Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (3)
01/06/2009 | 10:02 sáng | 61 Comments
Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Hoàng Sa-Trường Sa
8. Ý nghĩa của bản đồ 9 gạch
Tấm bản đồ này xuất hiện không biết chính xác từ khi nào (có nhiều nguồn nói khác nhau : xuất hiện năm 1914, 1920, 1930 ; thậm chí có nguồn nói xuất hiện từ thế kỷ 19 !) nhưng chắc chắn cũng là một thủ thuật cổ điển của TQ như dàn dựng các tên giả, hay hoán đổi tên các làng v.v… để chiếm đất của VN. TQ dựng ra tên Tiểu Đổ Chú Hà để lấy đất Tụ Long, dựng ngọn Tiểu Phân Mao Lãnh cướp đất Kiến Duyên và Bát Tràng, hoán đổi tên làng xã để chiếm đất Đèo Lương, vẽ bản đồ để chiếm thác Bản Giốc, xây đường rày xe lửa để chiếm đất Nam Quan… Chắc chắn tấm bản đồ chín gạch này dựng lên cũng để chiếm biển và đảo của VN, nó thay đổi nội dung tùy theo khả năng và tham vọng bành trướng của TQ.

Bản đồ chín gạch, có «móc và » quần đảo Sulu (giữa Mã Lai và Phi) và đảo Natuna của Nam Dương
Nghiên cứu bản đồ 2 ( trích từ cuốn La Chine, Une Puissance Encerclé?, xem mục tham khảo) tức bản đồ xác định lãnh thổ và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trước năm 1840. Ta thấy có 21 vùng đất trước 1840 thuộc Trung Hoa hay thần phục Trung Hoa (ghi theo A, B, C…), đó là :

- Bản đồ 2, minh họa các vùng đất của TQ đã bị «mất» trước 1840
A: đảo Sakhaline, nhường cho Nga và Nhật. B : Vùng đất Đông Bắc, phía Đông Hắc Long Giang (Amour), nhượng cho Nga theo hiệp ước Bắc-Kinh năm 1860. C : Vùng đất Đông Bắc, phía Tây Hắc Long Giang, nhượng cho Nga năm 1858 theo hiệp ước Aigun. D : Mông Cổ, tuyên bố độc lập năm 1924. E : Cộng Hòa Touva, tuyên bố độc lập năm 1921, sau đó sát nhập vào Liên Xô năm 1944. F : Vùng đất Tây Bắc, nhượng cho Nga qua hiệp ước Tacheng 1864. G : Pamir, bị Nga và Anh bí mật lấy chia với nhau năm 1896. H : Népal, độc lập năm 1898, sau đó trở thành thuộc địa Anh. J : Sikkim, Anh chiếm năm 1889. K : Bhoutan, độc lập năm 1865, sau đó trở thành thuộc địa Anh. L : Vùng biên giới Tây Bắc, bị Anh chiếm. M : Assam, Miến Điện nhượng cho Anh năm 1826. N : Miến Điện, thuộc địa Anh năm 1886. O : Đảo Andaman, thuộc địa Anh P : Thái-Lan, độc lập nhưng dưới sự kiểm soát của Anh và Pháp năm 1904. Q : Đông Dương, thuộc địa Pháp năm 1885. R : Mã Lai (phần lục địa), thuộc địa Anh năm 1985. S : Quần đảo Sulu, thuộc địa Anh năm 1895. T : Đài Loan, nhượng cho Nhật qua hiệp ước Simonoseki năm 1895. U : Quần đảo Điếu Ngư, Nhật chiếm năm 1910. V : Triều Tiên, độc lập năm 1895, trở thành thuộc-địa Nhật năm 1910.
Hai bản đồ này biểu lộ tham vọng của TQ bắt đâu từ thập niên 50. Bản đồ 2 được chính thức đưa vào học trình của chương trình trung học của bộ giáo dục Trung Quốc từ năm 1950 trong khi bản đồ chữ U thì không.
Về ý nghĩa của bản đồ chữ U, chắc chắn vào thời đó chỉ nhằm xác định các đảo trong khu vực chữ U thì thuộc về TQ. Bởi vì quan niệm về chủ quyền vùng biển chỉ mới có sau thế chiến thứ hai, qua các công ước về Biển 1958 và 1982. Trước đó thế giới chỉ có quan niệm về “lãnh hải” 3 hải lý, là tầm đạn đại bác.
Khái niệm về biển lịch sử cũng khá mới, nhưng sau đó không được thế giới chấp nhận, do đó ý nghĩa biển lịch sử chữ U của TQ không thuyết phục cộng đồng thế giới.
Tham vọng về chủ quyền trên biển của TQ bắt đầu khi nào cũng không chính xác, nhưng chắc chắn chỉ mới biểu lộ sau này. Nhiều tài liệu trên thế giới đều xác nhận rằng dân tộc Hán là một dân tộc “quay lưng ra biển, hướng vô lục địa”. Để ý bản đồ 2, vào các thập niên 40-50, TQ xem Đài Loan là vùng đã bị mất. Đảo này, chỉ sát nhập vào TQ chậm trễ dưới thời nhà Thanh, do đề đốc Thi Lang. Cho rằng TQ có chủ quyền tại HS&TS, sau đó có chủ quyền vùng biển trên bản đồ 9 gạch, thì không có gì phi lý hơn.
