trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
26.2.2003
Quốc Việt
Từ dọn vườn đến chữ quốc ngữ
 

Tác giả Nguyễn Luyện nói thật đúng. Chúng ta chăm chỉ dọn vườn của kẻ muốn dọn vườn nhà chúng ta[1]. Nhưng phải chăng chính đó là toàn bộ í nghĩa của tranh luận? Theo lí thuyết, nếu như cả hai bên cùng dọn sạch vườn của nhau thì cuộc tranh luận chiến thắng. Tuy nhiên, cũng theo lí thuyết thì sẽ không bao giờ dọn sạch vườn được, vì vậy mà có 2 kiểu nhìn chiến thắng: hoặc là vườn của chúng ta ít cỏ hơn vườn của bọn họ, hoặc là vườn bọn họ nhiều cỏ hơn vườn của chúng ta. Kiểu chiến thắng thứ ba thực sự thuộc về kẻ mạnh: người ta thấy rằng: vườn mình quả có lắm cỏ, nhưng sau khi đã dọn vườn thì số cây quí nhiều hơn lên. Thế nhưng, ai mà chịu được khi lão hàng xóm cứ nhất quyết cho rằng cái cây giống quí của nhà mình là cỏ dại? Thêm nữa, vì một lí do nào đó, cỏ dại trong vườn người khác thì rất dễ nhận ra, khác hẳn cỏ vườn nhà mình. Thực ra thì đã chắc gì “cỏ là cỏ là cỏ”?

“Cãi” lại một luận điểm của một nhà khoa học có hạng, hơn nữa lại là một người mình và nhiều người khác yêu mến và tin tưởng không phải là một chuyện dễ dàng. Ông Nguyễn Hoàng Sơn hẳn cũng biết điều đó. Trên thực tế, ông không “cãi” (chữ của ông Lê Thạch Linh) mà ông phản đối, ông công kích, bằng những chiến thuật không phải là không có chỗ đáng chê trách[2]. Nhưng với một người đọc tầm thường như tôi thì những mũi công kích đó không phải là không có lí. Ngược lại, nó còn có chỗ thuyết phục và chẳng có gì đáng gọi là “trò cười cho thiên hạ” như ông Lê Thạch Linh nhận xét cả[3].

Nhiều người đã nói về bài của Nguyễn Hoàng Sơn. Ở đây tôi muốn đề cập đến những luận cứ khoa học trong các bài báo của giáo sư Cao Xuân Hạo. Lẽ tất nhiên, tôi nhất quyết không dám động đến phương diện lí thuyết ngôn ngữ cũng như những giá trị và những đóng góp của chúng mà chỉ dám đề cập đến một vài luận điểm chung chung trong các bài báo đã được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng, phổ cập.

Trong bài “Chữ Tây và chữ Hán, thứ chữ nào hơn”[5], giáo sư nêu ra kết quả một thí nghiệm dạy học cho trẻ em “khuyết tật” ở Mĩ năm 1978, dường như để chứng minh cho sự hơn hẳn của chữ Hán. Theo tôi, điều đó chưa thể được gọi là một chứng cứ khoa học cho tính ưu việt của chữ Hán, nói một cách tổng quát. May ra nó chỉ chứng minh được một điều là chữ Hán có thể giúp ích cho một bộ phận trẻ em “khuyết tật” đặc biệt trong việc học chữ ở cấp tiểu học (do khả năng tượng hình của nó?):

Người ta hiểu ra rằng các em này chẳng phải có khuyết tật gì, chẳng qua trong não của chúng hình như công năng của bán cầu bên phải (tri giác tổng hợp) trội hơn công năng của bán cầu bên trái (tri giác phân tích) cho nên chỉ nhận dạng được chữ Hán vốn có hình thể đặc trưng rất rõ, mà không tách được các từ ra từng âm tố – từng chữ cái.”[1]

Nếu như điều “hình như” này đúng thì luận cứ cho tính ưu việt của chữ Hán lại càng không thể áp dụng: phải chăng 99,99% số trẻ em còn lại có công năng bán cầu não trái trội hơn và thích hợp với chữ ABC hơn là chữ Hán?

