talawas blog

Chuyên mục:

Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (3)

01/06/2009 | 10:02 sáng | 61 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

8. Ý nghĩa của bản đồ 9 gạch 

Tấm bản đồ này xuất hiện không biết chính xác từ khi nào (có nhiều nguồn nói khác nhau : xuất hiện năm 1914, 1920, 1930 ; thậm chí có nguồn nói xuất hiện từ thế kỷ 19 !)  nhưng chắc chắn cũng là một thủ thuật cổ điển của TQ như dàn dựng các tên giả, hay hoán đổi tên các làng v.v… để chiếm đất của VN. TQ dựng ra tên Tiểu Đổ Chú Hà để lấy đất Tụ Long, dựng ngọn Tiểu Phân Mao Lãnh cướp đất Kiến Duyên và Bát Tràng, hoán đổi tên làng xã để chiếm đất Đèo Lương, vẽ bản đồ để chiếm thác Bản Giốc, xây đường rày xe lửa để chiếm đất Nam Quan… Chắc chắn tấm bản đồ chín gạch này dựng lên cũng để chiếm biển và đảo của VN, nó thay đổi nội dung tùy theo khả năng và tham vọng bành trướng của TQ.

Bản đồ chín gạch, có «móc và » quần đảo Sulu (giữa Mã Lai và Phi) và đảo Natuna của Nam Dương

Bản đồ chín gạch, có «móc và » quần đảo Sulu (giữa Mã Lai và Phi) và đảo Natuna của Nam Dương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nghiên cứu bản đồ 2 ( trích từ cuốn La Chine, Une Puissance Encerclé?, xem mục tham khảo)  tức bản đồ xác định lãnh thổ và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trước năm 1840. Ta thấy có 21 vùng đất trước 1840 thuộc Trung Hoa hay thần phục Trung Hoa (ghi theo A, B, C…), đó là :

 

Bản đồ 2, minh họa các vùng đất của TQ đã bị «mất» trước 1840
Bản đồ 2, minh họa các vùng đất của TQ đã bị «mất» trước 1840

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

A: đảo Sakhaline, nhường cho Nga và Nhật. B : Vùng đất Đông Bắc, phía Đông Hắc Long Giang (Amour), nhượng cho Nga theo hiệp ước Bắc-Kinh năm 1860. C : Vùng đất Đông Bắc, phía Tây Hắc Long Giang, nhượng cho Nga năm 1858 theo hiệp ước Aigun. D : Mông Cổ, tuyên bố độc lập năm 1924. E : Cộng Hòa Touva, tuyên bố độc lập năm 1921, sau đó sát nhập vào Liên Xô năm 1944. F : Vùng đất Tây Bắc, nhượng cho Nga qua hiệp ước Tacheng 1864. G : Pamir, bị Nga và Anh bí mật lấy chia với nhau năm 1896. H : Népal, độc lập năm 1898, sau đó trở thành thuộc địa Anh. J : Sikkim, Anh chiếm năm 1889. K : Bhoutan, độc lập năm 1865, sau đó trở thành thuộc địa Anh. L : Vùng biên giới Tây Bắc, bị Anh chiếm. M : Assam, Miến Điện nhượng cho Anh năm 1826. N : Miến Điện, thuộc địa Anh năm 1886. O : Đảo Andaman, thuộc địa Anh P : Thái-Lan, độc lập nhưng dưới sự kiểm soát của Anh và Pháp năm 1904. Q : Đông Dương, thuộc địa Pháp năm 1885. R : Mã Lai (phần lục địa), thuộc địa Anh năm 1985. S : Quần đảo Sulu, thuộc địa Anh năm 1895. T : Đài Loan, nhượng cho Nhật qua hiệp ước Simonoseki năm 1895. U : Quần đảo Điếu Ngư, Nhật chiếm năm 1910. V : Triều Tiên, độc lập năm 1895, trở thành thuộc-địa Nhật năm 1910.

Hai bản đồ này biểu lộ tham vọng của TQ bắt đâu từ thập niên 50. Bản đồ 2 được chính thức đưa vào học trình của chương trình trung học của bộ giáo dục Trung Quốc từ năm 1950 trong khi bản đồ chữ U thì không.

Về ý nghĩa của bản đồ chữ U, chắc chắn vào thời đó chỉ nhằm xác định các đảo trong khu vực chữ U thì thuộc về TQ. Bởi vì quan niệm về chủ quyền vùng biển chỉ mới có sau thế chiến thứ hai, qua các công ước về Biển 1958 và 1982. Trước đó thế giới chỉ có quan niệm về “lãnh hải” 3 hải lý, là tầm đạn đại bác.

Khái niệm về biển lịch sử cũng khá mới, nhưng sau đó không được thế giới chấp nhận, do đó ý nghĩa biển lịch sử chữ U của TQ không thuyết phục cộng đồng thế giới.

