Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (3)
01/06/2009 | 10:02 sáng | 61 Comments
Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Hoàng Sa-Trường Sa
8. Ý nghĩa của bản đồ 9 gạch
Tấm bản đồ này xuất hiện không biết chính xác từ khi nào (có nhiều nguồn nói khác nhau : xuất hiện năm 1914, 1920, 1930 ; thậm chí có nguồn nói xuất hiện từ thế kỷ 19 !) nhưng chắc chắn cũng là một thủ thuật cổ điển của TQ như dàn dựng các tên giả, hay hoán đổi tên các làng v.v… để chiếm đất của VN. TQ dựng ra tên Tiểu Đổ Chú Hà để lấy đất Tụ Long, dựng ngọn Tiểu Phân Mao Lãnh cướp đất Kiến Duyên và Bát Tràng, hoán đổi tên làng xã để chiếm đất Đèo Lương, vẽ bản đồ để chiếm thác Bản Giốc, xây đường rày xe lửa để chiếm đất Nam Quan… Chắc chắn tấm bản đồ chín gạch này dựng lên cũng để chiếm biển và đảo của VN, nó thay đổi nội dung tùy theo khả năng và tham vọng bành trướng của TQ.

Bản đồ chín gạch, có «móc và » quần đảo Sulu (giữa Mã Lai và Phi) và đảo Natuna của Nam Dương
Nghiên cứu bản đồ 2 ( trích từ cuốn La Chine, Une Puissance Encerclé?, xem mục tham khảo) tức bản đồ xác định lãnh thổ và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trước năm 1840. Ta thấy có 21 vùng đất trước 1840 thuộc Trung Hoa hay thần phục Trung Hoa (ghi theo A, B, C…), đó là :

- Bản đồ 2, minh họa các vùng đất của TQ đã bị «mất» trước 1840
A: đảo Sakhaline, nhường cho Nga và Nhật. B : Vùng đất Đông Bắc, phía Đông Hắc Long Giang (Amour), nhượng cho Nga theo hiệp ước Bắc-Kinh năm 1860. C : Vùng đất Đông Bắc, phía Tây Hắc Long Giang, nhượng cho Nga năm 1858 theo hiệp ước Aigun. D : Mông Cổ, tuyên bố độc lập năm 1924. E : Cộng Hòa Touva, tuyên bố độc lập năm 1921, sau đó sát nhập vào Liên Xô năm 1944. F : Vùng đất Tây Bắc, nhượng cho Nga qua hiệp ước Tacheng 1864. G : Pamir, bị Nga và Anh bí mật lấy chia với nhau năm 1896. H : Népal, độc lập năm 1898, sau đó trở thành thuộc địa Anh. J : Sikkim, Anh chiếm năm 1889. K : Bhoutan, độc lập năm 1865, sau đó trở thành thuộc địa Anh. L : Vùng biên giới Tây Bắc, bị Anh chiếm. M : Assam, Miến Điện nhượng cho Anh năm 1826. N : Miến Điện, thuộc địa Anh năm 1886. O : Đảo Andaman, thuộc địa Anh P : Thái-Lan, độc lập nhưng dưới sự kiểm soát của Anh và Pháp năm 1904. Q : Đông Dương, thuộc địa Pháp năm 1885. R : Mã Lai (phần lục địa), thuộc địa Anh năm 1985. S : Quần đảo Sulu, thuộc địa Anh năm 1895. T : Đài Loan, nhượng cho Nhật qua hiệp ước Simonoseki năm 1895. U : Quần đảo Điếu Ngư, Nhật chiếm năm 1910. V : Triều Tiên, độc lập năm 1895, trở thành thuộc-địa Nhật năm 1910.
Hai bản đồ này biểu lộ tham vọng của TQ bắt đâu từ thập niên 50. Bản đồ 2 được chính thức đưa vào học trình của chương trình trung học của bộ giáo dục Trung Quốc từ năm 1950 trong khi bản đồ chữ U thì không.
Về ý nghĩa của bản đồ chữ U, chắc chắn vào thời đó chỉ nhằm xác định các đảo trong khu vực chữ U thì thuộc về TQ. Bởi vì quan niệm về chủ quyền vùng biển chỉ mới có sau thế chiến thứ hai, qua các công ước về Biển 1958 và 1982. Trước đó thế giới chỉ có quan niệm về “lãnh hải” 3 hải lý, là tầm đạn đại bác.
Khái niệm về biển lịch sử cũng khá mới, nhưng sau đó không được thế giới chấp nhận, do đó ý nghĩa biển lịch sử chữ U của TQ không thuyết phục cộng đồng thế giới.