Ở miền Nam VN ít ai nghe nói bản đồ 9 gạch. Năm 1974, sau khi chiếm HS, cũng không nghe nói đến bản đồ chữ U. Tuy nhiên, theo tài liệu của GS Tạ Quốc Tuấn, «Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan» viết: năm 1974, « lần đầu tiên Trung-Cộng đã công-khai bộc-lộ rõ nguyên-nhân thầm-kín thúc-đẩy việc tranh-chấp chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa: đó là nguồn tài-nguyên thiên-nhiên ở vùng này. Thực vậy, bản tuyên-bố ngày 11.1.1974 có câu: Các tài-nguyên thiên-nhiên trong các vùng biển quanh các quần-đảo này cũng thuộc về Trung-quốc. ». Cũng từ tài liệu này, ngày 4.2.1974, Bộ Ngoại-giao Trung-Cộng lại ra một bản tuyên-bố « Chính-phủ Trung-hoa đã nhiều lần tuyên-bố là các quần-đảo Nam-sa, Tây-sa, Trung-sa và Đông-sa tất cả đều là phần lãnh-thổ của Trung-quốc và nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa có chủ-quyền bất-khả tranh-nghị đối với các quần-đảo này và các hải-khu chung quanh các quần-đảo đó. ». Tài liệu đề cập đến từ ngữ « hải khu », tức khu vực biển, nhưng không hề đề cập bản đồ chữ U.
Tập san Sử Địa 29, Đặc khảo về HS và TS, xuất bản tháng 1 năm 1975, không có dòng nào nói đến bản đồ chữ U. Tập tài liệu La Souveraineté sur les Archipels Paracels và Spratleys của bà Monique Chemillier-Gendreau in năm 1996 cũng không có dòng nào nói đến tấm bản đồ này, ngoài hai bản đồ đính kèm như là bằng chứng của TQ đòi hỏi vùng biển.
Theo tài liệu của ông Cao Xuân Thự, Chuyên viên Vụ Biển, Ban Biên giới của Chính phủ, công bố nhân dịp hội thảo Biển Đông hồi tháng 3 năm 2009, có ghi chép : Ngày 30 tháng 7 năm 1977 : « Tám ngày sau khi ông Đặng Tiểu Bình chính thức khôi phục lại địa vị, trong một tuyên bố chính sách đối ngoại của TQ, ngoại trưởng Hoàng Hoa nói : lãnh thổ của TQ chạy xa mãi về phía nam, tận bãi Tăng Mẫu gần Bornéo của Mã Lai…, các người có thể thăm dò chúng nếu các người muốn, nhưng khi thời cơ đến, chúng tôi sẽ thu hồi chúng hoàn toàn, không cần phải thuơng lượng gì hết vì các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc… ». Đoạn này cũng không nói đến biển chữ U mà nói các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc…
Trên báo chí, sách vở và tài liệu nước ngoài, bắt đầu đề cập đến tranh chấp biển Biển Đông từ thập niên 80. Nguyên nhân vào năm 1980, công ty Pertamina của Nam Dương khám phá mỏ dầu ở vùng đảo Natuna, bản đồ chữ U tái xuất hiện bao gồm thêm đảo Natuna. Việc này phía Nam Dương phản đối mạnh, báo chí có nhắc nhở. Ý nghĩa của bản đồ chữ U cũng chỉ giới hạn về chủ quyền các đảo thuộc TQ.
Về văn kiện chính thức, tác giả viết bài chưa đọc hay thấy tài liệu nào từ phía TQ chính thức dẫn tấm bản đồ chữ U, ngoại trừ công hàm ngày 7 và 8 tháng năm 2009 vừa qua để phản đối hai hồ sơ của VN mà Mã Lai (nộp chung).
Như thế, tạm kết luận rằng, bản đồ chữ U từ 1982 trở về trước có ý nghĩa : TQ có chủ quyền các đảo trong khu vực đó (đồng thời giả thuyết về vùng nước lịch sử của TQ).
Từ 1982 trở đi thì bản đồ chữ U có ý nghĩa : khẳng định khu vực biển của TQ. Điều này có thể hiểu vì năm 1982 Luật Quốc tế về Biển ra đời, theo đó, các đảo cũng có hiệu lực như trên đất liền về lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền, thềm lục địa. TQ đã thông qua công ước này năm 1996. Do đó quan niệm chủ quyền về biển chữ U của TQ, sau 1982, do hiệu lực của HS và TS (vì TQ có chủ quyền ở HS và TS theo công hàm của ông Phạm Văn Đồng). Diện tích khu vực biển này co giãn tùy theo nhu cầu và đối tượng.
Giả thuyết về biển lịch sử của TQ khó đứng vững vì công ước về Biển 1982 không có khoản nào định nghĩa về biển lịch sử.
Nhưng TQ là bậc thầy về chiến lược; họ luôn úp úp, mở mở về ý nghĩa của bản đồ này, làm nhiều người không biết TQ muốn gì .
Sau khi TQ sát nhập đảo Natuna vào bản đồ chữ U, Nam Dương phản đối mạnh mẽ, đồng thời vũ trang mạnh. Đây là nước dông dân nhất khu vực Đông Nam Á và có quân lực mạnh nhất. Từ năm 2000 trở lại đây thì bản đồ chữ U loại trừ đảo Natuna, có nghĩa là TQ đã nhượng bộ. Thí dụ khác, bản đồ chữ U từ năm 1950 thì có thêm quần đảo Sulu, nhưng những năm sau này thì bản đồ này không bao gồm quần đảo này nữa.