Tham vọng về chủ quyền trên biển của TQ bắt đầu khi nào cũng không chính xác, nhưng chắc chắn chỉ mới biểu lộ sau này. Nhiều tài liệu trên thế giới đều xác nhận rằng dân tộc Hán là một dân tộc “quay lưng ra biển, hướng vô lục địa”. Để ý bản đồ 2, vào các thập niên 40-50, TQ xem  Đài Loan là vùng đã bị mất. Đảo này, chỉ sát nhập vào TQ chậm trễ dưới thời nhà Thanh, do đề đốc Thi Lang. Cho rằng TQ có chủ quyền tại HS&TS, sau đó có chủ quyền vùng biển trên bản đồ 9 gạch, thì không có gì phi lý hơn.

Ở miền Nam VN ít ai nghe nói bản đồ 9 gạch. Năm 1974, sau khi chiếm HS, cũng không nghe nói đến bản đồ chữ U. Tuy nhiên, theo tài liệu của GS Tạ Quốc Tuấn, «Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan» viết: năm 1974, « lần đầu tiên Trung-Cộng đã công-khai bộc-lộ rõ nguyên-nhân thầm-kín thúc-đẩy việc tranh-chấp chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa: đó là nguồn tài-nguyên thiên-nhiên ở vùng này. Thực vậy, bản tuyên-bố ngày 11.1.1974 có câu: Các tài-nguyên thiên-nhiên trong các vùng biển quanh các quần-đảo này cũng thuộc về Trung-quốc. ». Cũng từ tài liệu này, ngày 4.2.1974, Bộ Ngoại-giao Trung-Cộng lại ra một bản tuyên-bố « Chính-phủ Trung-hoa đã nhiều lần tuyên-bố là các quần-đảo Nam-sa, Tây-sa, Trung-sa và Đông-sa tất cả đều là phần lãnh-thổ của Trung-quốc và nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa có chủ-quyền bất-khả tranh-nghị đối với các quần-đảo này và các hải-khu chung quanh các quần-đảo đó. ». Tài liệu đề cập đến từ ngữ « hải khu », tức khu vực biển, nhưng không hề đề cập bản đồ chữ U.

Tập san Sử Địa 29, Đặc khảo về HS và TS, xuất bản tháng 1 năm 1975, không có dòng nào nói đến bản đồ chữ U. Tập tài liệu La Souveraineté sur les Archipels Paracels và Spratleys của bà Monique Chemillier-Gendreau in năm 1996 cũng không có dòng nào nói đến tấm bản đồ này, ngoài hai bản đồ đính kèm như là bằng chứng của TQ đòi hỏi vùng biển.

Theo tài liệu của ông Cao Xuân Thự, Chuyên viên Vụ Biển, Ban Biên giới của Chính phủ, công bố nhân dịp hội thảo Biển Đông hồi tháng 3 năm 2009, có ghi chép : Ngày 30 tháng 7 năm 1977 : « Tám ngày sau khi ông Đặng Tiểu Bình chính thức khôi phục lại địa vị, trong một tuyên bố chính sách đối ngoại của TQ, ngoại trưởng Hoàng Hoa nói : lãnh thổ của TQ chạy xa mãi về phía nam, tận bãi Tăng Mẫu gần Bornéo của Mã Lai…, các người có thể thăm dò chúng nếu các người muốn, nhưng khi thời cơ đến, chúng tôi sẽ thu hồi chúng hoàn toàn, không cần phải thuơng lượng gì hết vì các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc… ».  Đoạn này cũng không nói đến biển chữ U mà nói các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc…

Trên báo chí, sách vở và tài liệu nước ngoài, bắt đầu đề cập đến tranh chấp biển Biển Đông từ thập niên 80. Nguyên nhân vào năm 1980, công ty Pertamina của Nam Dương khám phá mỏ dầu ở vùng đảo Natuna, bản đồ chữ U tái xuất hiện bao gồm thêm đảo Natuna. Việc này phía Nam Dương phản đối mạnh, báo chí có nhắc nhở. Ý nghĩa của bản đồ chữ U cũng chỉ giới hạn về chủ quyền các đảo thuộc TQ.

Về văn kiện chính thức, tác giả viết bài chưa đọc hay thấy tài liệu nào từ phía TQ chính thức dẫn tấm bản đồ chữ U, ngoại trừ công hàm ngày 7 và 8 tháng năm 2009 vừa qua để phản đối hai hồ sơ của VN mà Mã Lai (nộp chung).

Như thế, tạm kết luận rằng, bản đồ chữ U từ 1982 trở về trước có ý nghĩa : TQ có chủ quyền các đảo trong khu vực đó (đồng thời giả thuyết về vùng nước lịch sử của TQ).

