính thực thụ thì họ cũng rất giống những người lính: trong đội ngũ họ bước thành hàng và vẻ đẹp của họ, vẻ đẹp đồng đội hoành tráng của họ, chẳng hề thua kém bất kỳ vẻ đẹp lộng lẫy và xa xỉ nào. Cái độc đáo của họ là ở đấy, sự vĩ đại của họ là ở đấy. Trong lịch sử của bất cứ dân tộc nào, những giai đoạn như thế đều không nhiều.
Thật ra, không phải họ, các nhà văn, mà chính là lịch sử đã muốn phải điều đó. Như trên đã nói, chiến tranh là giai đoạn đặc biệt của lịch sử. Chiến tranh không chỉ đòi hỏi nhà văn phải quên đi những thể tài nhất định, mà còn đòi hỏi họ quên chính bản thân mình. Ðây chính là một điểm cần thái độ khách quan và cao thượng. Tôi từng nghe rất nhiều người phê phán văn học kháng chiến là tuyên truyền, là phục vụ chính trị. Nhưng văn học nào mà không tuyên truyền cho một lý tưởng nào đó, không phục vụ một mục đích chính trị nào đó, nếu hiểu chính trị theo nghĩa khái quát và cao thượng của nó? Tôi nhớ có lần đã ngồi trò chuyện với Phạm Duy trong suốt một ngày ở Paris. Tôi gặp ông khi ông tổ chức giới thiệu Anthology của mình tại nhà riêng nhà phê bình Thuỵ Khuê. Chị Thuỵ Khuê giới thiệu tôi. Ông bắt tay, hỏi han đôi điều, tôi cũng lễ độ đáp lại. Có thể sự thành thật và có vẻ trái khoáy của tôi khi động chạm đến đề tài âm nhạc, cái ông ít được nghe từ những người hâm mộ cả thật lẫn giả, đã khiến ông chú ý. Sáu giờ sáng hôm sau, nghĩa là rất sớm theo thời gian biểu của dân Paris, tôi bị đánh thức bởi một cú điện thoại. Ðó là Phạm Duy. “Xin lỗi, ông nói, tôi sợ anh ra khỏi nhà. Tôi chỉ ở Paris đến sáng mai”. Ông bảo rằng ông thấy các ý kiến của tôi rất thú vị, rằng nếu có thể thì đến chơi với ông, nhớ đem theo cây đàn ghi ta và ông muốn ghi âm lại buổi nói chuyện. Trong suốt ngày hôm đó, ông hỏi tôi về âm nhạc miền Bắc thời chống Mỹ. Tôi trả lời bằng cách hát cho ông nghe rất nhiều bài hát mà tôi cho là tiêu biểu của hai thập kỷ 1960-1970, từ những bài hát sôi sục lên đường đến những bài hát trẻ em, những bài hát tôi đã hát khi đội mũ rơm đến trường hoặc trong hầm trú ẩn mà bây giờ hát lại tôi vẫn không cầm được nước mắt. Cứ nghe xong một bài là Phạm Duy lại reo lên: “Không phải tuyên truyền! Không phải tuyên truyền!”. Ông nói thêm, và tôi không thể không đồng ý với ông, rằng khi lý tưởng đã trở thành tình cảm chân thực của người nghệ sĩ, khi chính trị là cái mà con tim khối óc buộc anh ta phải cất lời, thì đó chính là lúc nghệ thuật đích thực bắt đầu. Quả thực, nền ca nhạc chống Mỹ không có nhiều nhạc sĩ lớn, nhưng lại có rất nhiều tác phẩm xuất sắc, thậm chí những kiệt tác của rất nhiều người, trong đó có cả những tác giả nghiệp dư. Chính những kiệt tác của những tác giả ít nhiều “nghiệp dư” ấy đã khiến cho thời chống Mỹ trở thành kỷ nguyên vàng của nền tân nhạc Việt Nam.
Rõ ràng, chúng ta không nên dùng thước đo hôm nay để đo quá khứ. Nhưng chúng ta lại càng không thể dùng thước đo quá khứ để đo ngày hôm nay. Một người anh hùng trong chiến đấu chưa chắc đã là người anh hùng trong lao động. Chiến tranh có những quy luật khắc nghiệt, nhưng hoà bình cũng có những quy luật khắc nghiệt khác. Nếu trong chiến tranh, sự thống nhất ý chí đóng vai trò quan trọng nhất thì trong thời bình tính đa dạng lên ngôi. Ða dạng, đó không chỉ là sự tôn trọng cá nhân mà còn là sự mở rộng không gian sáng tạo, là sự dân chủ của đời sống tinh thần. Hơn thế nữa, đa dạng chính là bản chất tự nhiên của cuộc sống. Trong thời bình, nhà văn chỉ có thể thực sự là nhà văn nếu không lẫn vào đám đông, hay nói như Trần Ðăng Khoa, “nếu bớt anh đi thì nền văn học bớt đi một hạt bụi”. Dễ hiểu, vì sao các tác giả trẻ gần đây vật lộn dữ dội đến vậy để có thể (được) là mình. Hãy đọc họ, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Vĩnh Tiến, Phan Huyền Thư, Trần Tiến Dũng, Mai Văn Phấn, Văn Cầm Hải, Ly Hoàng Ly, Dạ Thảo Phương…và nhiều nữa. Tôi không kể hết. Tôi không thể nào kể hết. Trong một bài báo khác tôi đã nói rằng thái độ dấn thân và trung thực của nhiều người trong số họ khiến tôi kính trọng.
Bởi điều đó không dễ. Làm nghệ sĩ không bao giờ dễ. Cá tính sáng tạo không phải là thứ cứ muốn là được, nhất là khi người nghệ sĩ được giáo dục để mặc những bộ đồng phục tinh thần, viết và in dưới những cái bóng sum sê đồng dạng và được thẩm định bởi những đàn anh đàn chú đã quá quen với các cuộc duyệt binh. Rất nhiều người thất bại nhưng không phải không có thành công. Những người thành công sẽ trở thành những gương mặt mới cho văn chương Việt Nam, còn những người thất bại cũng không phải là uổng phí. Nếu những nhà văn chiến tranh đã cùng nhau viết nên bản Iliade hùng tráng thì họ cũng sát cánh bên nhau viết bản Odyssée của sự trở về.
Ðó là một sự trở về nhọc nhằn, nhưng cuộc sống là kẻ duy nhất có thẩm quyền và khả năng lựa chọn và tôn vinh những giá trị đích thực. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng một nền văn học thực sự Việt Nam cũng sẽ ngày càng gần gũi hơn với văn học thế giới.
© 2003 talawas