Như thế, biển chữ U của TQ có thể rất lớn nếu các nước chung quanh lo sợ. Nhưng sẽ rất nhỏ, hay không có gì, nếu các nước chung quanh không nhượng bộ.
TQ đã ký và thông qua Luật Quốc tế về Biển 1982, bản đồ chữ U hôm nay chỉ là minh họa, thay đổi tùy theo tương quan lực lượng, nhưng chắc chắn ý nghĩa của bản đồ chữ U sẽ được TQ giải thích theo luật Biển 1982 cho dư luận quốc tế lúc cần thiết.
7. Kết luận
Ta thấy từ Tiểu Đổ Chú Hà, Tiểu Phân Mao Lãnh, đền thờ Phục Ba, đất Đèo Lương, núi Khấu Mai, đất Nam Quan, điểm nối ray, thác Bản Giốc (sau này có thêm vụ chuối xanh, vì chỉ có người Hoa trồng chuối trên biên giới), người Hoa thì đất của người Hoa, nghĩa trang người Hoa thì đất của người Hoa v.v… cho đến Thất Châu Dương, Cửu Nhũ Loa Châu, Thạnh Ðường, Thiên Lý Thạnh Ðường, Vạn Lý Thạnh Ðường, Trường Sa, Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa, bản đồ chín gạch… đều do phía TQ đặt ra để chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển của VN. Tất cả rõ ràng chỉ là những bịa đặt lếu láo, rất sơ đẳng, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, chỉ gạt được những người không biết. Đều trớ trêu là cái luận điệu sơ đẳng bịa đặt lặp đi lặp lại này đã giành được đất của dân tộc Việt Nam không biết bao nhiêu lần. Và có thể nó vẫn tiếp tục lường gạt được người Việt Nam.
Phải chăng dân tộc ta có vấn đề ?
Đến hôm nay vẫn còn học giả VN, có người vẫn ảnh hưởng hỏa mù của TQ qua các ý nghĩa của biển chữ U. Có người vẫn không dám đối diện với ý nghĩa của công hàm ông Phạm Văn Đồng, kể cả không muốn biết TQ đã có các âm mưu gì và sẽ có các âm mưu gì ?…
Khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng : Muốn đối phó với « biển lịch sử » của TQ, VN phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982. Bản đồ lịch sử chín gạch chữ U của TQ sẽ bị hiệu lực HS và TS hóa giải không còn cái gạch nào. Xem trường hợp đảo Natuna của Nam Dương thì rõ rệt. Nhưng muốn vậy, trước tiên VN phải mạnh và phải vô hiệu hóa công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Trường hợp TQ trả đất Tụ Long cho VN năm 1724 cũng vậy, là do VN mạnh chứ không hề do hoàng đế anh minh nào cả. Nếu VN thời đó « yếu » (như hôm nay), chắc chắn Tụ Long đã mất trước khi Pháp vào VN.
Phương pháp để hóa giải bản đồ chín gạch, nếu TQ dưạ theo Luật Biển 1982 (giả thuyết này hầu như là 99%), phía VN cũng phải khẳng định chủ quyền các đảo HS&TS đồng thời đòi hỏi hải phận và thềm lục địa của các đảo theo Luật Biển 1982. Và muốn làm như thế cũng phải vô hiệu hóa trước tiên công hàm ông Phạm Văn Đồng.
Chính sách giữ nước của Đảng CSVN hiện nay có khuynh hướng hủy bỏ hiệu lực của các đảo HS và TS, tức tự hủy hoại thân thể, tự đốt nhà của mình. VN quá « yếu », không thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ VN, mặt khác, công hàm ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố HS&TS là của TQ, đòi lại sao được ? Do đó nhà nước CSVN nhất định để mất HS&TS chứ không tìm cách hóa giải công hàm này thông qua một quá trình dân chủ hóa và hòa giải dân tộc.
Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa ?
Hồ sơ công bố của VN về thềm lục địa vừa qua đã cho thấy rõ rệt chính sách của nhà nước. Có thể có những « options » khác, có lợi cho VN, nhưng chưa chắc đảng CSVN sẽ chọn. Rất có thể quần đảo HS và TS sẽ không có hiệu lực, giá trị gì hết ! Đây là một quyết định nhất thời cứu nguy cho Đảng CSVN nhưng rất nguy hiểm, vì nó có ảnh hưởng không thể đảo ngược, làm mất vĩnh viễn quyền lợi của dân tộc VN tại HS và TS.
Vào các năm 1860 thời Tự Đức, lúc Pháp đã đặt chân ở Nam Kỳ và lăm le ra Bắc Kỳ, tình cảnh người dân Bắc Kỳ hết sức dửng dưng. Lúc quân Pháp chiếm thành Hà Nội thì dân chúng đổ ra coi, như là trò vui. Triều đình đối xử với dân như tôi mọi, như kẻ thù địch thì người dân xem việc Pháp chiếm đất là việc của nhà vua. Việt Nam thời nay không khác Việt Nam thời Tự Đức. Đất nước gặp lúc mạt vận thì dân tình nó như thế.
Chợt nghĩ đến bài “Bauxite Tây Nguyên, phép thử phản xạ tự vệ của quốc gia Việt” của tác giả La Thành mới đăng gần đây. Bài viết thật là hay, thâm thúy. Không biết bô-xít thử trí thức VN sẽ phản xạ thế nào, nhưng về HS&TS và Biển Đông thì mọi việc đã được nhà nước an bài, không cần phép thử nữa. Đây là hiện tượng báo trước rã đàn của dân tộc Việt!
