trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
6.9.2003
Dương Thuấn
Tương lai của ngôn ngữ dân tộc ít người
 

Trên thế giới có một số dân tộc ít người đã và đang bị mất dần đi tiếng nói của dân tộc mình, nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này có thể là do bị các dân tộc đông hơn đồng hoá, cũng có thể do xuất phát từ nhu cầu tiến thân trong cuộc sống mà một số dân tộc ít người đã tự bỏ mất tiếng nói của dân tộc mình. Việc đó khiến cho những ai có ý thức về bảo tồn văn hoá nhân loại cũng đều cảm thấy sót xa. Ðến nay, câu hỏi làm thế nào để giữ gìn được tiếng nói của các dân tộc ít người thì vẫn chưa có ai trả lời trọn vẹn. Trước xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, việc giữ gìn tiếng nói của các dân tộc ít người nhất định sẽ ngày càng khó khăn hơn và cũng trở nên cấp thiết hơn.

Cách đây khoảng mười năm, tạp chí Người đưa tin UNESCO từng lên tiếng cần phải bảo vệ ngôn ngữ của các dân tộc ít người trên thế giới. Tất nhiên việc kêu gọi đó mới chỉ là chung chung, chưa nêu ra giải pháp cụ thể nhưng nó đã gióng lên hồi chuông báo động cho toàn thể nhân loại biểt rằng: Tiếng nói của các dân tộc ít người trên thế giới, tuy các dân tộc đông người không sử dụng nhưng nó là di sản văn hoá chung của toàn thể nhân loại. Nếu để tiếng nói của một dân tộc ít người nào đó mất đi thì trách nhiệm thuộc về cả nhân loại chứ không phải chỉ riêng một dân tộc nào. Mất đi một ngôn ngữ của một dân tộc trên trái đất cũng có nghĩa là văn hoá của cả nhân loại đang bị nghèo đi.

Việt Nam là một quốc gia nằm trên một dải đất dài chạy dọc theo bờ Biển Ðông, trên đất nước từng có 4000 năm lịch sử này luôn luôn cùng tồn tại nhiều dân tộc. Theo tài liệu điều tra dân số chính thức của nhà nước thì Việt Nam bao gồm 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêng. Người Kinh đông nhất sinh sống chủ yếu ở vùng đồng bằng ven biển, các dân tộc ít người sống rải rác trên các vùng núi suốt từ miền bắc đến miền nam. Về văn hoá, giữa các dân tộc có một số nét chung nhưng về cơ bản các dân tộc ít người Việt Nam từ trước đến nay vẫn thường xuyên tồn tại theo những phương thức riêng biệt. Trình độ phát triển về kinh tế và văn hoá giữa các dân tộc không đồng đều. Ví dụ người Rục ở Quảng Bình đang còn ở dạng nguyên thuỷ chưa có người vào đại học, còn người Tày ở Việt Bắc thì người có trình độ đại học và trên đại học tính trên tỷ lệ dân số cao nhất nước, cao hơn cả người Kinh. Một số dân tộc Tày, Dao, Thái, Chăm, Kh’me đã có chữ viết riêng từ rất lâu đời, bên cạnh đó vẫn còn nhiều dân tộc cho đến nay vẫn chưa có chữ viết. Chữ viết không chỉ thể hiện sự phát triển cao về mặt văn hoá mà còn thể hiện trình độ phát triển của tư duy của mỗi dân tộc. Vì vậy vấn đề đặt ra cho tất cả mọi người sẽ là, muốn bảo tồn được văn hoá dân tộc việc đầu tiên phải làm là phải giữ gìn ngôn ngữ.