Từ 1982 trở đi thì bản đồ chữ U có ý nghĩa : khẳng định khu vực biển của TQ.  Điều này có thể hiểu vì năm 1982 Luật Quốc tế về Biển ra đời, theo đó, các đảo cũng có hiệu lực như trên đất liền về lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền, thềm lục địa. TQ đã thông qua công ước này năm 1996. Do đó quan niệm chủ quyền về biển chữ U của TQ, sau 1982,  do hiệu lực của HS và TS (vì TQ có chủ quyền ở HS và TS theo công hàm của ông Phạm Văn Đồng). Diện tích khu vực biển này co giãn tùy theo nhu cầu và đối tượng.

Giả thuyết về biển lịch sử của TQ khó đứng vững vì công ước về Biển 1982 không có khoản nào định nghĩa về biển lịch sử.

Nhưng TQ là bậc thầy về chiến lược; họ luôn úp úp, mở mở về ý nghĩa của bản đồ này, làm nhiều người không biết TQ muốn gì .

Sau khi  TQ sát nhập đảo Natuna vào bản đồ chữ U, Nam Dương phản đối mạnh mẽ, đồng thời vũ trang mạnh. Đây là nước dông dân nhất khu vực Đông Nam Á và có quân lực mạnh nhất. Từ năm 2000 trở lại đây thì bản đồ chữ U loại trừ đảo Natuna, có nghĩa là TQ đã nhượng bộ. Thí dụ khác, bản đồ chữ U từ năm 1950 thì có thêm quần đảo Sulu, nhưng những năm sau này thì bản đồ này không bao gồm quần đảo này nữa.

Như thế, biển chữ U của TQ có thể rất lớn nếu các nước chung quanh lo sợ. Nhưng sẽ rất nhỏ, hay không có gì, nếu các nước chung quanh không nhượng bộ.

TQ đã ký và thông qua Luật Quốc tế về Biển 1982, bản đồ chữ U hôm nay chỉ là minh họa, thay đổi tùy theo tương quan lực lượng, nhưng chắc chắn ý nghĩa của bản đồ chữ U sẽ được TQ giải thích theo luật Biển 1982 cho dư luận quốc tế lúc cần thiết.

7. Kết luận 

Ta thấy từ  Tiểu Đổ Chú Hà, Tiểu Phân Mao Lãnh, đền thờ Phục Ba, đất Đèo Lương, núi Khấu Mai, đất Nam Quan, điểm nối ray, thác Bản Giốc (sau này có thêm vụ chuối xanh, vì chỉ có người Hoa trồng chuối trên biên giới), người Hoa thì đất của người Hoa, nghĩa trang người Hoa thì đất của người Hoa v.v… cho đến  Thất Châu Dương, Cửu Nhũ Loa Châu, Thạnh Ðường, Thiên Lý Thạnh Ðường, Vạn Lý Thạnh Ðường, Trường Sa, Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa, bản đồ chín gạch… đều do phía TQ đặt ra để chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển của VN. Tất cả rõ ràng chỉ là những bịa đặt lếu láo, rất sơ đẳng, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, chỉ gạt được những người không biết. Đều trớ trêu là cái luận điệu sơ đẳng bịa đặt lặp đi lặp lại này đã giành được đất của dân tộc Việt Nam không biết bao nhiêu lần. Và có thể nó vẫn tiếp tục lường gạt được người Việt Nam.

Phải chăng dân tộc ta có vấn đề ?

Đến hôm nay vẫn còn học giả VN, có người vẫn ảnh hưởng hỏa mù của TQ qua các ý nghĩa của biển chữ U. Có người vẫn không dám đối diện với ý nghĩa của công hàm ông Phạm Văn Đồng, kể cả không muốn biết TQ đã có các âm mưu gì và sẽ có các âm mưu gì ?…

Khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng : Muốn đối phó với « biển lịch sử » của TQ, VN phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982. Bản đồ lịch sử chín gạch chữ U của TQ sẽ bị hiệu lực HS và TS hóa giải không còn cái gạch nào. Xem trường hợp đảo Natuna của Nam Dương thì rõ rệt. Nhưng muốn vậy, trước tiên VN phải mạnh và phải vô hiệu hóa công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Trường hợp TQ trả đất Tụ Long cho VN năm 1724 cũng vậy, là do VN mạnh chứ không hề do hoàng đế anh minh nào cả. Nếu VN thời đó « yếu » (như hôm nay), chắc chắn Tụ Long đã mất trước khi Pháp vào VN.

Phương pháp để hóa giải bản đồ chín gạch, nếu TQ dưạ theo Luật Biển 1982 (giả thuyết này hầu như là 99%), phía VN cũng phải khẳng định chủ quyền các đảo HS&TS đồng thời đòi hỏi hải phận và thềm lục địa của các đảo theo Luật Biển 1982. Và muốn làm như thế cũng phải vô hiệu hóa trước tiên công hàm ông Phạm Văn Đồng.

Chính sách giữ nước của Đảng CSVN hiện nay có khuynh hướng hủy bỏ hiệu lực của các đảo HS và TS, tức tự hủy hoại thân thể, tự đốt nhà của mình. VN quá « yếu », không thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ VN, mặt khác, công hàm ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố HS&TS là của TQ, đòi lại sao được ? Do đó nhà nước CSVN nhất định để mất HS&TS chứ không tìm cách hóa giải công hàm này thông qua một quá trình dân chủ hóa và hòa giải dân tộc.

Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa ?

Hồ sơ công bố của VN về thềm lục địa vừa qua đã cho thấy rõ rệt chính sách của nhà nước. Có thể có những « options » khác, có lợi cho VN, nhưng chưa chắc đảng CSVN sẽ chọn. Rất có thể quần đảo HS và TS sẽ không có hiệu lực, giá trị gì hết ! Đây là một quyết định nhất thời cứu nguy cho Đảng CSVN nhưng rất nguy hiểm, vì nó có ảnh hưởng không thể đảo ngược, làm mất vĩnh viễn quyền lợi của dân tộc VN tại HS và TS.

Vào các năm 1860 thời Tự Đức, lúc Pháp đã đặt chân ở Nam Kỳ và lăm le ra Bắc Kỳ, tình cảnh người dân Bắc Kỳ hết sức dửng dưng. Lúc quân Pháp chiếm thành Hà Nội thì dân chúng đổ ra coi, như là trò vui. Triều đình đối xử với dân như tôi mọi, như kẻ thù địch thì người dân xem việc Pháp chiếm đất là việc của nhà vua. Việt Nam thời nay không khác Việt Nam thời Tự Đức. Đất nước gặp lúc mạt vận thì dân tình nó như thế.

Chợt nghĩ đến bài “Bauxite Tây Nguyên, phép thử phản xạ tự vệ của quốc gia Việt” của tác giả La Thành mới đăng gần đây. Bài viết thật là hay, thâm thúy. Không biết bô-xít thử trí thức VN sẽ phản xạ thế nào, nhưng về HS&TS và Biển Đông thì mọi việc đã được nhà nước an bài, không cần phép thử nữa. Đây là hiện tượng báo trước rã đàn của dân tộc Việt!

Hay là Trọng Thủy đang giữ nội chính trong cung đình ? Ở điểm này cũng đáng để mất thì giờ nghiên cứu. Sẽ trở lại hồ sơ Trọng Thủy trong bài tới.

Nhưng nhìn lại như thế cho thấy giải pháp duy nhất để giữ nước hiện nay là « dân chủ hóa » đất nước. Đảng CSVN không thể vì quyền lợi của một nhóm người mà hy sinh quyền lợi lớn lao của cả dân tộc.

Tham khảo 

Tài liệu internet

Tạ Quốc Tuấn, Vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan

Phạm Hoàng Quân, Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007

Nguyễn Quang Ngọc, Địa danh Trung Quốc các quần đảo giữa Biển Đông, Lịch sử một thế kỷ chuyển đổi, www.hoangsa.org

Cao Xuân Thự, Điểm lại những sự kiện chính trong cuộc tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và mấy nhận xét về cách gây xung đột về biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, www.hoangsa.org

Tài liệu đóng tập 

Tập san Sử Địa số 29, Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, Văn Nghệ Khai Trí, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1975

Chemillier-Gendreau, Monique. La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys. Harmattan, 1996

Fourniau, Charles. Vietnam Domination coloniale et résistance nationale 1858-1914. Les Indes Savantes, 2002

Brisset, Vincent. La Chine, Une Puissance Encerclé ?, IRIS, 2002

Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay của NXB Sự Thật, năm 1979

Tài liệu thuộc văn khố CAOM, Pháp 

Deloustal. Les Mines de Tu-Long. AOM. Cote B 2899 ou B 6326.

Dévéria, La Frontière Sino-Annamite. Descriptions Géographique et Ethnographique. AOM, cote D 1198

Famin, Au Tonkin et sur la frontière du Quang-Si. SOM, cote C 43.

Dr Néïs , Sur Les Frontières Du Tonkin – Le Tour Du Monde, năm 1887. CAOM. BIB, SOM, Cote 20.543.

Les Frontières du VietNam. Histoire des Frontières de la péninsule Indochinoise. Paris, l’ Harmattan. 1989. AOM. Cote 42934.

Ministère des Affaires Etrangères de la RSVN 1981. Les Archipels Hoang-Sa et Truong-Sa.

Hồ sơ Phân định Biên giới 1886-1894 : Cartons : 65353, 65354, 65355, 65356, 65357, 65358, 65359, 65360. Indo, GGI.

Tài liệu Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp 

Hồ sơ « Công ước Pháp-Thanh 1887 ».