Hay là Trọng Thủy đang giữ nội chính trong cung đình ? Ở điểm này cũng đáng để mất thì giờ nghiên cứu. Sẽ trở lại hồ sơ Trọng Thủy trong bài tới.
Nhưng nhìn lại như thế cho thấy giải pháp duy nhất để giữ nước hiện nay là « dân chủ hóa » đất nước. Đảng CSVN không thể vì quyền lợi của một nhóm người mà hy sinh quyền lợi lớn lao của cả dân tộc.
Tham khảo
Tài liệu internet
Tạ Quốc Tuấn, Vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan
Phạm Hoàng Quân, Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007
Nguyễn Quang Ngọc, Địa danh Trung Quốc các quần đảo giữa Biển Đông, Lịch sử một thế kỷ chuyển đổi, www.hoangsa.org
Cao Xuân Thự, Điểm lại những sự kiện chính trong cuộc tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và mấy nhận xét về cách gây xung đột về biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, www.hoangsa.org
Tài liệu đóng tập
Tập san Sử Địa số 29, Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, Văn Nghệ Khai Trí, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1975
Chemillier-Gendreau, Monique. La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys. Harmattan, 1996
Fourniau, Charles. Vietnam Domination coloniale et résistance nationale 1858-1914. Les Indes Savantes, 2002
Brisset, Vincent. La Chine, Une Puissance Encerclé ?, IRIS, 2002
Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay của NXB Sự Thật, năm 1979
Tài liệu thuộc văn khố CAOM, Pháp
Deloustal. Les Mines de Tu-Long. AOM. Cote B 2899 ou B 6326.
Dévéria, La Frontière Sino-Annamite. Descriptions Géographique et Ethnographique. AOM, cote D 1198
Famin, Au Tonkin et sur la frontière du Quang-Si. SOM, cote C 43.
Dr Néïs , Sur Les Frontières Du Tonkin – Le Tour Du Monde, năm 1887. CAOM. BIB, SOM, Cote 20.543.
Les Frontières du VietNam. Histoire des Frontières de la péninsule Indochinoise. Paris, l’ Harmattan. 1989. AOM. Cote 42934.
Ministère des Affaires Etrangères de la RSVN 1981. Les Archipels Hoang-Sa et Truong-Sa.
Hồ sơ Phân định Biên giới 1886-1894 : Cartons : 65353, 65354, 65355, 65356, 65357, 65358, 65359, 65360. Indo, GGI.
Tài liệu Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp
Hồ sơ « Công ước Pháp-Thanh 1887 ».
© 2009 Trương Nhân Tuấn
© 2009 talawas blog
Bình luận
61 Comments (bài “Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (3)”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 Trang sau »
http://www.amazon.co.uk/gp/search?index=books&linkCode=qs&keywords=0765605678
Trang 147: Chinese foreign minister has told him [Indonesian foreign minister] that China considers the Natunas to be under Indonesain jurisdiction and has never claimed them.
Footnote 51 nói sự kiện này được công bố ngày 24-25/7/1995.
Tổng kết nhiều tài liệu, tôi thấy có tài liệu thì nói là TQ có đòi đảo, có tài liệu thì nói TQ chỉ đòi biển gần đảo.
So sánh với những đảo hay quần đảo mà TQ tranh chấp như HS, TS, Scarborough, Senkaku/Diaoyu/Điếu Ngư tôi thấy rõ ràng là:
_TQ có nhiều tuyên bố, công hàm, hành động, phản đối chủ quyền/hành động của nước khác đối với những đảo này, nhưng không có hay hầu như không có đối với đảo Natuna.
_TQ nói “has never claimed” chứ không phải nhượng bộ như đối với những vùng lãnh thổ mà họ nhượng bộ cho Nga.
_Nhật còn mạnh gấp bội Indo mà TQ đâu có nhượng bộ Senkaku/Diaoyu/Điếu Ngư.
Vì vậy lập luận của báb TNT hơi stretch a point, nếu có point.
Nếu cho là TQ không đòi Natuna, nếu có sự kiện (như 1 bản đồ, 1 tuyên bố cá biệt – tôi không lại bỏ khả năng này) và sau đó tuyên bố là không và chưa bao giờ đòi thì có lẽ là nắn gân Indo hơn là thật sự đòi đảo Natuna nhưng phải nhượng bộ vì Indo mạnh.
Nhật còn mạnh hơn Indo nhiều.
Qua Phản hồi mới nhất của ông (NQ, 05/06/2009, 1:25 chiều) thì tôi phải hoan nghênh tinh thần hoà nhã của ông để đem lại không khí trong lành và nhất là hữu ích cho cuộc tranh biện quan trọng này, nhất là đã có những biểu hiện mất bình tĩnh, sử dụng những ngôn từ tuy mầu mè nhưng thực tế là lăng mạ người đối thoại mà tôi đã buộc lòng phải gọi là càn rỡ.
Xin tham khảo ở đây, những điều không viết trong các sách của Brisset và Lacoste, về Natuna.
(http://www.library.ohiou.edu/indopubs/1999/10/14/0003.html)
(http://www.arte.tv/fr/Comprendre-le-monde/le-dessous-des-cartes/392,CmC=684870,view=maps.html)
Tôi có mấy ý trả lời ông TN Tuấn rồi xin dừng để không làm mất thì giờ độc giả.
