Nguyễn Hoàng Văn
Xem Chuyện Thu Cúc – của Trương Nghệ Mưu, phim hay nhất tại Đại hội điện ảnh Venice 1992 – tôi nhớ mãi một cảnh, tuy vặt, nhưng ngụ ý rất nhiều. Cô gái quê ít học Thu Cúc lên tỉnh ăn thua đủ với gã trưởng thôn đã đá chồng mình sưng dái, và, bên cái bàn nhỏ kê bên vỉa hè trước cửa cơ quan khiếu tố, lão già viết đơn mướn giương đôi mắt bèm nhèm sau hai gọng kính lên hỏi, đại loại: Kiện cáo thế nào đây?Muốn kiện tử hình hay kiện chung thân? Muốn kiện 10 năm hay kiện 5 năm? [1]
Như thế, có nghĩa là, muốn kiện cỡ nào lão ta sẽ chơi theo cỡ đó. Muốn tử hình, lão sẽ văn vẻ tử hình. Muốn chung thân, lão ta sẽ văn vẻ chung thân. Cứ như thế: năm năm, mười năm, mười lăm năm, hết thảy lão ta đều văn vẻ được tất cho dù trước sau cũng chỉ là cùng một câu chuyện, cũng chỉ là một bên thuận đà phóng ra một cước và một bên đùm bọc sưng vù thế thôi. Người và việc không đổi, chỉ có cách diễn tả thay đổi. Vấn đề không đổi, chỉ có cách ứng xử qua từng câu văn lời nói thay đổi.
Ngôn ngữ, như vậy, đã thể hiện những tính năng chính trị. Thì cũng là diễn tả, nhưng diễn tả theo một chủ kiến định sẵn. Thì cũng là truyền đạt, nhưng truyền đạt để hướng người nghe hay đọc vào một cái bẫy khiến họ không thể nào nhận thức và suy diễn vấn đề như thực là nó.
Nói theo George Orwell trong tiểu luận Politics and the English Language, thì đấy là nói hay viết để “biến điều láo khoét toả ra ánh sáng của sự thật”, “biến kẻ sát nhân thành một con người khả kính” và để “diễn tả một khối đặc như thể là làn gió”. Theo sự suy tàn của văn minh thì ngôn ngữ, như một “phương tiện để bày tỏ chứ không phải để che đậy và giấu diếm”, đã thoái hoá; và trong sự thoái hoá này thì tiếng Anh đã càng ngày càng bị ô nhiễm bởi những bài diễn văn chính trị rỗng tuếch, lắp ráp từ những sáo ngữ nhàm tai và những hình tượng cũ mèm trông “chẳng khác nào sự lắp ráp của những cái chuồng gà tiền chế” [2] .
Tác giả của Animal Farm và Nineteen Eighty-Four – tác phẩm với hình tượng Đồng chí Big Brother biết-hết-thấy-hết và kiểm-soát-bằng-hết từng được một show truyền hình rẻ tiền tại Anh rồi tại Úc mượn lấy làm tên – viết Politics and the English Language vào năm 1946 thế nhưng, cho đến hôm nay, những ý tưởng ấy vẫn chưa hề cũ. Nó chưa cũ là bởi, sau hơn nửa thế kỷ, ngôn ngữ vẫn tiếp tục bị ô nhiễm bởi những bài diễn văn chuồng gà tương tự, thứ diễn văn ráp nối từ những hình tượng cũ rích, sáo rỗng và chán phèo [3] .
Cứ nhớ những âm sắc của Orwell trong cái lưỡi của mấy nhà bình luận Mỹ quanh bài diễn văn New commitment to strong families and strong values của ứng cử viên Al Gore chỉ mới hai năm trước đây thôi [4] . Nghe Gore, họ cứ thắc mắc là mớ từ ngữ rổn rảng nhưng cũ mèm đó chất chứa được cái gì và liệu công chúng sẽ hiểu được đích xác điều gì? Và, cứ nghe Don Watson, người chuyên viết diễn văn cho nguyên Thủ tướng Paul Keating của Úc với ám ảnh Orwell đã thổ lộ trong thiên hồi ký Recollection of a Bleeding Heart mới xuất bản gần đây: phải tỉnh táo, tỉnh táo và tỉnh táo. Tỉnh táo để sàng lọc và tẩy xoá những commitment, enhancement, access hay equity…, những từ ngữ kêu như là chuông, bất cứ lúc nào cũng có thể tuôn ra theo thói quen nhưng hiếm khi chuyển tải được một tý ty thực nghĩa.