Tham vọng về chủ quyền trên biển của TQ bắt đầu khi nào cũng không chính xác, nhưng chắc chắn chỉ mới biểu lộ sau này. Nhiều tài liệu trên thế giới đều xác nhận rằng dân tộc Hán là một dân tộc “quay lưng ra biển, hướng vô lục địa”. Để ý bản đồ 2, vào các thập niên 40-50, TQ xem Đài Loan là vùng đã bị mất. Đảo này, chỉ sát nhập vào TQ chậm trễ dưới thời nhà Thanh, do đề đốc Thi Lang. Cho rằng TQ có chủ quyền tại HS&TS, sau đó có chủ quyền vùng biển trên bản đồ 9 gạch, thì không có gì phi lý hơn.
Ở miền Nam VN ít ai nghe nói bản đồ 9 gạch. Năm 1974, sau khi chiếm HS, cũng không nghe nói đến bản đồ chữ U. Tuy nhiên, theo tài liệu của GS Tạ Quốc Tuấn, «Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan» viết: năm 1974, « lần đầu tiên Trung-Cộng đã công-khai bộc-lộ rõ nguyên-nhân thầm-kín thúc-đẩy việc tranh-chấp chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa: đó là nguồn tài-nguyên thiên-nhiên ở vùng này. Thực vậy, bản tuyên-bố ngày 11.1.1974 có câu: Các tài-nguyên thiên-nhiên trong các vùng biển quanh các quần-đảo này cũng thuộc về Trung-quốc. ». Cũng từ tài liệu này, ngày 4.2.1974, Bộ Ngoại-giao Trung-Cộng lại ra một bản tuyên-bố « Chính-phủ Trung-hoa đã nhiều lần tuyên-bố là các quần-đảo Nam-sa, Tây-sa, Trung-sa và Đông-sa tất cả đều là phần lãnh-thổ của Trung-quốc và nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa có chủ-quyền bất-khả tranh-nghị đối với các quần-đảo này và các hải-khu chung quanh các quần-đảo đó. ». Tài liệu đề cập đến từ ngữ « hải khu », tức khu vực biển, nhưng không hề đề cập bản đồ chữ U.
Tập san Sử Địa 29, Đặc khảo về HS và TS, xuất bản tháng 1 năm 1975, không có dòng nào nói đến bản đồ chữ U. Tập tài liệu La Souveraineté sur les Archipels Paracels và Spratleys của bà Monique Chemillier-Gendreau in năm 1996 cũng không có dòng nào nói đến tấm bản đồ này, ngoài hai bản đồ đính kèm như là bằng chứng của TQ đòi hỏi vùng biển.
Theo tài liệu của ông Cao Xuân Thự, Chuyên viên Vụ Biển, Ban Biên giới của Chính phủ, công bố nhân dịp hội thảo Biển Đông hồi tháng 3 năm 2009, có ghi chép : Ngày 30 tháng 7 năm 1977 : « Tám ngày sau khi ông Đặng Tiểu Bình chính thức khôi phục lại địa vị, trong một tuyên bố chính sách đối ngoại của TQ, ngoại trưởng Hoàng Hoa nói : lãnh thổ của TQ chạy xa mãi về phía nam, tận bãi Tăng Mẫu gần Bornéo của Mã Lai…, các người có thể thăm dò chúng nếu các người muốn, nhưng khi thời cơ đến, chúng tôi sẽ thu hồi chúng hoàn toàn, không cần phải thuơng lượng gì hết vì các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc… ». Đoạn này cũng không nói đến biển chữ U mà nói các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc…
Trên báo chí, sách vở và tài liệu nước ngoài, bắt đầu đề cập đến tranh chấp biển Biển Đông từ thập niên 80. Nguyên nhân vào năm 1980, công ty Pertamina của Nam Dương khám phá mỏ dầu ở vùng đảo Natuna, bản đồ chữ U tái xuất hiện bao gồm thêm đảo Natuna. Việc này phía Nam Dương phản đối mạnh, báo chí có nhắc nhở. Ý nghĩa của bản đồ chữ U cũng chỉ giới hạn về chủ quyền các đảo thuộc TQ.
Về văn kiện chính thức, tác giả viết bài chưa đọc hay thấy tài liệu nào từ phía TQ chính thức dẫn tấm bản đồ chữ U, ngoại trừ công hàm ngày 7 và 8 tháng năm 2009 vừa qua để phản đối hai hồ sơ của VN mà Mã Lai (nộp chung).
Như thế, tạm kết luận rằng, bản đồ chữ U từ 1982 trở về trước có ý nghĩa : TQ có chủ quyền các đảo trong khu vực đó (đồng thời giả thuyết về vùng nước lịch sử của TQ).
Từ 1982 trở đi thì bản đồ chữ U có ý nghĩa : khẳng định khu vực biển của TQ. Điều này có thể hiểu vì năm 1982 Luật Quốc tế về Biển ra đời, theo đó, các đảo cũng có hiệu lực như trên đất liền về lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền, thềm lục địa. TQ đã thông qua công ước này năm 1996. Do đó quan niệm chủ quyền về biển chữ U của TQ, sau 1982, do hiệu lực của HS và TS (vì TQ có chủ quyền ở HS và TS theo công hàm của ông Phạm Văn Đồng). Diện tích khu vực biển này co giãn tùy theo nhu cầu và đối tượng.