1.Tôi không “hạ giá” Yves Lacoste hay J-V Brisset và sách của các học giả này. Mấy quyển ông dẫn trình bày bao quát nhiều vấn đề về các khu vực trên thế giới. Thế nên những gì họ viết về Natuna hay Sulu chỉ vỏn vẹn có mấy câu.
Như vậy đủ để ông tổng hợp lại vào bài viết, nhưng không đủ để ông hiểu kỹ và trả lời ông DD Huy.
Bằng chứng là với phương pháp suy diễn quen thuộc, ông cho rằng mấy cái “móc” trên bản đồ 9 gạch có ý thâu gồm Natuna và Sulu vào trong vùng biển chữ U, điều mà các học giả không hề đề cập. Đó là cái sai rất căn bản khi đọc bản đồ.
Hơn nữa, Trung Quốc chỉ “lấn cấn” với vùng biển Natuna trong khoảng thời gian 1993-1997, trong khi 3 cái “móc” đã xuất hiện trên bản đồ 9 gạch, ít ra là từ 1972.
(http://www.nansha.org.cn/maps/)
2.Về vấn đề Natuna, tôi chưa phủ nhận hay tán thành việc ông nói TQ đòi chủ quyền tại quần đảo Natuna. Có những tài liệu viết như vậy dựa trên tuyên bố hồi 6/1995 của Trần Kiện, phát ngôn nhân Bộ ngoại giao Trung Quốc.
Công bằng mà nói, ông Tuấn viết có cơ sở, nhưng ông Huy đúng khi khẳng định TQ chưa bao giờ ra công hàm chính thức đòi chủ quyền Natuna cũng như phản đối chủ quyền hợp pháp của Indonesia.
Những bằng chứng mà TN Tuấn dẫn từ sách không thuyết phục, vì ông có một chuỗi “thành tích” hiểu sai tài liệu (cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, Anh), mà mọi người đã chỉ ra nhiều lần: hiểu sai bài trên Wikipedia tiếng Pháp về vụ Rockall, hiểu sai câu tiếng Việt trên bài của Peter Yu về bản đồ chữ U, hiểu sai báo cáo thềm lục địa của VN cho là nó đòi TLĐ của Trường Sa, nhìn bản đồ chữ U tưởng mấy đường ranh giới là những cái “móc” để “câu” đảo Sulu và Natuna (giống như ngư ông “câu” cá!), v.v. (còn rất nhiều) (Đó là chưa nói đến chuyện Valencia là người Phi và 18 cái atlas trích dẫn công văn PVĐ, là những chuyện cố ý bịa!) Vì vậy, tôi đã hỏi ông dẫn nguyên văn những câu chứng tỏ là TQ đã từng claim Natuna. Nay ông dẫn thêm vài cuốn sách nữa, tôi xin lập lại lời yêu cầu đó.
Xin lỗi cho tôi đính chính lại như sau:
Những sách tôi đọc đều nói tối đa là như sau:
Indo thấy có 1 bản đồ TQ có bao gồm Natuna.
BT NG Indonesia Ali Atlas hỏi TQ có đòi đảo Natuna không.
NT NG TQ Qian Qichen trả lời TQ cho rằng đảo Natuna thuộc Indo và TQ chưa bao giờ đòi Natuna.
Vì có sách và tài liệu nói Indo thấy có bản đồ TQ có chồng lấn lên vùng biển thuộc nhóm Natuna.
Đính chính này không làm giảm đi lập luận của tôi.
Bác Trương Nhân Tuấn,
Tôi không hiểu vì lý do nào quí ông Nghiêm Quang và Dương Danh Huy bất chấp các thực tế lịch sử để cho rằng việc TQ dành Natuna của Nam Dương đầu thập niên 1980 là không có ?
Bác có thể đưa ra công hàm nào của CP TQ, hay sự kiện có ngày tháng nào về TQ đòi đảo Natuna không?
Những tuyên bố và đạo luật về đường cơ sở, lãnh hải, EEZ của TQ từ năm 1958 tới nay có bao giờ đề cập tới đảo Natuna không?
Bác có thể đưa ra lời phản đối nào của TQ về chủ quyền Indo ở đảo Natuna không?
Những sách tôi đọc đều nói như sau:
Indo thấy có 1 bản đồ TQ có bao gồm Natuna.
BT NG Indonesia Ali Atlas hỏi TQ có đòi đảo Natuna không.
NT NG TQ Qian Qichen trả lời TQ cho rằng đảo Natuna thuộc Indo và TQ chưa bao giờ đòi Natuna.
Giữa NT NG nói “không” và “chưa bao giờ” (thay vì “rút lại”) và 1 bản đồ bao trùm Natuna (mà tôi thú nhận là không biết là bản đồ gì, có chính thức hay không), và với việc chưa ai đưa ra công hàm, tuyên bố của TQ đòi Natuna, tôi thấy cho là TQ chưa bao giờ đòi hỏi đảo Natuna thì hợp lý hơn.
