Dirda Michael
Từ lâu người ta đã tin rằng thế giới này sẽ hạnh phúc, hoà bình và nói chung là tươi đẹp hơn nếu tất cả chúng ta cùng nói một thứ tiếng. Theo Sáng thế ký (chương 11), Chúa đã trừng phạt cái mồm chúng ta tại Babel để con cháu của Noah không thể cùng nhau làm việc trong sự hoà hợp được nữa. Bằng phương án này “đức Giê-hô-va đã làm cho loài người tản ra khắp mặt đất.” Những bộ lạc rải rác khắp nơi trở nên những quốc gia thù địch, và vì họ không thể trao đổi thông tin một cách dễ dàng để thoả hiệp với nhau được nữa, chiến tranh xảy ra, và chưa kịp nói hết chữ “shibboleth” là ta đã thình lình có những holocaust nho nhỏ chỉ vì hàng xóm ta không phát âm cái từ ấy giống ta.
Qua những thế kỷ, những thứ tiếng khác nhau – ở phương Tây thì chủ yếu là tiếng La-tinh và tiếng Pháp – chiếm vị trí nổi bật và được coi là tiếng nói chung theo một sự thoả thuận toàn cầu nào đấy, kể cả nếu chỉ trong giới có học. Nhưng thời của chúng đã đến và, lạy Chúa, coi như đã qua. Càng ngày càng thấy rõ là mọi người một là nói tiếng Anh hai là đang học nói tiếng Anh. Hoá ra chúng ta chẳng cần Esperanto hay bất kỳ một thứ ngôn ngữ nhân tạo do những kẻ mơ mộng viển vông nào đấy bày ra. Ai giờ đây cũng có thể cười và nói Coke và blue jeans và “do you want fries with that?”
Thế nhưng Andrew Dalby, tác giả cuốn A Dictionary of Languages, đã chỉ ra một cách hết sức thuyết phục rằng tình trạng này hoàn toàn không phải là tốt. Để dẫn chứng cho quan điểm của ông, Language in Danger giải thích một cách ly kỳ những ngôn ngữ đã hình thành và tác động lẫn nhau như thế nào, và sự mất mát lớn bao nhiêu – cả về văn hoá lẫn về nhận thức học – khi người cuối cùng nói tiếng Cornish, hay Chamorro, hay Occitan, hay Powhatan, chết đi.
Trước hết, Dalby phủ nhận cái ý tưởng là một lingua franca sẽ ngăn chặn được mâu thuẫn trên thế giới: “Trong thế kỷ 20, một tỷ lệ lớn người trên thế giới có thể liên lạc với nhau, bằng tiếng Anh hay một vài tiếng khác, nhưng điều đó hình như chẳng ngăn chặn được cuộc chiến tranh nào, cũng chẳng giảm được tần số xảy ra chiến tranh, cũng chẳng làm cho những cuộc chiến tranh đã xảy ra bớt tàn bạo đi được chút nào. Sự thật là có nhiều cuộc chiến tranh mới xảy ra giữa những dân tộc nói cùng một thứ tiếng: cuộc nội chiến ở Rwanda, cuộc xâm lược Kuwait do Iraq, cuộc chiến ở Bosnia và sự bế tắc dai dẳng giữa Bắc và Nam Triều tiên.”
Nhưng ý chính của ông thì là như sau: Người ta sẽ luôn luôn dạy con mình thứ tiếng mà họ nghĩ là ngôn ngữ của quyền lực. “Sự thành công. . . có nghĩa là được thuộc vào nhóm elite: để thuộc vào nhóm elite ta phải nói ngôn ngữ chính thức và quốc tế. Đấy là cái mà kể cả những người nói ngôn ngữ thiểu số cùng cực nhất mong đạt được bất kỳ khi nào họ có khả năng, vì con cái họ còn hơn là vì bản thân họ.” Thế hệ thứ nhất có thể nói thành thạo Slovak khi đặt chân lên nước Mỹ; con cái họ sẽ nói một dạng song ngữ; nhưng cháu của họ thì sẽ nói một thứ tiếng Mỹ hoàn toàn. Hơn nữa, “có khá ít người nói một thứ tiếng có địa vị cao là tiếng mẹ đẻ lại cảm thấy cần phải học một thứ tiếng khác có địa vị thấp hơn.” Vậy là càng ngày càng nhiều người bám vào cái ngôn ngữ có quyền lực kia. Ai cần cái thứ tiếng tổ tiên khỉ gió kia cơ chứ? Chẳng mang lại đuợc cái gì cả.
Nhiều khi một ngôn ngữ thiểu số sống sót được một thời gian vì được dùng trong lễ nghi hoặc được dùng bởi những người thợ của những nghề cổ truyền. Nhưng “một khi một ngôn ngữ đã rơi vào chỗ được sử dụng một cách hạn chế như vậy, thì chuyện người ta có hiểu nó hay không có lẽ cũng chẳng thành vấn đề nữa.” Thậm chí giáo dục song ngữ cũng không giúp được gì: Việc sử dụng tiếng Gaelic cứ giảm đều đều, bất chấp những cố gắng gìn giữ nó ở Ireland. Chỉ có ngôn ngữ quốc gia – tiếng Anh – là quan trọng, vì đấy là cái người ta thực sự dùng đến để cầu tiến và cải thiện đời sống.