Ở Việt Nam, kể từ năm 1945 khi nhà nước cách mạng thành lập cho tới nay, vấn đề tiếng nói và chữ viết của các dân tộc ít người đã được đề cập trong hiến pháp, các dân tộc đều có quyền sử dụng tiếng nói của dân tộc mình nhưng trên thực tế lại chưa được quan tâm, việc gìn giữ và bảo tồn ngôn ngữ các dân tộc ít người chưa được đặt ra thành nhiệm vụ cụ thể đối với toàn dân. Một thực tế hiện nay là ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang mất dần sự trong sáng vốn có, bị pha tạp bởi rất nhiều từ ngữ của tiếng Kinh. Việc thu nạp thêm từ mới mà vốn từ vựng dân tộc chưa có là chuyện bình thường nhưng vấn đề ở đây không phải như vậy. Sự hoà trộn ngôn ngữ trong các dân tộc ít người ở Việt Nam hiện nay đang là một hiện tượng tương đối phức tạp. Ðây có thể diễn đạt như là sự “nói bồi lẫn nhau ” làm cho ngôn ngữ các dân tộc ít người nghèo đi và tất yếu sẽ dẫn tới nguy cơ suy thoái. Ðiều đó thể hiện rất rõ là ngày càng có nhiều người nói được bằng lời nhưng không hiểu được văn bản khi đọc bằng mắt, dẫn tới tư duy chậm chạp cũng là chuyện dễ thấy. Ở một số vùng thuộc miền núi phía bắc không chỉ riêng ngôn ngữ mà cả một số sinh hoạt văn hoá cũng bị mất đi. Ví dụ ở Lạng Sơn, làn điệu Then Tày bước đầu đã có một số từ Kinh lẫn vào, mặc dầu vậy nay nó vẫn còn sức sống mạnh mẽ. Còn với hát Sli của người Nùng, con trai con gái hay hát ở trên tàu hoặc giữa phiên chợ Ðồng Ðăng thì nay không còn nữa. Một số thanh niên và trẻ nhỏ cũng đang dần quên đi tiếng mẹ đẻ của mình, hàng ngày chỉ còn nói tiếng Kinh. Với các dân tộc khác ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng vậy , nguy cơ bị mất ngôn ngữ đang tiềm ẩn rất lớn. Ở một số nơi là trung tâm tỉnh lỵ, huyện lỵ trên miền núi giao tiếp bằng tiếng Kinh ngày càng trở nên phổ biến, tiếng của dân tộc ít người hầu như đã bị mất hoàn toàn. Nguy cơ đó đang ngày một tiến sâu hơn vào khắp các vùng, sự đồng hoá các dân tộc ít người của dân tộc đông người hơn đang thắng thế dần. Hiện tượng đồng hoá về ngôn ngữ văn hoá sẽ dẫn đến sự phát triển mạnh về tư duy so sánh. Cuối cùng nhất định dẫn tới sự phản ứng lại theo bản năng tự nhiên của dân tộc ít người, họ kháng cự lại những thứ áp đặt cho họ sẽ dẫn tới những hậu quả khôn lường. Ðiều đó thể hiện rất rõ đối với người Tày ở vùng Việt Bắc, nhà nước đưa phim tiếng Kinh đến chiếu cho người dân xem nhằm mục đích để người dân làm theo nếp sống mới ở trong phim thì nhà nước đã nhận được kết quả ngược lại. Chính những nơi nào được xem nhiều phim nhất thì nơi đó lại càng có nhiều người đi học hành nghề mê tín làm thầy mo, thầy tào… Trong đó có người từng là cán bộ phòng Văn hoá Thông tin của huyện, có người từng là bí thư đảng uỷ xã, có cả học sinh vừa mới rời ghế nhà trường…Còn ở Tây Nguyên nhà nước càng xây nhiều nhà rông hiện đại bằng bê tông thì càng ít người đến nhà rông, trong khi đó người dân lại rất thích đến nhà thờ. Hoặc là ở Nam Bộ, người Khơ me chỉ thích xem phim lồng tiếng Kh’me của Cămpuchia làm chứ không thích xem phim lồng tiếng Kh’me do Việt Nam sản xuất…

Vấn đề hiện nay đặt ra là xây dựng văn hoá có phải đơn thuần giải quyết mỗi buôn làng một nhà rông văn hoá kiểu mới, một đội cồng chiêng, một đội múa xoè hay một bộ phim là đủ? Cuộc sống đâu phải chỉ có thế, con người miền núi vốn gắn bó với núi rừng cả cuộc sống ban ngày và cuộc sống ban đêm. Họ coi ban đêm chỉ là tiếp tục ban ngày, coi chết chỉ là tiếp tục sự sống. Núi rừng là nơi gửi gắm cuộc đời thân xác lẫn cuộc đời tâm linh, nay bỗng nhiên bị mất dần đi cả hai thứ quan trọng nhất là rừng và tiếng nói. Rừng mất thì cuộc sống vật chất sẽ khó khăn hơn, mất dần tiếng nói thì cuộc sống tinh thần cũng tẻ nhạt hơn… Bị mất cả hai thứ quan trọng này cùng một lúc nên họ bị rơi vào tình trạng chấp chới, không thể làm chủ được mình rồi đến một lúc nào đó tự lồng lên như con mãnh thú với khao khát trả thù, chối bỏ thực tại…