(TT)
Tôi đã rất chần chừ không muốn tham gia cuộc tranh cãi. Khi tôi quyết định tham gia thì tôi cũng viết rất nhẹ nhàng, với tựa “Khác biệt ý kiến giữa Dương Danh Huy và Trương Nhân Tuấn về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông”:
(http://www.talawas.org/?p=2692)
Sau đó ông Tuấn tiếp tục trong 1 số bài như
(http://www.talawas.org/?p=2383)
và bài với tựa “Về các dẫn chứng sai của ông Dương Danh Huy”:
(http://www.talawas.org/?p=2541)
Bài trả lời của tôi cũng tương đối nhẹ nhàng “Về những phản biện của ông Trương Nhân Tuấn”:
(http://www.talawas.org/?p=2692)
vv và vv.
Tới một nào, nếu tôi thay đổi ý không muốn nói ra những điều sai của ông TNT thì đó cũng là điều bình thường, và điều đó cũng không đi ngược với điều tôi nói:
Nếu bác LT Huy tra thì bác có thể thấy trong hầu hết 9 tháng qua tôi không bình luận về các bài viết của ông TNT hay nói về những điểm sai trong các bài đó.
và
Trước những tranh luận trên Talawas tôi rất ít tranh cãi về những bài viết của ông TNT. Quan điểm của tôi là, “Thôi kệ, những bài đó cũng gây thêm quan tâm về Biển Đông”.
Bác Nguyễn Nhật Anh,
NNA: Đọc qua 4 trang, tôi thấy anh viết tới 14 posts, có nhiều post anh nói anh không muốn đi vào chi tiết hoặc chỉ ra cái sai của ông TNT nhưng tôi thấy hầu như post nào anh cũng đi vào chi tiết và tìm cái mà anh cho là sai và phân tích nó rất chi tiết.
Những điều tôi nói là như sau:
DDH: Nếu bác LT Huy tra thì bác có thể thấy trong hầu hết 9 tháng qua tôi không bình luận về các bài viết của ông TNT hay nói về những điểm sai trong các bài đó.
và
Trước những tranh luận trên Talawas tôi rất ít tranh cãi về những bài viết của ông TNT. Quan điểm của tôi là, “Thôi kệ, những bài đó cũng gây thêm quan tâm về Biển Đông”.
Khi đã đi vào tranh cãi trên Talawas (trong 2 tháng qua) thì dĩ nhiên tôi phải nói ra 1 số điều mà tôi cho là sai. Nhưng điều đó cũng không ngược với 2 điều tôi nói trên.
Nếu bác theo dõi hay tra từ 08-09/2008, bác sẽ thấy bác TNT viết 1 số bài về tôi và bài của tôi trước, và sau đó đả kích bài Nam Côn Sơn Lê Minh Phiếu và tôi viết chung trước, sau đó thỉnh thoảng lại đả kích.
Trong khi đó, ngoài cuộc “hội luận” giữa bác TNT và tôi trên X-Cafe năm ngoái và 1 tranh cãi duy nhất, tôi không nói gì về bác TNT, bài, hay quan điểm của bác ấy.
Bác cũng có thể thấy cho tới “Talawas” tôi không có bài viết nào về bác TNT.
Bác TNT là người viết về tôi và bài viết của tôi trên Talawas trước:
(http://www.talawas.org/?p=1613)
(http://www.talawas.org/?p=1944)
(CT)
“Ông Huy cứ đi theo con đường riêng của mình, cứ tầm gửi trí tuệ trên các cổ thụ khác mà nghiên cứu …”
Tiên sinh phát ngôn càn rỡ quá, Trương Tiên sinh !
Tôi có vài ý kiến góp thêm với quí vị quan tâm.
Về ông Nghiêm Quang, ông viết thế này : « Tiểu mục sau là phần cắt dán từ bài cũ 2006 Vấn-đề Biển Đông: Trung-Quốc hùng-phong đại-quốc cùng luận điệu lặp tới lặp lui trên các bài viết gần đây: ý nghĩa chính của biển chữ U đến từ công hàm PVĐ! »
Sau đây là link của bài Vấn đề Biển Đông : Trung Quốc Hùng Phong Đại Quốc. Bài này tôi viết vào tháng 3 năm 2007.
http://fr.blog.360.yahoo.com/blog-EGs0TdElabNXphrx56VTXO2Qa8378w–?cq=1&p=26
Quí độc giả đọc và xin cho ý kiến : tôi có « cắt dán » hay « viết lặp đi lặp lại » hay không ? Nội dung hai bài này hoàn toàn khác nhau, mỗi bài có hàng trăm dữ kiện trích dẫn từ nhiều nguồn khác nhau. Hai bài chỉ có một điểm chung về dữ kiện bản đồ 2 trích từ « La Chine, une puissance encerclé ? » của Jean-Vincent Brisset, NXB Barnéoud, mai 2002. Để ý trong bài « Vấn đề Biển Đông : Trung Quốc Hùng Phong Đại Quốc » tôi không bỏ quên tên lót « Jean » của tác giả.
Ông Nghiêm Quang cũng viết : « Khi tranh luận, nhiều lần, tài liệu bảo chứng của ông là những quyển thuộc loại phổ biến kiến thức, ngắn gọn và dễ hiểu như sách của J-V Brisset trên đây và Atlas des Atlas đã từng đề cập, hay thậm chí Géopolitique-La longue histoire d’aujourd’hui của Yves Lacoste. »
Theo tôi nghĩ, ông Nghiêm Quang chưa đủ « trọng lượng » để phê bình các quyển sách này cũng như các tác giả của nó. Nhưng tạm cho rằng các quyển sách đó là « phổ biến kiến thức » – nói như ông Nghiêm Quang – thực ra phải nói «kiến thức phổ thông hay đại chúng », nhưng các dẫn chứng tôi trích từ các sách này đúng hay sai ? Và thế nào là « phổ biến kiến thức » ? Sách khoa học nào lại không nhằm mục đích phổ biến kiến thức ? Vấn đề là các dữ kiện trong sách đó đúng hay sai và tác giả đó có uy tín hay không.