Giả thuyết về biển lịch sử của TQ khó đứng vững vì công ước về Biển 1982 không có khoản nào định nghĩa về biển lịch sử.
Nhưng TQ là bậc thầy về chiến lược; họ luôn úp úp, mở mở về ý nghĩa của bản đồ này, làm nhiều người không biết TQ muốn gì .
Sau khi TQ sát nhập đảo Natuna vào bản đồ chữ U, Nam Dương phản đối mạnh mẽ, đồng thời vũ trang mạnh. Đây là nước dông dân nhất khu vực Đông Nam Á và có quân lực mạnh nhất. Từ năm 2000 trở lại đây thì bản đồ chữ U loại trừ đảo Natuna, có nghĩa là TQ đã nhượng bộ. Thí dụ khác, bản đồ chữ U từ năm 1950 thì có thêm quần đảo Sulu, nhưng những năm sau này thì bản đồ này không bao gồm quần đảo này nữa.
Như thế, biển chữ U của TQ có thể rất lớn nếu các nước chung quanh lo sợ. Nhưng sẽ rất nhỏ, hay không có gì, nếu các nước chung quanh không nhượng bộ.
TQ đã ký và thông qua Luật Quốc tế về Biển 1982, bản đồ chữ U hôm nay chỉ là minh họa, thay đổi tùy theo tương quan lực lượng, nhưng chắc chắn ý nghĩa của bản đồ chữ U sẽ được TQ giải thích theo luật Biển 1982 cho dư luận quốc tế lúc cần thiết.
7. Kết luận
Ta thấy từ Tiểu Đổ Chú Hà, Tiểu Phân Mao Lãnh, đền thờ Phục Ba, đất Đèo Lương, núi Khấu Mai, đất Nam Quan, điểm nối ray, thác Bản Giốc (sau này có thêm vụ chuối xanh, vì chỉ có người Hoa trồng chuối trên biên giới), người Hoa thì đất của người Hoa, nghĩa trang người Hoa thì đất của người Hoa v.v… cho đến Thất Châu Dương, Cửu Nhũ Loa Châu, Thạnh Ðường, Thiên Lý Thạnh Ðường, Vạn Lý Thạnh Ðường, Trường Sa, Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa, bản đồ chín gạch… đều do phía TQ đặt ra để chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển của VN. Tất cả rõ ràng chỉ là những bịa đặt lếu láo, rất sơ đẳng, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, chỉ gạt được những người không biết. Đều trớ trêu là cái luận điệu sơ đẳng bịa đặt lặp đi lặp lại này đã giành được đất của dân tộc Việt Nam không biết bao nhiêu lần. Và có thể nó vẫn tiếp tục lường gạt được người Việt Nam.
Phải chăng dân tộc ta có vấn đề ?
Đến hôm nay vẫn còn học giả VN, có người vẫn ảnh hưởng hỏa mù của TQ qua các ý nghĩa của biển chữ U. Có người vẫn không dám đối diện với ý nghĩa của công hàm ông Phạm Văn Đồng, kể cả không muốn biết TQ đã có các âm mưu gì và sẽ có các âm mưu gì ?…
Khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng : Muốn đối phó với « biển lịch sử » của TQ, VN phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982. Bản đồ lịch sử chín gạch chữ U của TQ sẽ bị hiệu lực HS và TS hóa giải không còn cái gạch nào. Xem trường hợp đảo Natuna của Nam Dương thì rõ rệt. Nhưng muốn vậy, trước tiên VN phải mạnh và phải vô hiệu hóa công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Trường hợp TQ trả đất Tụ Long cho VN năm 1724 cũng vậy, là do VN mạnh chứ không hề do hoàng đế anh minh nào cả. Nếu VN thời đó « yếu » (như hôm nay), chắc chắn Tụ Long đã mất trước khi Pháp vào VN.
Phương pháp để hóa giải bản đồ chín gạch, nếu TQ dưạ theo Luật Biển 1982 (giả thuyết này hầu như là 99%), phía VN cũng phải khẳng định chủ quyền các đảo HS&TS đồng thời đòi hỏi hải phận và thềm lục địa của các đảo theo Luật Biển 1982. Và muốn làm như thế cũng phải vô hiệu hóa trước tiên công hàm ông Phạm Văn Đồng.
Chính sách giữ nước của Đảng CSVN hiện nay có khuynh hướng hủy bỏ hiệu lực của các đảo HS và TS, tức tự hủy hoại thân thể, tự đốt nhà của mình. VN quá « yếu », không thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ VN, mặt khác, công hàm ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố HS&TS là của TQ, đòi lại sao được ? Do đó nhà nước CSVN nhất định để mất HS&TS chứ không tìm cách hóa giải công hàm này thông qua một quá trình dân chủ hóa và hòa giải dân tộc.
Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa ?
