trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
16.1.2003
Hồ Anh Thái
Thấp thoáng văn học Việt Nam ở Mỹ
 

Vượt rào cản ngôn ngữ

Nhà văn Việt Nam có một công cụ hiệu quả để làm nên tác phẩm – đó là tiếng Việt. Nhưng cũng chính ngôn ngữ lại trở thành một rào cản, thậm chí thành “bức tường lửa”, một khi muốn đưa tác phẩm ra với thế giới bên ngoài. Chạm phải rào cản ấy, mọi cố gắng đều bật ngược trở lại. Ðây là tình trạng chung của tất cả những ngôn ngữ không phổ biến. Vươn ra bên ngoài – đúng, hội nhập – cũng đúng. Nhưng ai dịch? Chất lượng dịch có thực sự là văn học? Dịch rồi thì ai xuất bản? Xuất bản rồi thì hiệu quả ra sao?

Bắt đầu từ việc nhà xuất bản Curbstone Press tung ra một hợp tuyển truyện ngắn hậu chiến của các nhà văn Việt Nam và Mỹ Phía bên kia góc trời (The Other Side of Heaven). Nhân tiện xin nói ngoài lề, chữ heaven ở đây không thể dịch sai thành thiên đường, mà hàm nghĩa bầu trời. Việt Nam và Mỹ là hai đất nước ở tận hai góc trời, nay cần có một nhịp cầu hoà giải nối liền hai góc trời xa xôi ấy – ý tưởng của những người làm sách là thế. Cuốn sách được Hội các nhà phê bình văn học Mỹ bầu chọn là cuốn hợp tuyển hay nhất của năm 1995. Hai nhà văn Việt Nam tham gia thực hiện là Lê Minh Khuê và Hồ Anh Thái được mời đi gần 20 bang nước Mỹ (National Book Tour) để gặp gỡ độc giả và giới thiệu về cuốn hợp tuyển này. Cho tới nay, cuốn sách đã được đưa vào giảng dạy ở các khoa văn học, khoa nghiên cứu quốc tế của hàng chục trường đại học Mỹ, trong chương trình văn học của nhiều trường phổ thông trung học. Hệ thống giáo dục Mỹ để ngỏ một thời lượng lớn cho phép nhà trường tự tìm thêm những cuốn sách hữu ích phục vụ việc giảng dạy.

Nhà xuất bản Curbstone Press từ đó xuất bản một bộ sách mang tên Những tiếng nói từ Việt Nam (Voices from Vietnam) với những cuốn cũng ngay lập tức được hàng chục trường đại học và trung học phổ thông xin phép đưa vào giảng dạy: Thời gian của người của Nguyễn Khải, Những ngôi sao, trái đất, dòng sông của Lê Minh Khuê, Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Trong sương hồng hiện ra của Hồ Anh Thái, tập thơ Ðường về của Nguyễn Duy. Những cuốn sách này cũng trở thành bạn đường của các đoàn sinh viên Mỹ sang Việt Nam thực tập lâu nay. Mỗi người cầm theo cả bộ sách để trực tiếp trao đổi với các tác giả được mời tới giảng dạy.

Bộ sách vẫn đang được tiếp tục với tập Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, tập truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Ðoàn Lê, Nguyễn Thị Thu Huệ. Ðầu năm 2003 sẽ ấn hành tuyển tập truyện ngắn Việt Nam có lẽ là dầy dặn nhất in ở nước ngoài, gồm 45 truyện ngắn, mang tên Tình yêu thời hậu chiến – hợp tuyển sáng tác Việt Nam đương đại (Love after War: An Anthology of Contemporary Fiction from Vietnam) do hai nhà văn Hồ Anh Thái và Wayne Karlin làm chủ biên.

Ði cùng với bộ sách này, một số tác phẩm của những nhà xuất bản khác cũng đã được giáo sư và sinh viên Mỹ đón nhận, đưa vào giảng đường: Thời xa vắng của Lê Lựu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Người đàn bà trên đảo của Hồ Anh Thái…