Thực thế. Lạn Tương Như, Tư Mã Tương Như, danh tương như thực bất tương như: nếu hai cái tên và hai cái thực đã khác nhau một trời một vực thì giữa một cái tên để đặt và một cái thực để đặt tên sự thể còn khác nhau đến là bao nhiêu? Chúng ta có ngồi là ngồi trên cái ghế chứ không ngồi trên danh-từ-ghế. Chúng ta có uống, là uống một thứ thức uống nào đó, như Coca Cola hay như nước chẳng hạn chứ không thể uống danh-từ-Coca-Cola hay danh-từ-nước. Tuy nhiên, với những nhu cầu và với tính năng chính trị, người ta sẽ có cách để múc danh-từ-nước ra mời uống và bày danh-từ-ghế ra mời ngồi.
Năm đó, 1946, là một năm xơ xác tiêu điều của Âu Châu. Một Âu Châu vừa quằn quại với những vết thương chiến tranh hãy còn rỉ máu lại vừa phập phồng lo sợ trước một hiểm hoạ xung đột mới đang manh nha hình thành từ hướng đông. Quá khứ thì đầy những bóng ma phát xít mà tương lai thì lảng vảng những bóng ma phấp phới búa liềm, hai hình thái khác nhau của chủ nghĩa toàn trị totalitarianism. Mà hình thái toàn trị nào cũng thế, toàn trị kiểu Big Brother Hitler hay toàn trị kiểu Big Brother Stalin: để có thể biết-hết-thấy-hết và kiểm-soát-bằng-hết thì những đồng chí Big Brother phải kiểm soát và tác động đến từng con mắt, cái miệng và cái lỗ tai của công chúng. Họ không được nhìn khác điều mà Big Brother muốn họ nhìn. Họ không được nghe khác với điều mà Big Brother muốn họ nghe. Họ cũng không được nói khác điều mà Big Brother muốn họ phải nói. Và như thế, bên cạnh bộ máy công an mật vụ, tính năng chính trị của ngôn ngữ lại được khai thác đến mức tối đa, có đường lối chính sách, có lớp lang thứ tự hẳn hoi, qua một bộ máy tuyên truyền đồ sộ.
Bản chất của trò tuyên truyền là sự mỵ dân và ngôn ngữ tuyên truyền là một thứ ngôn ngữ mỵ dân. Mỵ dân, ngôn ngữ trở nên thoái hoá và ô nhiễm với những chữ nghĩa lổn rổn kêu vang, với những danh-từ-nước tưởng là uống được và danh-từ-ghế tưởng là ngồi được. Đến để ăn cướp và đầu độc, và đầu độc thực tệ, bằng cả thuốc phiện, thì gọi là “khai hoá”. Dẹp bỏ nền độc tài này để thay thế bằng một nền độc tài khác thì gọi là “cách mạng”, thậm chí là “giải phóng”. Thiết lập một nền độc tài sắt thép ở đó bạo lực trở thành một phương tiện chính thống thì gọi là “nền chuyên chính” còn đày đoạ con người vào những điều kiện tồi tệ nhất về thể xác lẫn tinh thần thì là “cải tạo”. Vân vân và vân vân: từ những ông chủ thực dân cho đến những đồng chí Big Brother toàn trị, ai cũng cố tạo cho mình những huyền thoại cao cả và trong cái trò này thì tính năng chính trị của ngôn ngữ đã trở thành một công cụ đắc lực.
