Vài lời kết luận về cuộc tranh luận về Biển Đông
23/04/2009 | 12:15 sáng | 62 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: văn hoá tranh luận
Cuộc tranh luận vài tuần nay trên talawas về các vấn đề chủ quyền của VN tại bãi Tư Chính – Vũng Mây và về các phương pháp phân chia Biển Đông hình như vì «lý do kỹ thuật» nên đã đi ra ngoài quá xa các điểm cần bàn luận. Tôi không có lý do để phàn nàn việc này vì mọi người có quyền có ý kiến của mình. Chỉ xin, trước khi có một vài ý kiến phản biện về nguồn gốc ông Valencia đang đặt ra, được tóm lược lại một số điểm đã bàn luận để mọi người thấy rõ các bên đang nói với nhau về các vấn đề gì, điểm nào chưa sáng tỏ, điểm nào cần góp ý thêm, sau đó cần có một kết luận để chấm dứt việc tranh luận này.
Tôi đã đặt vấn đề Biển Đông qua bài viết «Chủ quyền của Việt Nam tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn», sau đó là các bài «Góp ý cùng ông Phạm Quang Tuấn về vấn đề ông Dương Danh Huy và giải pháp Biển Đông», bài «Sơ lược hiện trạng tranh chấp Biển Đông và các phương pháp giải quyết», cuối cùng là vài bài về kỹ thuật góp ý với ông Dương Danh Huy về các bằng chứng về hiệu lực các đảo nhỏ xa bờ; các ý kiến của tôi tóm lược như sau:
1. Bài «Chủ quyền của Việt Nam tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn»
– Tôi cho rằng chủ quyền của VN tại vùng này bị phía Trung Quốc đe dọa. Việc tập đoàn ExxonMobil ngưng hoạt động tại vùng Tư Chính – Vũng Mây và tập đoàn BP tuyên bố hủy bỏ hợp đồng tại các lô 5.2 và 5.3 là một biến cố quan trọng. Tôi nghĩ rằng các học giả VN không thể không đầu tư suy nghĩ về chủ quyền của VN ở các vùng này. Theo tôi, «hội thảo về Biển Đông» vừa qua không có tầm sâu, không có đề án đáp ứng những yêu cầu cấp bách của tình hình tranh chấp hiện tại.
– Tôi cho rằng các tập đoàn BP và ExxonMobil rút lui một mặt là do các áp lực về kinh tế và quân sự của TQ nhưng mặt khác, quan trọng hơn, là lý lẽ TQ về chủ quyền của họ tại vùng Tư Chính – Vũng Mây đã thuyết phục được các tập đoàn này cũng như dư luận thế giới. Tôi cho rằng lập luận của TQ (để giành chủ quyền vùng Tư Chính – Vũng Mây) là do hiệu lực các đảo TS mà họ nói là của họ, nhất là đảo mang tên Trường Sa, đảo này hiện nay do quân đội VN trấn giữ, có đủ điều kiện để đòi hỏi vùng ZEE 200 hải lý, có chồng lấn thềm lục địa với bãi Tư Chính – Vũng Mây, chứ không phải do các giả thuyết về hiệu lực biển chữ U của TQ.
– Tôi có báo động rằng hầu hết các Atlas của các nước lớn trên thế giới năm 2007 và 2008 mà tôi có tham khảo, đều có ghi nhận, cách này hay cách khác, ý nghĩa công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Tôi cho rằng việc này rất nguy hiểm cho VN nếu các học giả VN không sớm ý thức và tìm cách ngăn chặn việc phổ biến tai hại này.
– Tôi cho rằng phía VN nếu muốn dành lại chủ quyền của mình tại Tư Chính – Vũng Mây và bãi Nam Côn Sơn thì phải thỏa mãn điều kiện sau : Chủ quyền của VN tại các đảo thuộc TS phải được quốc tế nhìn nhận và hiệu lực các đảo này tùy thuộc theo qui định của nội dung luật biển 1982.
– Tôi cho rằng chủ quyền của VN tại các đảo thuộc HS và TS chỉ có thể khẳng định khi nào công hàm của ông Đồng bị hóa giải.
– Tôi phản bác lập luận của ông Dương Danh Huy qua bài viết có cùng tên («Chủ quyền của Việt Nam tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây») vì lập luận bài viết nguy hiểm cho VN. Ông Dương Danh Huy chủ trương các đảo TS có hải phận không quá 12 hải lý đồng thời các bằng chứng ông đưa ra để chứng minh (các đảo HSTS chỉ có hải phận không quá 12 hải lý) thì không trung thực. Xin ghi chú về từ «hải phận». Ông Huy thường bắt bẻ khi tôi viết «hải phận» thay vì lãnh hải. Thực ra từ «hải phận», vùng biển, có ý nghĩa chung chung, sử dụng khi người ta chưa xác quyết được đặc tính vùng biển ở nơi đó (nội hải, lãnh hải, vùng tiếp cận hay vùng kinh tế độc quyền).