Hồ sơ công bố của VN về thềm lục địa vừa qua đã cho thấy rõ rệt chính sách của nhà nước. Có thể có những « options » khác, có lợi cho VN, nhưng chưa chắc đảng CSVN sẽ chọn. Rất có thể quần đảo HS và TS sẽ không có hiệu lực, giá trị gì hết ! Đây là một quyết định nhất thời cứu nguy cho Đảng CSVN nhưng rất nguy hiểm, vì nó có ảnh hưởng không thể đảo ngược, làm mất vĩnh viễn quyền lợi của dân tộc VN tại HS và TS.
Vào các năm 1860 thời Tự Đức, lúc Pháp đã đặt chân ở Nam Kỳ và lăm le ra Bắc Kỳ, tình cảnh người dân Bắc Kỳ hết sức dửng dưng. Lúc quân Pháp chiếm thành Hà Nội thì dân chúng đổ ra coi, như là trò vui. Triều đình đối xử với dân như tôi mọi, như kẻ thù địch thì người dân xem việc Pháp chiếm đất là việc của nhà vua. Việt Nam thời nay không khác Việt Nam thời Tự Đức. Đất nước gặp lúc mạt vận thì dân tình nó như thế.
Chợt nghĩ đến bài “Bauxite Tây Nguyên, phép thử phản xạ tự vệ của quốc gia Việt” của tác giả La Thành mới đăng gần đây. Bài viết thật là hay, thâm thúy. Không biết bô-xít thử trí thức VN sẽ phản xạ thế nào, nhưng về HS&TS và Biển Đông thì mọi việc đã được nhà nước an bài, không cần phép thử nữa. Đây là hiện tượng báo trước rã đàn của dân tộc Việt!
Hay là Trọng Thủy đang giữ nội chính trong cung đình ? Ở điểm này cũng đáng để mất thì giờ nghiên cứu. Sẽ trở lại hồ sơ Trọng Thủy trong bài tới.
Nhưng nhìn lại như thế cho thấy giải pháp duy nhất để giữ nước hiện nay là « dân chủ hóa » đất nước. Đảng CSVN không thể vì quyền lợi của một nhóm người mà hy sinh quyền lợi lớn lao của cả dân tộc.
Tham khảo
Tài liệu internet
Tạ Quốc Tuấn, Vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan
Phạm Hoàng Quân, Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007
Nguyễn Quang Ngọc, Địa danh Trung Quốc các quần đảo giữa Biển Đông, Lịch sử một thế kỷ chuyển đổi, www.hoangsa.org
Cao Xuân Thự, Điểm lại những sự kiện chính trong cuộc tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và mấy nhận xét về cách gây xung đột về biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, www.hoangsa.org
Tài liệu đóng tập
Tập san Sử Địa số 29, Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, Văn Nghệ Khai Trí, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1975
Chemillier-Gendreau, Monique. La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys. Harmattan, 1996
Fourniau, Charles. Vietnam Domination coloniale et résistance nationale 1858-1914. Les Indes Savantes, 2002
Brisset, Vincent. La Chine, Une Puissance Encerclé ?, IRIS, 2002
Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay của NXB Sự Thật, năm 1979
Tài liệu thuộc văn khố CAOM, Pháp
Deloustal. Les Mines de Tu-Long. AOM. Cote B 2899 ou B 6326.
Dévéria, La Frontière Sino-Annamite. Descriptions Géographique et Ethnographique. AOM, cote D 1198
Famin, Au Tonkin et sur la frontière du Quang-Si. SOM, cote C 43.
Dr Néïs , Sur Les Frontières Du Tonkin – Le Tour Du Monde, năm 1887. CAOM. BIB, SOM, Cote 20.543.
Les Frontières du VietNam. Histoire des Frontières de la péninsule Indochinoise. Paris, l’ Harmattan. 1989. AOM. Cote 42934.
Ministère des Affaires Etrangères de la RSVN 1981. Les Archipels Hoang-Sa et Truong-Sa.
Hồ sơ Phân định Biên giới 1886-1894 : Cartons : 65353, 65354, 65355, 65356, 65357, 65358, 65359, 65360. Indo, GGI.
Tài liệu Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp
Hồ sơ « Công ước Pháp-Thanh 1887 ».
© 2009 Trương Nhân Tuấn
© 2009 talawas blog
Bình luận
61 Comments (bài “Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (3)”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 Trang sau »
Bác Hoàng Trường Sa vừa biết như dưới đây
1: Vấn đề thảo luận Biển Đông, theo tôi,…, mà chính là một đóng góp chung cho việc bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc.
và vừa nói như dưới đây về người khác cũng cố gắng đóng góp cho việc bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, nhưng có cách khác của bác ấy:
2: Cũng là trí thức nhưng, tiếc thay, có nhiều kẻ muối mặt bẻ cong ngòi bút và táng tận lương tâm, dửng dưng trước cảnh đất biển của cha ông lần lượt từng mảng lọt vào tay giặc mà không một lời oán trách những kẻ đem đất biển của Tổ tiên cống cho giặc. Trái lại còn cam tâm đem những hiểu biết của mình để bao che và biện minh cho bọn chúng.