Nhưng phải công nhận rằng chỉ có những đồng chí-Big-Brother toàn trị mới vươn đến bậc thầy, vươn tới mức độ toàn diện trong cái trò này. Có thể, để chống lại đồng chí Big Brother người ta sẽ ăn cắp và sao nhái giọng điệu của chính Big Brother, tuy nhiên, cho dù cố gắng bao nhiêu đi chăng nữa thì cái trò mô phỏng đó cũng nhếch nhác và vụng về như một trò hề giễu dở chứ khó mà vươn đến được trình độ thiện nghệ lớp lang của bậc sư phụ biết-hết-thấy-hết và kiểm-soát-bằng-hết.
Thì cũng dễ hiểu thôi. Đã thề không đội trời chung, đã tuyên bố chống lại đồng chí Big Brother tới hơi thở cuối cùng thì làm sao có thể an nhiên tự tại khi buộc lòng phải sao nhái bộ điệu và phong cách lập ngôn của chính Big Brother? Bởi thế, cái trò sao chép ấy chỉ có thể diễn ra một cách lập cập, lấn cấn, vừa hành sự vừa nhấp nhỏm dòm quanh để thăm dò phản ứng, trông chẳng khác nào những tên ăn vụng sợ bị bắt quả tang. Nhưng gì thì gì, mỵ dân lành nghề hay mỵ dân nhếch nhác tồi vụng, cỡ nào cũng làm cho ngôn ngữ ô nhiễm và thoái hoá cả.
Chúng ta đã nhắc đến tình trạng xơ xác của Âu Châu hơn nửa thế kỷ trước với bóng dáng của những Big Brother toàn trị. Và chính chúng ta, từ đó đến nay – sau những năm tháng dài xáo trộn đầy máu lửa với bóng dáng hắc ám của mấy đồng chí Big Brother nội hoá, những năm tháng đầy những trò lừa lọc chính trị và sự phí phạm niềm tin – cũng đang chìm đắm trong một thời kỳ xơ xác. Đặc điểm của thời đại xơ xác nào cũng là sự lộn sòng, sự đánh mất những giá trị định chuẩn và do đó, càng đánh mất phương hướng, càng lạc loài niềm tin.
Càng lạc loài niềm tin thì sẽ càng khổ công hơn với cái sự lên dây cót tinh thần và kết quả là càng ngày chúng ta càng đại ngôn. Đại ngôn, chúng ta nói quá sự thật và xài quá nghĩa của ngôn từ là một. Đại ngôn để đốp chát với đồng chí Big Brother chúng ta còn thập thò thập thỏm ăn cắp hay sao nhái kiểu cách lập ngôn của họ, là hai. Và trong cái sự ô nhiễm của ngôn ngữ này, chúng ta càng thấm nhiễm cái tật nghĩ bậy, nói bậy và viết bậy, là ba. Và như thế, từ chỗ đại ngôn chúng ta đi dần đến chỗ loạn ngôn.
Đại ngôn và loạn ngôn, chúng ta chỉ nói hay viết sao cho đã miệng và sướng tai, nói và viết sao cho thật ghê thật gớm, chỉ nói và viết theo thói quen, theo những suy nghĩ cảm tính kiểu phổi bò chứ hiếm khi chú ý đến thực nghĩa, hiếm khi nhìn xa hơn những nét mực hằn trên trang giấy của mình hay nghe xa hơn những gì đã lọt vào lỗ tai mình. Kết quả là tiêu chí của ngôn ngữ càng ngày càng tuột dốc và do đó khả năng suy tưởng hay nhận thức của chúng ta cũng tuột dốc theo.
Nói như Orwell thì tình trạng thoái hoá đó cũng chẳng khác gì tình trạng nghiện ngập của những kẻ bất đắc chí: có nghĩ rằng mình thất bại họ mới tìm rượu giải sầu, và càng giải sầu bằng hơi men bao nhiêu, họ càng tuột dốc trong sự thất bại bấy nhiêu. Có viết dở hay viết sai, chúng ta viết dở và sai vì đầu óc mình tối tăm. Nhưng khi cái sự sai dở kia càng phổ biến để rồi ngôn ngữ, như một phương tiện để tư duy và diễn đạt, càng trở nên loạn xạ và vô nguyên tắc, chúng ta càng dễ dàng chìm sâu trong những ý tưởng tối tăm ấy hơn nữa.