Về các tác giả, ông Yves Lacoste là một Giáo Sư trụ cột của ngành địa lý và địa lý chính trị Pháp Quốc. Ông có khoảng 20 tác phẩm quan trọng và cũng là nhà sáng lập tập san Hérodote chuyên về địa lý chính trị. Ông Jean-Vincent Brisset là một nhà nghiên cứu Hán Học nổi tiếng, là chủ tịch trung tâm nghiên cứu chiến lược IRIS đồng thời cũng là hội viên sáng lập của Viện Chiến Lược Trung Quốc và Châu Á. Các tác phẩm của hai tác giả này đều có trong các tủ sách đại học trên thế giới.
Về vấn đề đảo Natuna. Ngoài hai tài liệu của hai tác giả dẫn trên có ghi rằng TQ có tham vọng dành đảo Natuna, hai tài liệu sau đây viết rõ ràng hơn về căng thẳng giữa TQ và Nam Dương về chủ quyền đảo Natuna : 1/ Géotratégie de la Mer de Chine Méridionale et des Bassins Maritimes Adjacents của Eric Dénécé, trang 201-202 và 2/ Géostratégie du Pacifique của Hervé Coutau-Béragie, trang 235. Theo hai tài liệu này thì TQ dành đảo Natuna năm 1980 vì nơi đây vừa khám phá mỏ dầu khí. Năm 1995, TQ hứa hẹn với Nam Dương là không tranh chấp với nước này nữa về chủ quyền đảo Natuna (sau khi Nam Dương điệu võ dương oai trên vùng biển của đảo này). Ta thấy TQ chỉ nhượng bộ khi chạm mặt với kẻ mạnh. Chi tiết này rất quan trọng, chưa từng ai sử dụng, kể cả bài viết « Vấn đề Biển Đông : Trung Quốc Hùng Phong Đại Quốc » mà tôi đã viết từ năm 2007.
Tôi không hiểu vì lý do nào quí ông Nghiêm Quang và Dương Danh Huy bất chấp các thực tế lịch sử để cho rằng việc TQ dành Natuna của Nam Dương đầu thập niên 1980 là không có ? Ông Nghiêm Quang cố gắng « hạ giá » các học giả mà tôi đã trích dẫn nhưng rất hoài công, sự thật vẫn là sự thật : TQ bịa chuyện, hoán đổi tên các địa phương để cướp đất, cướp đảo, cướp biển của VN. Nhưng điều ngạc nhiên là quí vị biện hộ cho sự ngang ngược của TQ để nhằm mục đích gì ?
Về ý nghĩa bản đồ chữ U, cuốn La Tentation Impériale của François Joyaux, trang 145-146, cho biết ý định của TQ dành các quần đảo ở biển Đông để có vùng biển ZEE kinh tế độc quyền. Tức là ý nghĩa bản đồ chữ U.
Các ông như François Joyaux, Yves Lacoste, Eric Dénécé, Hervé Coutau-Béragie… đều là các học giả nổi tiếng trên thế giới, tác phẩm của họ đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Tôi thấy hình như những người chống ý nghĩa bản đồ chữ U, như ông Nghiêm Quang, thì rất ít đọc sách !
Còn về ý nghĩa công hàm ông Đồng, tôi rất mong một bài viết phản biện lại bài viết của tôi. Ông Phạm Quang Tuấn viết : « bài đó trình độ kém quá, đầy rẫy cái sai và ẩu ». Xin mời ông PQ Tuấn viết hẵn ra một bài chỉ rõ cái « kém », cái « sai » cái « ẩu » trong bài viết của tôi. Bài này tôi viết đã khá lâu, đối tượng là đảng CSVN, vì họ là người lãnh đạo và cũng là người có trách nhiệm về công hàm này. Ông Tuấn là gì của chế độ mà nóng ruột thế ? Viết được thì viết, không thì nên ngồi yên, chớ nên mang lòng rắn ngồi phun nọc bừa bãi
Về đề nghị viết chung với ông Dương Danh Huy, tôi nghĩ là việc không cần thiết. Tôi đã có con đường đi thênh thang riêng biệt của mình. Đề tài tôi không thiếu, tài liệu tôi dồi dào, chỉ sợ không có thì giờ khai thác. Ông Huy cứ đi theo con đường riêng của mình, cứ tầm gởi trí tuệ trên các cổ thụ khác mà « nghiên cứu biển Đông », hy vọng không làm thiệt hại đến quyền lợi của VN.
Tôi đề nghị hai ông Nghiêm Quang và Phạm Quang Tuấn ngồi im một chút. Đọc qua 4 trang thảo luận tôi rất mất thì giờ để scroll con chuột qua khỏi các ý kiến của 2 ông.
Riêng anh DDH thì tặng cho anh một câu của Khổng Tử “Người phải thì không phân trần dài dòng, người không phải mới nói dai và phân trần” (tôi không đồng ý với KT lắm nhưng thấy nó cũng rất đúng trong nhiều trường hợp). Đọc qua 4 trang, tôi thấy anh viết tới 14 posts, có nhiều post anh nói anh không muốn đi vào chi tiết hoặc chỉ ra cái sai của ông TNT nhưng tôi thấy hầu như post nào anh cũng đi vào chi tiết và tìm cái mà anh cho là sai và phân tích nó rất chi tiết.