Tiếng Anh đã trở nên ngôn ngữ thứ hai (hay thứ nhất) của tất cả mọi người không phải vì nó có một ưu điểm nội tại nào, mà đơn giản là vì nó là thứ tiếng có ích nhất. Trước đây, một lingua franca như tiếng La-tinh có thể tách ra thành tiếng Tây-ban-nha, tiếng Ý và những thứ tiếng dòng Romane khác, nhưng trong một thế giới càng ngày càng được toàn cầu hoá, nối liền bởi kỹ nghệ máy tính, các công ty quốc tế và truyền hình, sự cô lập cần thiết để có sự tách ra này khó mà xảy ra được lại một lần nữa. Sự phát triển của những quốc gia dân tộc dẫn tới sự đồng nhất về ngôn ngữ, và sự phát tiển của một quốc gia thế giới, xây dựng trên nền tảng của truyền thông digital và được nâng đỡ bởi chủ nghĩa quốc tế Mỹ, sẽ bảo đảm cho chiến thắng lâu dài của tiếng Anh.
Vậy thì sự mất mát nằm ở chỗ nào? “Bất kỳ ngôn ngữ nào mất đi vĩnh viễn đều có thể mang theo nó một văn hoá,” Dalby viết. “Nếu ta dùng cái mà đã trở thành một từ bản xứ, thế có nghĩa là ta đã học được một cái gì đó – có thể là một cái gì đó có ích, như thức ăn hoặc cách dùng thuốc – từ người bản xứ đang sống. Nếu ta dùng một cái tên từ quê hương trước đây của ta, thì điều đó thường có nghĩa là ta học được rất ít hoặc chẳng học được cái gì từ người bản xứ cả.” Từ đây Dalby quay về lý thuyết ngôn ngữ của Benjamin Whorf, người tin rằng “cấu trúc của những ngôn ngữ khác nhau diễn tả những thế giới quan khác nhau, và vì thế nên ảnh hưởng đến cách người nói những ngôn ngữ ấy nghĩ về thế giới.” Theo những tác giả thời cổ xưa thì “có những thứ có thể nói bằng tiếng Hy-lạp một cách dễ dàng, nhưng bằng tiếng La-tinh thì ta chỉ có thể diễn đạt được chúng một cách cực kỳ khó khăn.” Dalby, trong khi công nhận là lý thuyết của Whorf vẫn được tranh cãi, có đưa ra một bản khác, nhẹ cân hơn, của lý thuyết này, nhưng về cơ bản vẫn tin rằng những ngôn ngữ khác nhau chứa đựng những thế giới quan khác nhau, mặc dù có thể không quyết định cách cảm nhận và hiểu biết của người nói.
Trong khi bảo vệ luận điểm của mình, Dalby đưa ra lịch sử ngắn gọn và chính xác của những tiếng Romani (là những ngôn ngữ của người di-gan) và Yiddish và “thieves’ cant” và tiếng Hy-lạp Koine và tiếng Anh Pidgin. Ông mô tả sự biến mất của những tiếng thổ dân châu Mỹ, đặc biệt ở vùng California; sự diệt vong của toàn bộ tám ngôn ngữ Tasmania; những cố gắng gìn giữ sự đa ngữ; và món nợ của tiếng Anh đối với những thứ tiếng nay đã mất – thậm chí cái từ đặc biệt thế kỷ 20 là “persona” hoá ra lại là một từ vay mượn từ tiếng cổ xưa và gần như không ai biết là tiếng Etruscan. Thật đáng buồn, Dalby nhắc lại rằng trong vòng 200 năm nữa thế giới này gần như chắc chắn sẽ chỉ còn 200 thứ tiếng – từ khoảng 5000 hiện nay đang còn tồn tại – và tiếng Anh sẽ càng ngày càng nhanh chóng thống trị thế giới.
Dalby kết luận rằng “có ba lý do chính tại sao chúng ta cần phải ngăn chặn sự mất mát ngôn ngữ.” Thứ nhất, “chúng ta cần cái kiến thức mà những ngôn ngữ giữ và truyển tải.” Thứ hai, “chúng ta cần những ngôn ngữ khác để biết được những thế giới quan khác.” Thứ ba, chúng ta cần có nhiều ngôn ngữ vì tiếp xúc với những ngôn ngữ khác làm cho ngôn ngữ của chúng ta uyển chuyển và sáng tạo.” Đến cuối quyển Language in Danger, phần lớn người đọc sẽ đồng ý với phân tích của Dalby.
Nhưng đây mới là phần đáng buồn: Có vẻ là chúng ta sẽ chẳng làm được gì trong chuyện này cả, chẳng thể ngăn được bàn tay của Chúa. Sự trù phú văn hoá của thế giới chúng ta đang bị mai một dần dần bởi sự thành công của tiếng Anh, một thứ tiếng Anh được nâng đỡ bởi kỹ nghệ truyền thông quốc tế và sự thành công của lối sống Mỹ. Nói một cách khác, chúng ta cuối cùng cũng đã xây xong tháp Babel, và nó phát “The Simpsons.”
© 2003 talawas