Cũng trong bài này, giáo sư gần như cho rằng “tiến bộ của một số nước trong khu vực” có nguyên nhân là vì họ giữ được chữ viết gắn với Hán ngữ. Điều này không phải là một luận cứ khoa học, chỉ có thể coi là một giả thuyết làm việc hay một í kiến cá nhân có tính chất tham khảo, cho dù giáo sư có mượn lời của Léon Vandermeersch trong một cuốn sách nổi tiếng: “khẳng định rằng sở dĩ những “con rồng” nói trên thành rồng được chính là vì họ vẫn dùng chữ Hán“. Việc ông Léon Vandermeersch khẳng định là quyền của ông Leon Vandermeersch, nhưng nếu như giáo sư lại trích dẫn để mọi người lầm tưởng đó là luận cứ khoa học thì thật buồn. Ở một chỗ khác, giáo sư cho rằng vì chữ Nôm khó nên chữ quốc ngữ mới thay thế được chữ Hán: “Mà chữ Nôm thì khó hơn chữ Hán rất nhiều (theo một chuyên gia Hán Nôm, nó khó gấp 5 lần)[5]. Liệu đây có phải là một luận điểm có tính khoa học? Cho dù nó được nói ra bởi một chuyên gia và được gán cho một con số định lượng, tôi khó mà tưởng tượng căn cứ khoa học cho sự định lượng khó khăn ấy cho chữ Nôm.

Trong bài “Nhận xét về chữ Quốc Ngữ”[4], dẫn cuốn “Âm vị học và tuyến tính”, giáo sư đã “chứng minh rằng lý thuyết âm vị học hiện hành chỉ có giá trị đối với các ngôn ngữ “tiểu âm vị” (micro-phonematic) như các thứ tiếng châu Âu chứ không thể dùng cho những thứ tiếng “đại âm vị” (macrophonematic) như tiếng Nhật, tiếng Malagasi, và nhất là các thứ tiếng đơn lập như tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng Việt, trong đó cái đơn vị âm vị học tương đương về cương vị cấu trúc với âm vị Âu châu là âm tiết (tiếng) chứ không phải là âm tố.” và kết luận: “chữ quốc ngữ không phải là một cách viết thích hợp với tiếng Việt.” Tuy nhiên, liệu có phải là mạo hiểm không khi đồng nghĩa lí thuyết âm vị học với chữ quốc ngữ? Lí thuyết âm vị học xuất hiện trước hay sau hệ thống mẫu tự ABC? Hay là từ chứng minh đã dẫn, chỉ có thể kết luận được là “lí thuyết âm vị học hiện hành không thích hợp với việc phân tích tiếng/chữ Việt? Tôi không rõ lắm.

Ở nhiều chỗ khác giáo sư cho rằng chữ quốc ngữ dễ học và thuận tiện hơn chữ Hán, trái với kết luận “về phương diện lí thuyết ngôn ngữ học cấu trúc thì chữ quốc ngữ không thích hợp với tiếng Việt”. Nếu không phải điều đó là mâu thuẫn thì phải chăng dễ học và thuận tiện không phải là một trong các tiêu chuẩn của “thích hợp”? Nhất là khi giáo sư đã nhận định: “Như trên kia đã nói, khi người ta đã có nhiều thế kỷ để quen với diện mạo văn tự của các từ ngữ, cái diện mạo ấy trở thành cái hồn của chữ nghĩa. Nó biểu hiện ý nghĩa của ngôn từ không cần thông qua cách phát âm[4]. Tôi muốn hiểu rằng, khi đã quen với diện mạo của văn tự rồi thì chính cái diện mạo [bất kì] đó đã mang nghĩa của từ ngữ, không cần đến sự biểu nghĩa [tượng hình] của chữ viết, như giáo sư nhận định: “Cho nên một hệ thống chữ viết lý tưởng phải phản ánh, ít nhất là một phần, cái nghĩa của từ ngữ[4]. Lạy Chúa, thật là khó tin khi mà: “khi đã quen với diện mạo văn tự của các từ ngữ thì các diện mạo ấy biểu hiện ý nghĩa của ngôn từ” rồi mà lại cần một “hệ thống chữ viết lí tưởng” để phản ánh một phần cái nghĩa của từ ngữ nữa? Phải chăng ý nghĩa của ngôn ngữ lí tưởng của tương lai lại chỉ là để phản ánh một phần nghĩa của từ ngữ?