Nếu hiểu điều (1) mà nói điều (2) thì cũng hơi lạ.
Thêm nữa, thảo luận về Biển Đông cần chính xác, nghiêm túc, đàng hoàng thì mới có thể góp phần nâng cao nền kiến thức của cộng đồng.
Và lấy 1 tên giả lên internet “oán trách những kẻ đem đất biển của Tổ tiên cống cho giặc” thì cũng rẻ tiền, mà làm điều đó trên những websites bị tường lửa (tất nhiên tôi không tán thành tường lửa – nhóm Minh Biện tôi tham gia cũng bị tường lửa) thì cũng không có nhiều ích lợi trong việc đem thông tin và thảo luận tới 80 triệu người trong nước.
Bác Nghiêm Quang,
Tôi không biết tác giả và sách bác TN Tuấn dẫn là ai, nhưng cái bản đồ thứ nhì mà bác NT Tuấn dẫn (từ sách đó) hơi có vấn đề.
Bản đồ đó vẽ “Chine actuelle” (TQ hiện tại) và “Chine avant 1840” (TQ trước 1840), mà “Chine avant 1840” (TQ trước 1840) bao gồm cả VN, Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Lào, Cam, Assam, quần đảo Andaman, quần đảo Sulu, vv.
Như vậy việc tác giả ghi “Chine avant 1840” hơi có vấn đề.
Chủ ý của tôi về Natuna trong bài viết không phải là bản đồ chữ U thế này hay thế kia, mà muốn khuyến cáo VN phải có một quân đội mạnh để giữ nước. Không thấy quí vị có ý kiến gì về việc này ?
Tôi thiết nghĩ ai cũng biết Việt Nam phải có một quân đội mạnh để giữ nước.
Bác TN Tuấn vết về đường chữ U đúng ở điểm đó.
Và đúng ở những điểm:
_Ranh giới lưỡi bò là tuỳ tiện, bố láo.
_TQ lợi dụng thời cơ và sự bạc nhược của VN và ĐNA để diễn giải nó trong chủ trương chiếm đoạt nhiều nhất.
Tôi thiết nghĩ những điều đó khá obvious.
“Tôi làm việc này bằng trái tim, khối óc và mồ hôi nước mắt của mình. Những nhầm lẫn nếu có của tôi xem ra không ăn thua gì với các nhầm lẫn chết người của nhà nước CSVN mà nhân sự cùng với phương tiện của họ nhiều gấp triệu lần hơn cá nhân tôi. Do đó tôi có quyền hãnh diện hơn nhiều người khác, trước hết với các cán bộ nghiên cứu của nhà nước, sau đó với những người nói là nghiên cứu Biển Đông, nhưng không làm việc với đầu óc của mình mà tầm gởi trên sản phẩm trí tuệ của người khác, đi ngược lại quyền lợi của đất nước.” (trích lời tác giả Trương Nhân Tuấn)
Tôi xin tán thành và hoan nghênh lời phát biểu này của tác giả TNT mà cá nhân tôi cảm nhận là những lời chân thành nhất xuất phát tự đáy lòng của ông. Tất cả mọi người đều phạm sai lầm, bởi vì “nhân vô thập toàn”. Nhưng từ ngày biết ông TNT qua các công trình của ông về vấn đề biên giới trên bộ và trên biển của VN, tôi quý mến và trân trọng tấm lòng của ông đối với đất nước.
Cũng là trí thức nhưng, tiếc thay, có nhiều kẻ muối mặt bẻ cong ngòi bút và táng tận lương tâm, dửng dưng trước cảnh đất biển của cha ông lần lượt từng mảng lọt vào tay giặc mà không một lời oán trách những kẻ đem đất biển của Tổ tiên cống cho giặc. Trái lại còn cam tâm đem những hiểu biết của mình để bao che và biện minh cho bọn chúng.
Vấn đề thảo luận Biển Đông, theo tôi, không phải là việc thỏa mãn sự hiếu kỳ về tri thức, cũng không phải là cuộc thi hơn kém về hiểu biết, mà chính là một đóng góp chung cho việc bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc. Nếu không có tinh thần này thì việc thảo luận tranh cãi nhau là hoàn toàn phí thì giờ và vô bổ.
(TT)
Tự vỗ ngực mình làm vì lợi ích đất nước, người kia thì đi ngược với lợi ích của đất nước, hy sinh xương máu của dân tộc, là một điều rẻ tiền và lạm dụng xương máu của người khác.
Tôi có xem phỏng vấn Pol Pot vào cuối đời ông này. Phóng viên hỏi có hối hận gì không. Pol Pot trả lời: Không, tất cả những gì tôi làm, tôi làm vì lợi ích cho đất nước.
Đắt hơn một chút là làm việc nghiêm túc, đàng hoàng.