Và như thế cái văn hoá đại/loạn ngôn của chúng ta càng ngày càng bị lạm phát, lạm phát thực trầm trọng. Giọng điệu càng oai ra và hách lên. Ngôn từ thì cứng như là sắt và kêu lên cứ như là đồng. Kêu như “thế tất thắng”, chẳng hạn. Kêu như “thế chính nghĩa”, chẳng hạn. Rồi hách ra với nào là “thế ngoại vận”, nào là “khủng hoảng toàn diện”, nào là “giải tán ngay lập tức” cái hình thái toàn trị của đồng chí Big Brother toàn trị vân vân và vân vân. Những từ ngữ lổn rổn ấy được ráp nối với nhau để trở thành vô khối những diễn văn, những “tuyên ngôn”, “tuyên cáo”, “xã luận”, “thời đàm” hay “thời luận” rải rác đó đây. Cứ theo những tràng ngôn ngữ hùng hổ loại này thì chắc chỉ ngày một ngày hai nữa thôi là cái hình thái toàn trị của đồng chí Big Brother nội hoá kia sẽ tan tành đổ nát, và rồi, khúc khải hoàn sẽ rộn ràng đâu đó ở Hà Nội hay ở Sài Gòn. Chỉ ngày một ngày hai nữa thôi.
Thì ngày một, ngày hai. Tuy nhiên đấy cũng chẳng khác gì cái ngày một ngày hai trong tấm bảng quảng cáo lừa phỉnh “Ngày mai ăn miễn phí” trong một chuyện cười nào đó. “Tất thắng”, nhưng bao giờ mới thắng? “Khủng hoảng toàn diện”, nhưng bao giờ mới tiêu tùng sập tiệm, một trăm phần trăm? Hẳn nhiên là không ai có thể trả lời đâu vào đó, và như thế, chắc chắn, đấy chỉ là những tràng đạn chữ bắn cho sướng cái miệng và cho đã cái lỗ tai, là bày danh-từ-ghế ra để chễm chệ vắt chân chữ ngũ ngồi và bày danh-từ-thắng ra để tưởng rằng mình đang đi trong hàng quân giữa lúc không gian rền vang ca khúc khải hoàn thế thôi.
Mà nếu đấy là thực thì, có lẽ, sự thể còn tệ hại hơn nhiều. Cứ nghĩ: nếu đã “khủng hoảng toàn diện”, đã sắp sập tới nơi thế mà những nhà “tất thắng” đang nắm trong tay cả “thế chính nghĩa” lẫn “thế ngoại vận” cứ hết năm này đến năm khác lúng ta lúng túng trong tư thế trường kỳ đả đảo, chưa bao giờ nắm bắt lấy cơ hội của mình, dù chỉ thắng một lần cho vui, thắng để gây khí thế, để nở mặt nở mày. Thế thì họ là cái gì? Có phải là quá kém hay không?
Đại ngôn đã đành, chúng ta còn sao nhái một cách nhếch nhác, vụng về và nông cạn, nói mà dường như không thực hiểu mình nói cái gì. Như cái chữ “quốc kháng”, trong “tinh thần quốc kháng” hay “ngày quốc kháng”, chẳng hạn. Có lẽ cái thuật ngữ kỳ dị này cũng có dây mơ rễ má gì đó với cụm từ “toàn quốc kháng chiến” của mấy đồng chí Big Brother nội hoá, dây mơ rễ má theo một kiểu sao nhái thập thò thập thỏm, sao nhái nhưng sợ người ta nghĩ là mình cóp nhặt nên nhấp nhổm rứt chữ và xáo chữ. “Toàn quốc kháng chiến” là cả nước chiến đấu chấm xâm lăng nhưng còn “quốc kháng”? Có phải là “kháng” theo kiểu “điện kháng” hay “điện trở”, cái kiểu độ “kháng” cao bao nhiêu thì điện hao hụt bấy nhiêu hay chăng? Và như thế, nếu “tinh thần quốc kháng” càng cao thì tiền đồ quốc gia càng bị ngăn trở bấy nhiêu chắc? Thật là lờ mờ khó hiểu quá!