Nhân tiện nói đến chuyện “quen với diện mạo của từ ngữ”, liệu có vội vã quá không khi cho rằng: chỉ có chữ Hán mới mang lại khả năng đọc nhanh: “Về phương diện này[diện mạo tổng quát], chữ Hán hơn hẳn chữ Tây. Mỗi chữ Hán là một Gestalt tuyệt hảo, trong khi cái chuỗi chữ cái La-Tinh chắp thành một hàng dài không làm thành một hình ảnh có thể nhận diện dễ dàng trong một chớp mắt như chữ Hán[5]. Có một nghiên cứu khoa học nào so sánh khả năng đọc nhanh được của các ngôn ngữ không? Một người Anh đọc một cuốn sách tiếng Anh không thể nhanh bằng một người Trung quốc đọc một cuốn sách chữ Hán ư?

Kinh nghiệm hàng chục thế kỷ dùng chữ Hán để viết tiếng Nhật ít ra cũng chứng minh được rằng lối viết nói trên có thể dùng một cách có hiệu quả. Tiếng Nhật, vốn là ngôn ngữ chắp dính (agglutinating) đa tiết, đã dùng được chữ Hán như vậy, thì tiếng Việt, vốn cùng loại hình đơn lập như tiếng Hán, lại càng dễ dùng chữ Hán hơn.”[5]

Nếu như quay trở lại với chữ Hán chỉ vì là tiếng Việt “lại càng dễ dùng” hơn tiếng Nhật thì chẳng hoá ra học chữ Hán chỉ vì Nhật còn dùng được Hán tự nữa là Việt nam ư?

Giáo sư cho rằng nhược điểm lớn nhất của từ thuần Việt là vì nó dễ quá. Dễ quá thì xác xuất “tưởng bở” sẽ cao hơn. Anh Trịnh Hữu Tuệ bảo vệ ý kiến này và cho rằng chuyện dùng những thuật ngữ “khó hiểu” khiến người ta phải đọc là chuyện bình thường.[6] Tôi không cho rằng đây là một lí do xác đáng và khoa học. Xác xuất dùng sai cao đối với một hệ thống thuật ngữ không phải là một thuộc tính của ngôn ngữ, nó là thuộc tính của những người sử dụng, hay đúng hơn là văn hoá sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng đó. Bản thân ngôn ngữ, không vì khó mà khiến người sử dụng nó chính xác hơn, cũng như không vì dễ mà làm rối loạn chính nó. Tôi vẫn nghĩ rằng chữ viết là một hệ thống kí hiệu cho toàn bộ những kiến thức và trạng thái của một xã hội. Khi bản thân ngôn ngữ bộc lộ những dấu hiệu “loạn” thì đó chính là vì hệ thống các khái niệm, trạng thái, chuẩn mực của xã hội đã bị rối loạn chứ không phải vì ngược lại. Có lẽ điều đúng hơn là bản thân ngôn ngữ không bao giờ rối loạn, cũng như tôi cho rằng nó không xuống cấp hay lên cấp chỉ cho nó và vì chính nó. Nếu ngôn ngữ là một công cụ thì hiệu quả sử dụng không phụ thuộc vào chính nó. Nếu nó thể hiện một trạng thái hay chính là một phần của một chủ thể, thì sự lên xuống của nó chỉ là sự lên xuống của chủ thể mà nó liên quan.

Giáo sư Cao Xuân Hạo nhiều lần nhận định về tình trạng loạn thuật ngữ ở một số ngành, trên báo chí và dường như cho rằng học chữ Hán bắt buộc ở phổ thông là giải pháp. Liệu biết sơ qua về chữ Hán (từ tình hình giáo dục ngoại ngữ ở phổ thông mà suy ra thì khó có thể nói là một vài tiết bắt buộc có thể giúp học sinh nắm vững chữ Hán được) có thể giúp khắc phục điều đó không hay thực tế là do văn hoá sử dụng chữ viết nói chung có vấn đề? Liệu một quyển từ điển từ Hán Việt tốt và một chuẩn mực ngôn ngữ nghiêm ngặt có giúp ích hơn là sự thay đổi toàn bộ chương trình của hệ giáo dục với rất nhiều hệ lụy. Những hệ lụy này không những là một bài toán cho nền kinh tế chính trị của xã hội đương thời, mà còn đặt ra vấn đề cho sự phát triển trong tương lai. Chúng ta đã có môn Tiếng Việt, vậy tại sao từ vựng Hán Việt và sự sử chúng một cách chính xác lại không thể là một phần của môn học đó? Dựa trên tất cả các lập luận của giáo sư Cao Xuân Hạo, tôi vẫn chưa mảy may được thuyết phục rằng, biết một chút chữ Hán có thể giải quyết được các vấn đề của tiếng Việt nói riêng và xã hội Việt nam nói chung. Đề xuất về một chương trình dạy và học chữ Hán ở cấp phổ thông là một đề xuất cần được tất cả những người quan tâm đến tiếng Việt suy nghĩ.