Và không ai nên nghĩ rằng mình có độc năng, độc tài, độc quyền phán về thế nào là vì lợi ích đất nước. Nhất là khi người đó không làm việc nghiêm túc, đàng hoàng.
TNT: Ông nên xem ý kiến của bác Nguyễn Hòa để thấy bản đồ chữ U có « móc vào » quần đảo Sulu. (trong bài tôi viết thiếu chữ o, hy vọng mọi người hiểu và thêm vào).
Bác Hoà Nguyễn cũng chỉ nói là có “móc” đi vào biển Sulu, và bản đồ cũng chỉ nói thế:
HN: Khúc chữ U ở đây nằm ngoài (cách khá xa) các đảo Natuna. Nhưng ở giữa đảo Borneo và Phi có vẽ thêm một khúc đi vào biển Tulu (dính với khúc có sẵn).
Thế mà bác TN Tuấn diễn giải thành móc vào quần đảo Sulu.
TNH: Ông PQ Tuấn đọc không hết bài mà đã vội có kết luận. Xem ghi chú 8 của bài viết : « Zou, sđd, trang 6. Vào tháng 1 năm 2000, Xinhuashe (New China News Agency) báo cáo rằng bản đồ do người Trung Quốc vẽ lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1845 được phát hiện tại thành phố Shijianzhuang, tỉnh Hebei. Bản đồ thế giới này có đề cập đến quần đảo Nansha, Xisha, và Zhongsha.
Ghi chú 8 nói “có đề cập đến quần đảo Nansha, Xisha, và Zhongsha”. Thế mà bác TN Tuấn bảo là:
Tôi cũng đồng ý với bác HoangTruongSa là bản đồ chữ U xuất hiện sớm nhất vào khoảng thập nên 40 hay 50, không thể sớm hơn. Bác đọc tài liệu theo link trên sẽ thấy các học giả người Hoa « bơm » nó lên tới thế ký thứ 19 !
Những điều trên cho thấy cách hiểu hay diễn giải của bác TN Tuấn thiếu sự cẩn thận, chính xác.
Bác TN Tuấn:
Câu bác trích dẫn chẳng có nói gì đến bản đồ chữ U ở TK 19 cả. Lần sau, bác nên đọc cẩn thận hơn. Nếu có bản đồ chữ U ở TK 19, thì tác giả đã không viết rằng bản đồ chữ U đầu tiên vẽ vào năm 1914.
Cũng chính vì bác hay hiểu sai, ngay cả khi đọc tiếng Việt, nên tôi đã xin bác trích lại nguyên văn của Brisset để người đọc tự kiểm. Xin đợi bác trích dẫn.
Đừng nên lấy lý do vội vã hay yêu nước để bào chữa cho sự sai sót ẩu tả của mình. Như vậy sẽ không bao giờ khá hơn được mà chỉ mất thì giờ người đọc.
Xin góp ý về một số các vấn đề đã đặt ra :
1/ Với ông Dương Danh Huy và các vị khác : Nghiên cứu về Biển Đông bao gồm ít nhất 3 bộ môn Lịch Sử, Công Pháp Quốc Tế và Địa Lý Chính Trị. Tôi đã viết các bài viết của tôi xưa nay (hay trên Talawas) bao gồm ba lãnh vực đó. Các tài liệu trích dẫn chứng minh việc này. Dĩ nhiên chủ đề bao quát như thế chắc chắn phải có những sai sót. Điều may mắn của tôi là những sai sót ở đây đều là các sai sót lặt vặt do nguồn dẫn sai hay ghi chép lầm lẫn. Các sai sót này không cố ý (nhằm thay đổi nội dung bài viết). Mặt khác, các bài tôi viêt trên Talawas đều viết trong một thời gian rất ngắn, không bài nào thời gian viết nhiều hơn một tuần, phần ghi chú do đó chỉ ghi lại rất tóm tắt. Mục tiêu nghiên cứu của tôi là bênh vực quyền lợi của Việt Nam. Tôi làm việc này bằng trái tim, khối óc và mồ hôi nước mắt của mình. Những nhầm lẫn nếu có của tôi xem ra không ăn thua gì với các nhầm lẫn chết người của nhà nước CSVN mà nhân sự cùng với phương tiện của họ nhiều gấp triệu lần hơn cá nhân tôi. Do đó tôi có quyền hãnh diện hơn nhiều người khác, trước hết với các cán bộ nghiên cứu của nhà nước, sau đó với những người nói là nghiên cứu Biển Đông, nhưng không làm việc với đầu óc của mình mà tầm gởi trên sản phẩm trí tuệ của người khác, đi ngược lại quyền lợi của đất nước.
2/ Với Ông Phạm Quang Tuấn ; ông viết thế này : « Hình như Trương Nhân Tuấn cũng có vấn đề với tiếng Việt. Ông viết: “Bác đọc tài liệu theo link trên sẽ thấy các học giả người Hoa « bơm » nó lên tới thế ký thứ 19 !” ».