© 2009 Trương Nhân Tuấn

© 2009 talawas blog

Bình luận

61 Comments (bài “Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (3)”)

  1. Phùng Tường Vân viết:

    Bây giờ lại bước sang chuyện “bản đồ chín gạch…”, cuộc thảo luận về Biển Đông thật đã kéo dài quá rồi, thật nhiều chuyên môn, tâm huyết… nhưng ngay đối với một độc giả không được trang bị về những khía cạnh chuyên môn của vấn đề như tôi, tôi cũng nhận ra không ít điều kỳ quặc, (nóng hổi nhất là phản hồi của Nghiêm Quang 04/06/2009, 5:03 sáng), vậy dựa theo một phát biểu của ông D.D. Huy vừa nói, tôi xin đề nghị các ông Huy (D.D.) Phạm Quang Tuấn và Trương Nhân Tuấn cùng viết chung với nhau một bài – dài cũng được -, cái chuyên môn thận trọng của các ông Huy, Tuấn (PQ), cộng với nhiệt huyết (tuy đôi khi có hơi “nhiệt” quá, “hồng” – dùng theo nghĩa D.D.Huy – lấn chuyên quá) đề cập lại vấn đề một cách có hệ thống hơn, cả ba vị nếu thoả thuận được với nhau, bắt tay làm được “công phu” ấy thì hay lắm, may lắm. Tôi thành tâm nghĩ như vậy.

  2. Bắc Phong viết:

    Tôi rất cảm kích kiến thức và nhiệt tình của những bloggers tham dự tranh luận sôi nổi các đề tài về biển đông. Tôi xin mạn phép mời quí vị take a break và đọc vài dòng tâm sự của một ngư dân:

    ra biển thường thì tôi sợ bão
    hay sợ tàu va phải đá ngầm
    giờ mỗi lần đi lại thêm sợ
    ở ngư trường tàu lạ nó đâm

    bắc phong

  3. Lê Tuấn Huy viết:

    Gửi Dương Danh Huy, Trương Nhân Tuấn và những ai quan tâm,

    1. Những gì tôi nói ra không phải với riêng Dương Danh Huy.

    2. Tiểu tiết mà tôi muốn nói đến không phải là chi tiết Dương Danh Huy đề cập.

    3. Tôi hiểu những giãi bày của Dương Danh Huy, và mong anh Trương Nhân Tuấn cũng hiểu cho “đối tác” của mình và không rơi vào thế đôi co khi đọc những gì DDH vừa viết ra. Tôi không đồng ý với những nhận định nhiều khi thiên về mặt cá nhân của TNT đối với DDH, nhưng tôi cũng hiểu lẽ bức xúc và vị trí xuất phát mà đã khiến TNT có những ý kiến như vậy (hiểu không có nghĩa là đồng tình).

    4. Mong rằng sau những giãi bày này, DDH và TNT (cũng như những người tham gia bàn luận) sẽ tập trung vào các lý giải và các vấn đề kỹ thuật, để đến một ngày, như DDH mong muốn, các anh có thể viết chung với nhau.

    5. Khi đăng nhập vào talawas, tôi thấy có ý kiến của Phạm Quang Tuấn đang chờ duyệt. Đảo mắt qua, hình như có liên quan đến ý kiến vừa rồi của tôi. Tôi xin phép không đề cập gì vì không có thời gian để đọc hết, mà cũng vì thấy rằng những gì DDH vừa nói và phản hồi này của tôi, là đủ.

  4. Phạm Quang Tuấn viết:

    (tiếp)

    Một ví dụ cụ thể tại sao ta cần nâng cao kiến thức và diệt cái sai và ẩu. Hiện nay, vẫn còn nhiều người VN cho rằng công hàm PVĐ là chuyện bịa đặt. Nếu đọc bài của TN Tuấn, họ vẫn sẽ không tin là thật, vì thấy bài đó trình độ kém quá, đầy rẫy cái sai và ẩu, và hò hét yêu nước, chống cộng quá nhiều. Ngược lại, nếu họ đọc bài của DD Huy (http://www.talawas.org/?p=4412) thì họ sẽ tin tưởng hơn nhiều.

    Đó là nói về người VN. Còn nếu “học hỏi” từ TN Tuấn rồi đem những luận điệu và kiến thức đó ra tranh luận với Tàu thì… sẽ bị đập dẹp lép. Cũng nên biết rằng DD Huy đã tranh luận với Tàu rất nhiều trên các diễn đàn và viết bài cho các báo ngoại quốc để bảo vệ quan điểm VN, còn TN Tuấn thì mới chỉ giỏi nói trong nhà. Cũng may.

  5. Phạm Quang Tuấn viết:

    Một cuộc “ẩu đả” hiếm khi hai bên cùng có lỗi (luận điệu này chỉ là chuyện người lớn bịa ra để dẹp con nít làm ồn). Hầu như luôn luôn có một người gây ra. Muốn đóng góp cụ thể, đề nghị ông Lê Tuấn Huy chỉ RÕ và CỤ THỂ những hành động nào đã gây vấn đề (dĩ nhiên, nếu nói sai thì có thể bị sửa ngay!), đừng nên dạy bảo chung chung chẳng có ích gì cả. Tôi đoán là một trong những chuyện sau đây:

    (A) Việc TN Tuấn và HT Sa kết án DD Huy (và có lẽ, những người đồng ý với DD Huy) là không yêu nước, tay sai CS, v.v.