Nhà nước Việt Nam trong mấy năm trở lại đây đã bước đầu nhận thức đúng vai trò quan trọng của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số đối với công việc hàng ngày để phục vụ một quốc gia cho nên đã bắt buộc toàn bộ viên chức các tỉnh miền núi phải học tiếng dân tộc ít người. Bước đầu mở ra đài phát thanh tiếng Kh’me, tiếng Mông, tiếng Ê đê, tiếng Ba Na, tiếng Gia rai… Tới đây có thể sẽ mở thêm một số đài nữa, phát thêm tiếng của một số dân tộc. Ðây mới chỉ là bước đầu, còn mang nặng tính chất đối phó, muốn giữ gìn và bảo tồn được ngôn ngữ các dân tộc thiểu số cần phải có kế sách chiến lược lâu dài.

Trước thực trạng nguy cơ tiếng nói của các dân tộc ít người bị mất dần như hiện nay, các cộng đồng dân tộc và các quốc gia cần phải có những chương trình hành động mạnh mẽ hơn và đạt hiệu quả thiết thực hơn.

  • Thứ nhất là khuyến khích, vận động nhân dân các dân tộc ở các bản làng hãy nói tiếng dân tộc của mình, xoá bỏ tâm lý mặc cảm tự ty của một số người thường hay cho tiếng dân tộc ít người là kém cỏi, nghèo nàn. Phải tăng cường tuyên truyền cho mỗi người dân thuộc các dân tộc ít người đều cảm thấy tự hào về chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình.
  • Thứ hai là tiến hành in các loại sách bằng tiếng các dân tộc ít người, đặc biệt là sách văn học, bởi sách văn học diễn đạt bằng hình tượng giúp cho quá trình phát triển của tư duy. Mở các cuộc vận động sáng tác văn thơ bằng tiếng dân tộc ít người và sưu tầm văn học dân gian của các dân tộc ít người để nâng cao trình độ thưởng thức cũng giáo dục cho họ biết quý trọng những di sản văn hoá dân tộc của họ.
  • Thứ ba là mở thêm nhiều đài phát thanh, các kênh truyền hình bằng tiếng các dân tộc ít người. Ðối với đài trung ương, đài địa phương, các đài khu vực đều phải có nhiệm vụ xây dựng nhiều chương trình hay, chất lượng cao. Ðịnh giờ phát sóng và phổ biến thời gian phát sóng đến mọi người dân để họ nghe…
  • Thành lập Uỷ ban bảo vệ ngôn ngữ các dân tộc ít người trên toàn thế giới. Uỷ ban này sẽ tiến hành lập bản đồ các vùng có dân tộc ít người đang sinh sống trên mọi châu lục có nguy cơ bị mất dần ngôn ngữ. Uỷ ban này cũng sẽ tư vấn cho lãnh đạo Liên hợp quốc và các quốc gia có kế hoạch hỗ trợ lẫn nhau về kinh phí, đề ra biện pháp tuyên truyền việc bảo tồn và giữ gìn ngôn ngữ dân tộc ít người của của từng quốc gia.

Bản thân tôi cũng thuộc một dân tộc ít người, ngôn ngữ của dân tộc tôi cũng đang đứng trước nguy cơ không thể tránh khỏi sự lấn át của ngôn ngữ các dân tộc đông người do toàn cầu hoá và thời đại đem lại. Bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới này cũng đều là tài sản chung của nhân loại. Hãy cùng nhau bảo vệ ngôn ngữ của các dân tộc ít người. Chính điều đó là lý do đã khiến tôi viết bài này, tôi coi đây như là bản thông điệp mà tôi muốn gửi đến tất cả những ai quan tâm đến tương lai ngôn ngữ dân tộc ít người ở Việt Nam và trên thế giới.

© 2003 talawas

 
© talawas 2026