Ông PQ Tuấn đọc không hết bài mà đã vội có kết luận. Xem ghi chú 8 của bài viết : « Zou, sđd, trang 6. Vào tháng 1 năm 2000, Xinhuashe (New China News Agency) báo cáo rằng bản đồ do người Trung Quốc vẽ lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1845 được phát hiện tại thành phố Shijianzhuang, tỉnh Hebei. Bản đồ thế giới này có đề cập đến quần đảo Nansha, Xisha, và Zhongsha. Mao Trạch Đông (Mao Zedong) đã từng nói rằng Trung Quốc không được bảo vệ trên biển. Điều này có nghĩa là Trung Quốc chỉ an toàn khi các thế lực bên ngoài không thực hiện chính sách “ngoại giao pháo hạm” (“gunboat diplomacy”), nhưng trong hoàn cảnh hiểm nguy, chính sách này có thể được áp dụng. Xem Jiefangjunbao (dưới đây gọi là JFJB) (Bắc Kinh), 9 tháng 4 2001, trang 7. »
Rõ ràng bản đồ chữ U đã bị bơm lên đến tháng 10 năm 1845, đây không phải thế kỷ thứ 19 là gì ?
Cũng nói thêm, trong bài dẫn này có dữ kiện cho thấy ông Valencia có người cháu là người Mã Lai ! Ông PQ Tuấn có thì giờ thì cũng nên « điều tra » việc này.
3/ Với ông Nghiêm Quang : Ông nên xem ý kiến của bác Nguyễn Hòa để thấy bản đồ chữ U có « móc vào » quần đảo Sulu. (trong bài tôi viết thiếu chữ o, hy vọng mọi người hiểu và thêm vào). Xin cám ơn bác Nguyễn Hòa đã đưa thêm dữ kiện.
Về đảo Natuna, trang 181 cuốn Géopolitique – La Longue Histoire d’Aujourd’hui, tác giả Yves Lacoste, nxb Larousse năm 2006, bản đồ chữ U bao gồm cả Natuna.
Vấn đề trong bài viết của tôi đề cập là : TQ đòi hỏi chủ quyền tại quần đảo Sulu và Natuna, bản đồ chữ U trong bài minh họa đòi hỏi này. Điểm nhấn mạnh : sau khi Nam Duơng phản đối, các bản đồ sau này không còn bao gồm Natuna nữa. Tôi cũng có nhắc đến trường hợp đất Tụ Long năm 1724. Thời điểm này quân đội VN mạnh, do đó TQ phải trả đất. Chủ ý của tôi về Natuna trong bài viết không phải là bản đồ chữ U thế này hay thế kia, mà muốn khuyến cáo VN phải có một quân đội mạnh để giữ nước. Không thấy quí vị có ý kiến gì về việc này ?
Bác PQ Tuấn:
Cái “móc và” thứ 3 không phải là ranh giới VN-Indo. Tôi gọi nó là “đường chỉ ranh giới” (line indicating the boundary) – ngụ ý là tác giả bản đồ vẽ đại khái 1 đường mà họ nghĩ là ranh giới.
Vâng, tôi hiểu trúng ý bác nên không nói là bác sai, chỉ nhân tiện nói thêm cho rõ, sau khi thử chồng bản đồ ông TN Tuấn, bản đồ ông Vũ Hữu San và thử vẽ thêm mấy điểm có tọa độ trong các hiệp định, thỏa ước phân giới.
Trương Nhân Tuấn viết:
“Thí dụ khác, bản đồ chữ U từ năm 1950 thì có thêm quần đảo Sulu, nhưng những năm sau này thì bản đồ này không bao gồm quần đảo này nữa.”
và ở một đoạn khác:
Về nguồn gốc bản đồ 9 gạch tôi nhận thấy mình có nhiều tài liệu hơn nhiều người khác…
Để rộng đường dư luận, mời độc giả vào website này để xem bộ sưu tập khá chi tiết các bản đồ (theo quan điểm Trung Quốc).
link: http://www.nansha.org.cn/maps/
Xin chú ý 2 đề mục:
B1. Trung Quốc xuất bản đích địa đồ: Dân quốc thời kỳ (中国出版的地图:民国时期)
B2. Trung Quốc xuất bản đích địa đồ: Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc thành lập hậu (中国出版的地图:中华人民共和国成立后).
Tôi tự hỏi liệu có đường chữ U nào trong các bản đồ nầy “bao gồm quần đảo Sulu”, hay lại chỉ các “móc và” suy diễn?
Như bác NQ chỉ ra, cái “móc và” thứ 3 không phải là ranh giới VN-Indo. Tôi gọi nó là “đường chỉ ranh giới” (line indicating the boundary) – ngụ ý là tác giả bản đồ vẽ đại khái 1 đường mà họ nghĩ là ranh giới. Họ đã vẽ đại cái lưỡi bò thì đâu có quan tâm về độ chính xác của ranh giới các nước khác.