Văn học Việt Nam đã vào thị trường Mỹ. Có thể nói như vậy. Ðội ngũ còn mỏng manh, lẻ loi, nhưng dần dần đã thấy hiện diện trong hệ thống phát hành sách toàn quốc, có nghĩa là người đọc có thể đặt mua trên mạng (Amazon.com), có thể nhặt chúng ở các hiệu sách trên toàn nước Mỹ. Sự hiện diện ấy vẫn còn khiêm tốn (xin được trình bày ở phần sau), số lượng phát hành cũng chỉ ở mức vừa phải, nhưng ngay từ rất sớm, sách văn học Việt Nam đã đạt được một ý nghĩa quan trọng mà nhiều tác phẩm bán rất chạy ở Mỹ không làm được: trở thành sách giáo khoa trong nhiều trường học. Các tác phẩm này cũng được đánh giá tốt, không chỉ về nội dung mà cả về nghệ thuật. Nhà văn đoạt giải Pulitzer, Robert Olen Butler viết: “Những tác phẩm này cho chúng ta hiểu thêm về tâm hồn Việt Nam – sự nồng hậu và rộng lượng, lòng khát khao và chan chứa tình cảm”. Nữ văn sĩ đoạt giải sách quốc gia Gloria Emerson nhận xét: “Chúng ta được đến với những con người Việt Nam cụ thể, thông qua những tác phẩm đặc sắc”. Tuần báo Người xuất bản: “Các tác phẩm gây bàng hoàng cả về tầm cỡ và dư vị để lại”. Báo Công chúng Texas: “Trang viết của các nhà văn Việt Nam trải dài từ cái siêu nhiên đến cái tự nhiên và cực kỳ sinh động”. Còn nhiều đánh giá như thế của những tờ báo có uy tín như Thời báo New York, Bưu báo Washington, Thời báo Los Angeles…

Nhiều trí thức Mỹ cho biết, ngay cả nhà văn Mỹ, có người cả cuộc đời viết văn cũng không được Thời báo New York nhắc đến một dòng. Thế mà tờ báo “kênh kiệu” ấy đã có nhiều bài đánh giá các tác phẩm văn học Việt Nam là “hiện thực và siêu thực, hài hước và nghiêm nghị, hồn nhiên và suy tư, được cấu trúc một cách tự nhiên mà tao nhã”…

Chuyện xuất bản ở Mỹ

Người ta vẫn chưa lý giải nổi việc người Mỹ không thích đọc sách dịch. Rất nhiều tác phẩm làm mưa làm gió ở châu Âu, sang đến Mỹ chỉ có thể lay lắt… “chuông nguyện hồn ngươi”. Ở một mức độ khiêm nhường hơn, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh gây được dư luận nhất định ở Anh, nhưng dầm dề mấy ngàn bản bán mãi ở Mỹ. Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Ðại học Oxford ở Malaysia in, chỉ bán trong hệ thống các trường đại học, không ra đến thị trường.

Sách do các trường đại học xuất bản hiếm khi có mặt trong hệ thống hiệu sách công cộng ở Mỹ, thông thường chỉ phát hành trong hệ thống các trường đại học với nhau. Ðó là những cuốn Ánh đèn thành phố, tập phóng sự của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng (Ðại học Oxford), Thời xa vắng (Ðại học Massachusetts), Người đàn bà trên đảo (Ðại học Washington), Số đỏ

Các nhà xuất bản Mỹ thường thăm dò số lượng phát hành, nếu khả năng chỉ bán được dưới 5000 bản thì họ sẽ từ chối bản thảo. Họ kinh doanh sách chứ không làm nghĩa vụ xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc. Rất nhiều tác phẩm hay của nhà văn Việt Nam, được gửi “chào hàng” cho các nhà xuất bản Mỹ, nhưng đều bị từ chối. Tất cả chỉ có một lý do: tác phẩm có thể hay, nhưng không hợp với độc giả Mỹ, họ sẽ không mua.

Thật hiếm có nhà xuất bản như Curbstone Press. NXB đã dịch văn học viết bằng tiếng Tây Ban Nha của các nước Nam Mỹ và Mỹ Latinh đến cho độc giả Mỹ, đang tính chuyện giới thiệu văn học một số nước á-Phi. Với văn học Việt Nam, từ một nhà xuất bản nhỏ ở bang Connecticut, giờ đây Curbstone đã có uy tín nhờ không chỉ in một cuốn mà cả một bộ sách Những tiếng nói từ Việt Nam. Nói cách khác, sách Việt Nam vào được thị trường Mỹ phần lớn là nhờ Curbstone. Những cuốn ấy hàng năm vẫn được in nối bản đều đều, có cuốn như Trong sương hồng hiện ra đã được phát hành gấp ba lần số lượng bình thường.

Curbstone Press là một nhà xuất bản không lợi nhuận. Tính chất không lợi nhuận khiến thu nhập của người làm xuất bản và nhuận bút cho tác giả, dịch giả là rất hạn chế. Không lợi nhuận còn có nghĩa là nhà xuất bản không phải nộp thuế thu nhập và để đáp lại việc không phải đóng thuế, họ phải làm nghĩa vụ phát triển văn hóa xã hội bằng cách tặng sách cho các thư viện trên toàn quốc, cho các trường học… Sách của NXB vì thế được in với số lượng lớn, ngoài mấy ngàn cuốn bán trên toàn quốc để thu hồi vốn và một phần lãi để trang trải nhuận bút và nuôi sống người làm sách, còn có một số lượng đáng kể được đem tặng đến tận tay sinh viên và trí thức. Lợi nhuận là quan trọng, nhưng với nhà văn có thêm người đọc cũng là điều quan trọng không kém.

 
© talawas 2026