Vai trò của chữ quốc ngữ và ảnh hưởng của nó lên văn hoá là một vấn đề phức tạp và đòi hỏi những tiếp cận từ nhiều khía cạnh chứ không thể chỉ bằng khía cạnh ngôn ngữ thuần túy. Ông Jennifer Trần dường như muốn qui trách nhiệm cho chữ quốc ngữ những hệ lụy của các chuyển biến về văn hoá, chính trị, xã hội.[7] Đó là một cách nhìn lí thú, nhưng phải chăng là ngay cả bản thân sự xuất hiện và phổ biến của chữ quốc ngữ đã hàm chứa những nguyên nhân xâu xa và những động lực tiềm ẩn của những biến chuyển xã hội đã xảy ra rồi? Phải chẳng chính sự phổ biến của nó cũng đã là một sản phẩm của văn hoá. Kiểu gì thì đó cũng là một sự kiện đã xảy ra, và vì vậy là tất yếu. Chữ quốc ngữ, không phải chỉ là công sức của các nhà truyền giáo, mà phần lớn còn là công sức của các trí thức Việt nam, và vì vậy, có thể tự hào rằng đó là chữ viết Việt nam. Việc nó xuống cấp hay lên cấp, thiết nghĩ không phải lỗi của chính nó, hay tệ hơn, lỗi của những người đã gắng công phổ biến nó, chắc chắn chỉ bởi lỗi của những người nắm giữ nó hôm nay. Liệu có quá không khi gắn cho nó những vai trò kinh tế, chính trị, và văn hoá tiêu cực khi tự nhận rằng nó mang lại nhiều thuận tiện?

Cuối cùng hình như một trong những nguyên nhân chính khiến cho nhiều người luyến tiếc với Hán tự là vì các văn tự cổ, vì í kiến của một vài ông Tây kêu rằng “ta mù chữ ngay trên quê hương mình”, vì sự đứt đoạn với văn hoá chữ viết “ngày xưa” (tôi tránh từ truyền thống, bởi với tôi, chữ quốc ngữ và văn hoá chữ quốc ngữ cũng đã là một truyền thống). Sĩ diện với mấy ông Tây thì dễ: chỉ việc dịch chúng ra quốc ngữ. Còn văn hoá? Liệu có thể không cảm nhận được văn chương của người xưa chỉ vì không biết đọc chữ Hán? Liệu có thể bị đứt đoạn văn hoá chỉ vì không biết thư pháp chữ Hán? Liệu những truyền thống tốt đẹp không được phép sinh ra mà chỉ là những cái đã tồn tại từ xa xưa? Liệu hội nhập chỉ là sự đóng góp cái mình đã có chứ không phải là cái mình sẽ tạo ra một cách khoa học, hệ thống và hiện đại? Tôi không biết. Cỏ là cỏ không phải là cỏ.

19-2-2003

© 2003 talawas


[1]Nguyễn Luyện: Tinh thần đoàn kết và tinh thần dọn vườn, talawas, 17.2.2003

[2]Nguyễn Hoàng Sơn: Dùng chữ quốc ngữ là tai hoạ ư, talawas, 23.01.2003

[3]Lê Thạch Linh: Talawas, Ghi chép bên lề, talawas. 16.2.2003

[4]Cao Xuân Hạo: Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ, talawas, 28.1.2003

[5]Cao Xuân Hạo: Chữ Tây và chữ Hán, chữ nào hơn. talawas, 9.2.2003

[6]Trịnh Hữu Tuệ: Một vài nhận xét về việc Nguyễn Hoàng Sơn vs. Cao Xuân Hạo, talawas, 19.2.2003

[7]Jennifer Tran: Chữ quốc ngữ, chữ nư

 
© talawas 2026