Càng đại ngôn, càng loạn ngôn và càng loay hoay sao nhái cách lập ngôn của đồng chí Big Brother trong trò chính trị ngôn ngữ, chúng ta càng nhiễm thói quen cẩu thả và thiếu suy nghĩ trong những ý niệm chính trị, mà những thí dụ loại này thì không hề thiếu.
Ngay cả một ý niệm lớn lao như “mất nước” – dùng cho cho sự kiện diễn ra vào ngày cuối tháng tư năm 1975 – mà chúng ta kêu ca đã hơn hai thập niên nay cũng thế. Có thực đấy là “mất nước” hay không, vấn đề cũng có cái gì đó rất là lấn cấn. Chúng ta có thể gọi kiểu gì cũng được, gọi là “mất chính quyền”, gọi là “mất lãnh thổ”, “mất tự do”, “mất quyền sống” v.v… nhưng, trên một phối cảnh lớn và trên một tầm mắt xa rộng, thì thực là khó để mà bảo rằng đấy là “mất nước”.
Thì cứ lý luận là nước đã lọt vào tay mấy đồng chí Big Brother nội hoá, những kẻ đã bội phản dân tộc để đội mấy ông Nga ông Đức nào đó đặt lên bàn thờ tổ tiên; tuy nhiên, giả như lời tiên đoán của ông Huntington trong cuốn sánh viết về xung đột văn minh là đúng, là năm 2010 Trung cộng sẽ xua quân đánh chiếm Hà Nội và chiếm một phần lớn lãnh thổ Việt Nam, lúc đó chúng ta sẽ gọi là mất gì [5] ?
Mất nước hay chăng? Nhưng, thử hỏi, nước đâu mà… lắm thế: đã mất nước từ dạo tháng Tư năm ấy rồi thì bây giờ còn kêu ca mất mát cái nỗi gì? còn đâu để mà mất tiếp đây nào? Trước thì ông tổ Nga tổ Đức, nay thì thay thế ông tổ Tàu vậy thôi, có gì mà ầm ĩ lên vậy? “Mất nước”, như thế, là một ý niệm không ổn.
Ý niệm không ổn này lại khai sinh một ý niệm chính trị không ổn khác, cũng gắn liền với ngày cuối tháng Tư: “quốc hận”. “Quốc”, được hiểu như là “quốc gia”, và như thế, về mặt lãnh thổ, phải ôm trọn dải đất hình cong chữ S; về mặt nhân chủng, phải bao gồm một khối trên bảy lăm triệu con người đủ mọi sắc tộc Kinh hay Thượng sống rải rác từ tận Nam Quan cho đến Cà Mau. Nếu bảo đấy, ngày cuối tháng Tư, là ngày “quốc hận” thì đã vứt hết nửa kia — một nửa của hình cong chữ S, có đất có người cùng với những thống khổ mà họ đã chịu đựng hằng bao nhiêu năm rồi – đi đâu? Mà nếu đã khẳng định rằng niềm “quốc hận” của mình chỉ gắn liền một nửa dài đất kể từ vĩ tuyến 17 trở vào thì tại sao phải làm ầm ĩ cả lên khi nghe tin phần đất ở Nam Quan bị sây sớt ra ngoài? Và, cứ theo trí tưởng tượng của ông Hungtinton, thì vào cái năm thực sự mất nước đó chúng ta biết gọi nỗi lòng của mình là gì đây nào? Thêm vào chữ “siêu” chữ “đại” hay chăng?