Thật ra khi viết về Biển Đông bác Trương Nhân Tuấn viết sai rất nhiều.
Thí dụ như bài này và bài báo cáo thềm lục địa.
Ngoài ra còn những vụ như
_Anh đòi EEZ/TLD cho Rockall
_Valencia người Phi
_vùng nước quần đảo
_EEZ = 200 HL + 12 HL + 12 HL
_Hiệp định VBB không tôn trọng lãnh hải của đảo Cồn Cỏ.
Và bác Trương Nhân Tuấn sai ngay cả về địa lý cơ bản Biển Đông, thí dụ như đoạn
do đó có thể hiểu ngầm hiện nay Trung Quốc giải thích vùng biển của mình trên căn bản có chủ quyền các quần đảo HS, TS, dải Đông Sa (Macclesfield) và bãi ngầm (Minzhou dao) Scarborough.
Trong bài “Sơ lược hiện trạng tranh chấp Biển Đông và các phương pháp giải quyết – Hay là góp ý thêm với ông Phạm Quang Tuấn và Dương Danh Huy về phương pháp giải quyết vấn đề Biển Đông” (http://www.talawas.org/?p=2123).
Thật ra quần đảo mà TQ gọi là Đông Sa là Pratas chứ không phải Macclesfield.
Và thật ra Scarbrorough Shoal không phải là bãi ngầm mà là bãi cạn.
Và tên tiếng Trung của Scarbrorough Shoal không phải là “Minzhou dao” mà là “Huangyan dao” (Hoàng Nham).
Những điều này cho thấy:
_Nghiên cứu của bác Trương Nhân Tuấn còn thiếu phần cẩn thận.
_V/d Biển Đông khá phức tạp, và khó có nhà nghiên cứu nghiệp dư nào có thể biết tất cả.
_Cần có sự khiêm nhường và thiện chí với nhau.
Mấy cái mà ông TN Tuấn gọi là “móc và” trên bản đồ 1, thực ra, chỉ là những đường chỉ ranh giới giữa Malaysia / Indonesia, Malaysia / Phi và Việt Nam / Indonesia mà thôi! Nhìn kỹ, ông TN Tuấn sẽ thấy tới ba cái “móc” chứ không phải là hai cái. Có nhiều bản đồ 9-gạch của Tàu vẽ rõ hơn.
Đúng như bác PQ Tuấn viết, 3 “cái móc” thường thấy trên bản đồ 9 gạch, theo thứ tự từ Đông sang Tây là:
– Cái “móc đi vào biển Sulu” (theo Hòa Nguyễn) thực ra là đường ranh giữa Malaysia và Philippines theo hiệp định Paris 1898 (TBN-Mỹ) và thỏa ước 1930 (Mỹ-Anh), khởi đi từ điểm (7°40′N 116°0′E). Trên bản đồ TN Tuấn, đường này dừng ở điểm số 6 của thỏa ước 1930 (6°0′N 118°50′E).
– “Móc” thứ hai là một phần của đường phân định thềm lục địa giữa bang Sarawak (Malaysia)và phần còn lại của Indonesia trên đảo Bornéo. Đường này bao gồm 5 điểm từ 21 (2°5′N 109°38′8″E) đến 25 (6°18′2″N 109°38′6″E). Trên bản đồ TN Tuấn, “móc” thứ hai tương ứng với đoạn 21-22 vì các điểm 23, 24, 25 đã nằm trong vùng biển 9 gạch.
– “Móc” thứ ba không là đường ranh giới Việt Nam-Indonesia như đã ký kết năm 2003. “Móc” đó tượng trưng cho một phần trung tuyến giữa các bờ biển của Việt Nam và Indonesia, nằm vào khoảng giữa 2 điểm (5°35′N 108°6′E) và (5°15′N 107°21′), căn cứ theo bản đồ của ông Vũ Hữu San.
link: http://www.vietnamexodus.org/vne/vneimages/news1/1-NuocVietChuS-BanDo.jpg
Tóm lại, tuyệt đối không có cơ sở nào cho suy diễn “móc và” của ông Trương Nhân Tuấn.
Hình như Trương Nhân Tuấn cũng có vấn đề với tiếng Việt. Ông viết: “Bác đọc tài liệu theo link trên sẽ thấy các học giả người Hoa « bơm » nó lên tới thế ký thứ 19 !”
Tài liệu viết: “Đường chữ U, được Hu Jinjie, một người chuyên vẽ bản đồ người Trung Quốc, vẽ lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1914”.
Cho nên có thể ông Trương Nhân Tuấn (hay sách Pháp) nói đúng chỗ này (có móc đi vào biển Tulu).
Bác TN Tuấn không nói là có móc đi vào biển Sulu mà nói là có cái “‘móc và’ quần đảo Sulu”.
Đúng là “có móc đi vào biển Sulu” nhưng cái móc đó cách quần đảu Sulu hơi xa, và ý nghĩa của nó khó có thể là “‘móc và’ quần đảo Sulu”.