    (B) Việc DD Huy và tôi chê trách thái độ “ta yêu nước hơn đối thủ” của TN Tuấn

    (C) Việc DD Huy, Nghiêm Quang và tôi sửa những cái sai của TN Tuấn.

    Việc (A) thì DD Huy đã trả lời rõ ràng.

    Việc (B), theo tôi, là môt việc chính đáng. Không ai có thể biết được lòng yêu nước (hay yêu đạo đức, yêu Chúa, yêu Phật, yêu XHCN…) của mình có hơn người khác hay không. Đem lòng yêu nước (đạo đức, Chúa, Phật, XHCN…) hơn người ra để khoe khoang là một chuyện lố bịch và gây lộn xộn. Dùng cái đó để biện hộ cái sai c ủa mình thì còn bậy hơn.

    Việc (C), theo tôi, nâng cao kiến thức của cộng đồng là một trách vụ của người trí thức. Việc đó có thể làm bằng hai cách:

    1. Đưa ra kiến thức (positive contribution)

    2. Vạch trần cái sai hay cái ẩu tả (cũng là positive contribution luôn, vì trừ được một số âm tức là cộng vào một số dương, trừ đươc một món lỗ tức là thêm vào một món lãi).

  6. Dương Danh Huy viết:

    Để kết luận, cho tôi đưa ra ý này:

    Nếu ngày nào đó bác Trương Nhân Tuấn và tôi viết chung một bài thì đó sẽ là điều tốt.

    Thí dụ, khi có điều kiện (hiện nay tôi có nhiều dự án còn dở dang) bác Trương Nhân Tuấn và tôi có thể viết chung một bài về bãi Tục Lãm.

    Bãi Tục Lãm là một vấn đề mà có lẽ bác Trương Nhân Tuấn và tôi đồng ý với nhau, tôi đã từng dùng tài liệu bác Trương Nhân Tuấn sưu tầm, bác Trương Nhân Tuấn đã từng dùng bản đồ tôi vẽ.

  7. Dương Danh Huy viết:

    Thật ra mệnh đề của bác TNT là lưỡi bò có bao trùm hay móc vào đảo Natuna và quần đảo Sulu nhưng TQ phải rút lại không phải là tiểu tiết mà là một chi tiết đáng kể trong 1 bài viết về đường lưỡi bò, là một phần lớn của những gì mới mẻ trong bài này, và là một phần quan trọng trong lập luận của bài viết.

    Nếu không có chuyện TQ đòi hỏi đảo Natuna nhưng phải rút lại đòi hỏi đó vì Indo có quân sự mạnh thì lập luận ông TNT dùng để kết luận là VN phải có quân sự mạnh, là lập luận sai. (Nhưng kết luận vẫn đúng, và, thêm nữa, ai cũng biết).

    Nhưng tôi cũng nghĩ là khi nói về Biển Đông thì càng chính xác càng tốt. Lý do là có ít người viết về Biển Đông, phần lớn người quan tâm sẽ không tự kiểm tra, và nếu người viết viết sai thì có thể tạo ra kiến thức sai trong cộng đồng.

    Vì vậy, trong thảo luận về Biển Đông, lòng yêu nước không đủ mà cần cả tinh thần làm cho “chân lý” (dù là “chân lý” chung hay của mình hay của người đối thoại) hoàn chỉnh thêm (điều đó đòi hỏi sự cẩn thận, khiêm nhường, cởi mở và thiện chí), và tránh tinh thần “ta-địch”.

    Nói chung, quan điểm của tôi là thảo luận về Biển Đông cần thêm “chuyên” và bớt “hồng”. “Hồng” ở đây có nghĩa quan điểm chính trị (bất kể chiều nào) hay cảm tính nào đó.

  8. Dương Danh Huy viết:

    Không ai tránh khỏi vấp váp, thậm chí là sai lầm trong bài viết hay nghiên cứu (miễn là đừng xuất phát từ chủ ý, với một động cơ nào đó).

    Tất nhiên tôi biết điều đó. Nếu bác LT Huy tra thì bác có thể thấy trong hầu hết 9 tháng qua tôi không bình luận về các bài viết của ông TNT hay nói về những điểm sai trong các bài đó. (Nếu tôi muốn nói thì còn không ít điểm để nói).

    Quan điểm của tôi là mỗi người có 1 quan điểm, 1 hoàn cảnh, dù gì thì cũng gây thêm chú ý về v/d Biển Đông. Điều đáng tiếc nhất là nếu người Việt không quan tâm tới Biển Đông.