Trong Những phác thảo về Sevastopol – tập truyện ngắn viết về cuộc chiến bên bờ Hắc Hải – Leo Tolstoy cho rằng với người lính nào cũng vậy, cái trận chiến ở đó anh ta bị thương lần đầu sẽ là trận chiến đẫm máu và kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại.
Chúng ta, dường như, cũng thế: trước những mất mát đau thương hay những kinh nghiệm choáng người, chúng ta thường có khuynh hướng đồng hoá phối cảnh riêng của mình thành phối cảnh lớn chứ hiếm khi thực sự đặt vấn đề trong một tầm nhìn xa rộng. Và, để làm được như thế, để biến cái bé thành cái lớn, biến cái chung thành cái riêng, biến tập thể nhỏ thành tập thể lớn, chúng ta lại vận dụng ngôn từ một cách thực kêu, thực quá tải: kêu và tải quá cái cần được diễn tả.
Hiện tượng vận dụng hay lắp ráp ngôn từ quá tải và loạn xạ đó đã phổ biến, đã tràn lan một cách thực đáng ngại; chẳng hạn như hình tượng “người tù kiệt xuất” được ca tụng ầm ĩ trên các phương tiện truyền thông suốt một thời gian dài. Một hình tượng không ổn như thế mà vẫn được chúng ta chấp nhận một cách tự nhiên, chẳng hề thắc mắc thì quả là chuyện lạ. Thì, ai cũng hiểu, “kiệt xuất” là xuất chúng, là vượt trội lên trên nhưng nếu đem “người tù” để ráp nối với “kiệt xuất” thì, rõ ràng, đấy là một sự lắp ráp khập khiễng, một sự ghép chữ tầm bậy [6] .
Thực vậy. Chúng ta có thể gọi nhân vật này hay nhân vật kia – những con người can trường trong ngục tù của bạo quyền – là những “chiến sĩ kiệt xuất” của tự do, của nhân quyền, nhân phẩm hay lương tâm gì gì đó cũng được nhưng chớ nên gọi họ là “người tù kiệt xuất” trừ phi muốn gọi để mỉa mai, xiên xỏ. Đơn giản là vì, để được ghi nhận là “kiệt xuất”, một người phải vượt lên những tiêu chí nào đó, thành văn hay bất thành văn, của hệ thống mà mình thuộc về. Nếu trại tù có những tiêu chí kỷ luật khe khắt mà những người bị cầm giữ bên trong phải tuân phục thì có phải “người tù kiệt xuất” là kẻ đã tuân phục những ràng buộc ấy một cách xuất sắc, vượt quá kỳ vọng của những viên cai tù hay không? Nếu đấy là một nhân vật ngoại hạng, đã dũng cảm thách thức những ràng buộc ấy để giữ vững nhân cách và ý chí của mình, ông ta có thể là một “người tù khí phách”, một “người tù gan góc”, một “người tù phi thường” hay một “người tù anh hùng” v.v… Còn “người tù kiệt xuất”, cái hình ảnh tưởng là hay, là hào hùng chất ngất, thực ra, chỉ là một trò chơi chữ bết bát, bậy bạ.
Trong tôn giáo chúng ta nghe thường nói đến cái thời gọi là “mạt pháp”. Trong đời sống hiếm ai nghe đến những ý niệm như “mạt chính” hay “mạt ngôn” tuy nhiên, trong một thời đại xơ xác niềm tin như thế này, mối hôn nhân dơi chuột giữa ngôn ngữ và chính trị đã đưa đến một tình trạng đại loại như thế. Đó là vận dụng và lắp ráp ngôn từ một cách bừa bãi và phi lý, vì mục đích chính trị. Đó là cao rao những điều mình không thực hiểu, chỉ hiểu bập bà bập bõm và chẳng mảy may tin tưởng, vì mục đích chính trị. Và đó là trọng đại và xác tín hoá những ý niệm nông cạn, thậm chí những ý niệm sai, cũng vì mục đích chính trị.