Còn riêng hai nhà võ thuật Nghiêm Quang và PQT thì tôi thấy sao mà nhỏ nhặt như đàn bà. (Xin lỗi chị em phụ nữ, cái gì của phụ nữ thì chỉ đẹp với phụ nữ, giống như chi li lo cho gia đình, bà 8 khi gặp nhau v.v. Nhưng nếu đàn ông mà có mấy cái tính đó thì người ta gọi là “sao mày giống đàn bà quá” thì nghe nó oải thiệt.) Cái tên sai tí xíu cũng bắt bẻ. Sao 2 ông không viết vài bài chửi chính phủ VN về vụ “Nguyễn Huệ Chi” thành Nguyễn Thị Huệ để thể hiện tình thần yêu nước?
Tôi xin đề nghị để tránh dài dòng và biến tất cả mọi người đàn ông ở đây thành đàn bà, xin anh DDH viết một bài hoàn chỉnh của riêng anh để đáp lại bài này của ông TNT, còn 2 vị kia nếu đủ nội công thì cũng viết (200 chữ cũng được). Tôi thấy cứ tình trạng này thì loạn cả lên. Hay nhất là bình luận vài ý chính và để tự độc giả đánh giá.
Tôi ghi nhận và cám ơn nhắc nhở của các bạn Phùng Tường Vân và whoami có liên quan đến cá nhân tôi. Thắc mắc một câu, whoami đứng từ vị trí nào để xếp hạng người khác?
*
Xin minh định vài điều về cụm từ “phổ biến kiến thức” có vẻ thiếu khiêm nhường và gây hiểu lầm.
Ý tôi là khi thảo luận về một vấn đề hẹp X, nên tham khảo sách vở, bài viết mà mục tiêu chính là nói về X. Các tài liệu bàn về một vấn đề A bao trùm và rộng hơn X nhiều lần, tuy có nói về X nhưng sẽ không được chính xác và tường tận.
Cụ thể, những quyển bách khoa tự điển, atlas, sách địa chánh trị về các khu vực trên thế giới tuy rất có giá trị nhưng không cung cấp đầy đủ thông tin về Biển Đông bằng các bài viết (hay thậm chí chương trình TV) chuyên về đề tài này.
Tôi bàn về phạm vi đề cập của tài liệu tham khảo so với đề tài thảo luận, không đòi hỏi phải đạt chuẩn nghiên cứu để được duyệt đăng trên tạp chí quốc tế.
*
Cũng xin cám ơn hai ông Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn. Đóng góp của hai ông giúp tôi hiểu rõ hơn về các khái niệm luật biển, báo cáo thềm lục địa mở rộng và hiện trạng tranh chấp ở Biển Đông.
Cám ơn ông Trương Nhân Tuấn đã khơi gợi đề tài. Tôi vẫn tôn trọng các nghiên cứu của ông, ngoại trừ lập luận trong những bài viết gần đây trên talawas mà tôi có bất đồng.
Xin được có một cái nhìn như thế này.
Khi xả thịt một con bò dân “chuyên môn” cần phải có nhiều thứ dao: dao to, dao bé, dao tròn, dao dài v.v…
Talawas và tất nhiên như mọi báo có chỉ tiêu đại chúng đứng nằm ở đâu chắc tất cả người theo dõi đều thấy, khỏi cần phải vỗ ngực “mea culpa”.
Chuyện trước mắt phải làm gì, có múa gậy thì vườn cũng không có hoang đâu: chí lớn nhưng không coi thường.
Trước hết, phải nói rằng ông DDH xứng đáng được tặng một tràng hoa vì tinh thần thượng võ trong khi tranh luận. Dòng dõi họ Dương ở Vân Đình có khác!
Đáng chê trách hơn cả trong cuộc tranh luận là các ông 1. PQT, 3. NQ và 3. TNT (xếp đồng hạng và không có hạng 2). Đặc biệt là ông PQT. Đã đành tranh luận phải chỉ ra cái sai, nhưng cái cách của ông làm người đọc thấy rất phản cảm. Người ta chỉ thấy ở ông một thái độ rất nhỏ nhen, độc ác khi tranh luận, chỉ tìm mọi cách bỉ mặt đối thủ.
Xin nói thêm về cuộc tranh luận Biển Đông. Thoạt tiên rất thích thú, vì qua đó, học hỏi được nhiều điều. Tuy nhiên càng ngày càng thấy oải chè đậu. Vì biết ngay rằng cứ A tung một bài là kéo theo sự “phỉ báng” của B. Càng lúc càng bầy nhầy. Chẳng giải quyết được cái gì. Và nó đi xa khỏi ý nghĩa của các bài viết về biển Đông là “phổ biến kiến thức”.
Thế là đủ! Đề nghị Talawas chấm dứt các bài về biển Đông! Nếu phải đăng thì trước khi đăng nên có phản biện. Hoặc không đề nghị các tác giả của chúng ta mạnh dạn gửi bài đến các tạp chí quốc tế, chẳng hạn:
– International Security: (http://www.mitpressjournals.org/is)
– Journal of Conflict Resolution
(http://jcr.sagepub.com/)
…