    Ngược lại, thỉnh thoảng ông TNT lại viết 1 bài kiểu “Ông Huy sai ở điểm A, B, C, là người thế này, thế nọ”. Ngoài ra, ông TNT viết rất phi khiêm nhường, chủ quan, eg,

    Khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng: Muốn đối phó với « biển lịch sử » của TQ, VN phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982

    và hay chê bai người khác, eg, kiểu “ông Huy như người mới học võ, thích múa may”, cho nên thỉnh thoảng tôi cũng chỉ ra 1 số điều sai của ông ấy để nhắc điều chính bác LT Huy nói:

    Không ai tránh khỏi vấp váp, thậm chí là sai lầm trong bài viết hay nghiên cứu

  9. Dương Danh Huy viết:

    (TT)

    Nếu bác tra lại phản ứng của tôi trong 9 tháng qua thì bác sẽ thấy:

    _Trước những tranh luận trên Talawas tôi rất ít tranh cãi về những bài viết của ông TNT. Quan điểm của tôi là, “Thôi kệ, những bài đó cũng gây thêm quan tâm về Biển Đông”.

    _Ngay cả trên Talawas, phần lớn tôi cũng chỉ nêu ra là ông TNT hay bất cứ ai đều chưa nghiên cứu đủ để có thể độc đoán về ích lợi và ngược với ích lợi cho VN và lấy đó làm lý do chụp mũ, đả kích người có ý kiến khác.

    Có lẽ tôi chủ quan, nhưng tôi nghĩ phản ứng của tôi trong 9 tháng qua cũng chừng mực.

    Như tôi đã nói nhiều lần, tôi cho là sự khác biệt ý kiến giữa tôi và ông TTN là bình thường, thậm chí có sự khác biệt ý kiến là điều tốt.

    Và tôi tin là thảo luận không phải để “ta thắng địch thua” mà là để 2 bên cùng tìm tới “chân lý”, hay để mỗi bên làm cho “chân lý” của mình hoàn chỉnh hơn, hay ít nhất để hiểu “chân lý” của bên kia là gì.

    Nhưng ông TNT lại cho là “không thể chấp nhận được” như ông ấy đã viết trong 1 bài viết, và ông ấy chụp mũ, đả kích cá nhân, lôi hy sinh xương máu của người lính Việt Nam ra để ủng hộ việc ông ấy làm.

  10. Dương Danh Huy viết:

    Bác Lê Tuấn Huy,

    Như tôi đã nói rất nhiều lần:

    1. V/d Biển Đông là một v/d phức tạp và đòi hỏi rất nhiều từ những người nghiên cứu hay bình luận độc lập, nghiệp dư (ND).
    2. Hiện nay tất cả ND còn kém cỏi. Tôi đã hỏi có bao nhiêu ND ngoài bà Từ Đặng Minh Thu có công trình được công bố trên “diễn đàn” học thuật nước ngoài? Trả lời là ZERO.
    3. Vì vậy, không ND nào nên cho mình là đỉnh cao trí tuệ về v/d Biển Đông, hay thậm chí trong 1 lãnh vực nào đó trong v/d Biển Đông.
    4. Vì vậy các ND cần có tinh thần khiêm nhường, cởi mở, phi độc đoán, để cùng góp phần nâng cao nền kiến thức của cộng đồng.

    Và các ND phải cùng góp phần nâng cao nền kiến thức của cộng đồng vì cho tới nay các cơ quan của CP VN chưa làm điều đó tốt lắm.

    Thế nhưng trong 9 tháng qua ông TNT luôn đả kích tôi và nhóm QNCBĐ, nào là dọn sân cho NN cống HSTS cho TQ, dọn sân cho Phi, là kênh, loa của NN, ăn cắp của Valencia, đi ngược lại với lợi ích của đất nước, và bây giờ lại còn đi ngược lại với hy sinh xương máu của người lính Việt Nam.

    (CT)

  11. Lê Tuấn Huy viết:

    Những tranh cãi trên talawas khi có bài về đề tài biển Đông khiến tôi thật sự ngán ngẩm!

    Không ai tránh khỏi vấp váp, thậm chí là sai lầm trong bài viết hay nghiên cứu (miễn là đừng xuất phát từ chủ ý, với một động cơ nào đó). Cũng không ai tự mình ôm được hết mọi khía cạnh của vấn đề hay mọi vấn đề liên quan. Do đó, tôi thiển nghĩ, quý trọng tìm tòi của người khác là thái độ đúng mực. Tôi cũng nghĩ, trong vấn đề biển Đông, sẽ không ai không thừa nhận tấm lòng đối với đất nước của những người thường xuyên tham gia luận bàn ở đây, cho nên, nếu ta tiếp nhận những điều mới mà mình không biết hay không nghiên cứu trước đó, đồng thời (tự) loại bỏ và chỉ ra những thiếu sót, để có cái nhìn NGÀY CÀNG đầy đủ hơn, chính xác hơn, thì sẽ đơn giản hơn nhiều so với việc móc máy, chì chiết nhau về lập trường chính trị, day dí những tiểu tiết hay “đá đểu” nhau về kiến thức.

    Điều đó không những không làm phiền và làm mất thời gian của nhau không giữa những người tham gia trao đổi, mà còn giúp không làm phiền và làm mất thời gian của người đọc nữa!