Và chính tính lười biếng và tính ngại phiền, trong tư duy hay trong nhận thức của chúng ta lại là một yếu tố chính góp phần nuôi dưỡng nên cái văn hoá đại/loạn ngôn này. Người ta viết và nói để tự huyễn hoặc mình, là một. Họ vẫn viết và nói vì vẫn còn người đọc và người nghe, và nhất là, vẫn không có ai phản ứng, là hai. Có thể tin, có thể không tin, nhưng cả khi không tin, cả khi thấy chướng chúng ta vẫn thản nhiên như thể đấy là chuyện bình thường.
Khó mà thay đổi sự thể đó trong một sớm một chiều, tuy nhiên, trong giới hạn của mỗi người thì ai cũng có thể làm được phần việc của mình. Hễ nghe ai hùng hồn hay hùng hổ điều gì thì, ít ra, phải đặt câu hỏi là, về thực chất, kẻ đó muốn nói cái gì? Họ nắm chặt vấn đề hay không? Liệu họ sẽ làm được như là nói hay không? Họ có lập lại, có sao nhái ngôn từ của ai không? Và, đấy có phải là những động tác lắp ráp ngôn từ, lắp ráp máy móc kiểu vớ đâu ghép đấy, như thể là đang lắp ráp mấy cái chuồng gà tiền chế hay không?
Không thế thì chúng ta sẽ mãi mãi tuý luý trong những cơn say, cơn say của cái trò chính trị của ngôn ngữ chính trị. Cái kiểu say sưa mà Trần Vàng Sao, “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình”, đã thoáng chép miệng ao ước trong những ngày hết gạo hết tiền hết củi/ muối sống không còn một hạt của tôi:
hai mắt tôi mở to
đầu tôi cúi thấp
miệng tôi há ra
những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm dồn cứng chật cuống họng
nói thật, lúc này tôi muốn được say rượu
hoạ may thấy một đồng thành ba bốn đồng… [7]
Trần Vàng Sao muốn say với rượu để hoạ may thấy thêm vài đồng, để quên đi cái cảnh hết gạo hết tiền hết củi. Còn chúng ta, chúng ta say với những ngôn từ rổn rảng kêu vang, những tuyên ngôn lắp ráp chuồng gà để hoạ may uống được danh-từ-nước, hoạ may chễm chệ ngồi trên danh-từ-ghế và ngửng đầu hát khúc khải hoàn bằng danh-từ-thắng.
Vân vân…
Sydney 5.2002
© 2003 talawas
[1]The Story of Qiu Zu, được giải Sư tử vàng và Nữ tài tử xuất sắc nhất tại Venice Film Festival. Củng Lợi (Gong Li) đóng vai Thu Cúc. Lời này tôi thuật lại theo trí nhớ, dù sao thì Thu Cúc chỉ muốn kiện để bắt gã trưởng thôn xin lỗi.
[2]Xin nhắc là Orwell không nói đến ngôn ngữ văn chương.
[3]Nineteen Eighty-Four xuất bản năm 1949, vẽ nên tình hình thế giới năm 1984, lúc thế giới bị chia thành ba siêu quốc gia là Eastasia, Eurasia và Oceania. Nước sau cùng bị cai trị bởi đảng “iiner”, chiếm 25% dân số. Để kiểm soát đảng viên Đồng chí Big Brother cho lắp đặt những thiết bị để theo dõi đảng viên và dân chúng 24 trên 24.
[4]Xem: http://www.brainstormservice.com/wcu/orwell.html
[5]Xem: Huntington (1997), The clash of civilisation and the remaking of world order, Simon & Schuster, Sydney.
[6]Phan Lạc Phúc, (2000), “Người tù kiệt xuất”, trong Bè bạn gần xa, Văn Nghệ, California, trang 173 [Khởi đi từ tập bút ký này, cụm từ trên lan rộng ra nhiều phương tiện truyền thông đại chúng của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại.]
[7]Trần Vàng Sao, “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình”, trích từ tuyển tập Trăm hoa vẫn nở trên quê hương – Cao trào văn nghệ phản kháng tại Việt Nam 1986-1989, Lê Trần xuất bản, California, 1990, trang 666.