  12. Nghiêm Quang viết:

    Tựa bài ghi: Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử, thế nhưng, 6/8 tiểu mục chép lại từ các khảo cứu của chính ông TN Tuấn về biên giới Việt-Trung trên đất liền.

    Tiểu mục sau là phần cắt dán từ bài cũ 2006 Vấn-đề Biển Đông: Trung-Quốc hùng-phong đại-quốc cùng luận điệu lặp tới lặp lui trên các bài viết gần đây: ý nghĩa chính của biển chữ U đến từ công hàm PVĐ!

    Không có điểm gì mới vậy mục tiêu của bài 3 kỳ này là gì? Nếu chỉ muốn khuyến cáo VN phải có một quân đội mạnh để giữ nước, đọc Trần Vũ rõ ràng hay hơn.

  13. Nghiêm Quang viết:

    1. Có một điều tôi thấy, các khảo cứu của ông Trương Nhân Tuấn về Biển Đông hầu như chỉ dựa vào tấm lòng, rắc thêm chút hương vị chống cộng và… chấm hết.

    Khi tranh luận, nhiều lần, tài liệu bảo chứng của ông là những quyển thuộc loại phổ biến kiến thức, ngắn gọn và dễ hiểu như sách của J-V Brisset trên đây và Atlas des Atlas đã từng đề cập, hay thậm chí Géopolitique-La longue histoire d’aujourd’hui của Yves Lacoste.

    Không phải tôi không biết giá trị các quyển này cũng như không tôn trọng tác giả của nó. Tuy nhiên, độc giả cũng thấy rằng người ta không thể chỉ đọc mấy dòng về “Chiến tranh Việt Nam” trong tự điển bách khoa là có thể hiểu tường tận vấn đề này. Tiếc thay, đó lại là cách nghiên cứu của TN Tuấn.

    2. Điểm tiếp theo, ông Tuấn hay xào nấu lại các bài cũ đã đăng khiến cho bài viết mới thường dài tràng giang đại hải và thiếu một sự cố kết (cohérence) giữa các ý. Loạt bài 3 kỳ trên đây là một thí dụ.

    Trường hợp ông HTS, ít đọc và chưa đọc nghiêm túc chính tác giả mà mình đang cổ võ thì mới đủ can đảm tán dương: “tác giả TNT đã viết rất công phu và thuyết phục”.

    3. Một người bình thường biết tự trọng sẽ lên tiếng đính chính và xin lỗi nếu bị chỉ ra điểm sai của mình, trước khi biện hộ đôi điều gỡ thể diện: “Các sai sót này không cố ý (nhằm thay đổi nội dung bài viết).”“Tôi làm việc này bằng trái tim, khối óc và mồ hôi nước mắt của mình.”, v.v…

  14. Phạm Quang Tuấn viết:

    Bác Huy:

    Khỏi cần nói Pol Pot, Việt Nam ta thiếu gì người TỰ XƯNG yêu nước hơn người và dùng lòng yêu nước để tự bào chữa cho mọi chuyện: sai trái, độc tài, chụp mũ… Tôi thì cứ nghe ai lải nhải ta đây mới thực sự yêu nước là phát ói!

  15. Nghiêm Quang viết:

    Bác DDHuy:
    Tôi không biết tác giả và sách bác TN Tuấn dẫn là ai, nhưng cái bản đồ thứ nhì mà bác NT Tuấn dẫn (từ sách đó) hơi có vấn đề.

    Tác giả Jean-Vincent Brisset như tôi đã trình bày, là một viên tướng không quân kiêm tình báo, có nghiên cứu về các vấn đề Trung Hoa từ khi hồi hưu tháng 8/2001. “La Chine, Une Puissance Encerclé ?” xuất bản năm 2002 là quyển địa chánh trị đầu tay và duy nhất của vị học giả nầy, hướng tới đối tượng là độc giả phổ thông.

    1840, thời điểm cuộc chiến tranh Nha phiến, thường được coi là mốc đánh dấu của Trung Quốc cận hiện đại. Bản đồ ông TN Tuấn trích chỉ nhằm minh họa lại quan niệm Trung Hoa về các vùng ảnh hưởng và “lãnh thổ truyền thống” của họ trước 1840. Cần nhấn mạnh, bản đồ đó được vẽ theo quan niệm Trung Hoa, và chắc chắn không phải là sự thật được thế giới thừa nhận.

    Brisset không phải là người đầu tiên viết những điều này. Trang 13, quyển “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua” cũng có nhắc tới.
    link: http://hoangsa.org/forum/downloads.php?do=file&id=9

    Nói gì thì nói, việc lôi bản đồ Brisset vào bài viết về biển chữ U, hoàn toàn lạc đề, khoe “sách Pháp” không đúng chỗ.
    Nếu thực sự muốn dẫn chứng thêm về tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc, chỉ cần năm hàng như sách của Hà Nội 1979 là đủ.

1 2 3 4 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>