2. Bài «Góp ý cùng ông Phạm Quang Tuấn về vấn đề ông Dương Danh Huy và giải pháp Biển Đông»
– Sau khi bài viết «Chủ quyền của VN tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn» của tôi được công bố thì nhận được sự phản hồi gay gắt từ ông Phạm Quang Tuấn qua bài «Giải pháp Biển Đông». Với bài viết này ông Phạm Quang Tuấn không nhằm phản biện các ý kiến của tôi trong bài nêu trên, mặc dầu, vì lợi ích của VN, có rất nhiều điểm cần phải bàn luận cho rốt ráo. Ông Phạm Quang Tuấn chỉ hoài nghi về một số dữ kiện hay biến cố mà tôi đã ghi nhận, như hiệu lực công hàm của ông Đồng và dư luận quốc tế, sau đó đề cao phương pháp phân chia Biển Đông của ông Dương Danh Huy.
– Trong bài góp ý của ông Phạm Quang Tuấn, đúng ra là bài đề cao phương pháp phân chia Biển Đông của ông Dương Danh Huy, tôi cho rằng ông đã phạm một sai lầm lớn. Phương pháp phân chia Biển Đông của ông Huy thực ra là một sản phẩm trí tuệ của học giả Mark Valencia (đôi khi tôi viết Marc chữ c thay vì Mark chữ k phía sau vì theo thói quen viết tiếng Pháp). Ông Phạm Quang Tuấn cho rằng nếu phương pháp này có lợi cho VN thì tại sao lại không sử dụng ? Điều này trước hết cho thấy đạo đức của ông Tuấn có vấn đề, nhưng sau đó phương pháp phân chia này không hề có lợi cho VN.
– Về việc phân chia Biển Đông, phương pháp của ông Dương Danh Huy có nhiều khuyết điểm. Việc phân chia bất khả thi, nếu chia theo hình của Ông Dương Danh Huy ở đây. Việc phân chia đã xâm phạm trái phép vùng biển và thềm lục địa của nhân loại. (Nhưng nếu các đảo HSTS có hiệu lực theo qui định của Luật Biển 1982 thì vùng biển còn lại và thềm lục địa của nó sẽ thuộc về VN.) Điều này cho thấy, lúc viết bài này, ông Dương Danh Huy không am tường phần «thềm lục địa mở rộng» của Luật Biển 1982 về Biển. Ông chỉ «copy» công trình của ông Valencia và khai triển một cách máy móc.

– Sau này ông Huy cùng bạn bè điều chỉnh lại, nhưng vấn đề vẫn không thay đổi: Đó cũng là công trình của ông Valencia và VN vẫn là nước duy nhất bị nhiều thiệt hại theo phương pháp phân chia này. Lý do: phương pháp phân chia hải phận các nước đặt giả thuyết lên sự đồng thuận của các bên VN, Phi và Mã Lai. Các bên đồng ý để qua một bên tranh chấp chủ quyền các đảo và các đảo chỉ có hiệu lực 12 tối đa hải lý, sau đó mỗi nước có ZEE 200 hải lý tính từ bờ (hay đường cơ bản). Tôi cho rằng việc phân chia như thế phía VN chịu thiệt thòi nhiều nhất vì các đảo phần lớn thuộc VN. Trong khi đó chỉ có Phi là hưởng lợi nhất theo phương pháp phân chia này. Nghi vấn đương nhiên đặt ra vì sao Phi lại được các ưu đãi này? Mặt khác, phương pháp phân chia không giải quyết hoàn toàn vấn đề, sự bất ổn vẫn tồn đọng, TQ có thể gây hấn bất cứ lúc nào. Do hiệu lực của công hàm của ông Đồng, TQ có thể tấn công các đảo của VN bất cứ lúc nào.

– Tôi cho rằng muốn giải quyết vấn đề Biển Đông trước hết là phải giải quyết chủ quyền các đảo thuộc HS và TS. Các đảo này theo lịch sử thì thuộc Việt Nam nhưng hiệu quả của công hàm của ông Phạm Văn Đồng đã làm cho vô hiệu. Vì cần cảnh báo một đe dọa ảnh hưởng đến quyền lợi đất nước, tôi phân tích ý nghĩa pháp lý của công hàm này, theo đó, công hàm này vẫn còn hiệu lực về pháp lý và lưu ý cần phải hóa giải nó.
– Tôi cho rằng việc hóa giải công hàm này là cần thiết. Tôi đã đề nghị phương pháp hóa giải.
3. Bài «Sơ lược hiện trạng tranh chấp Biển Đông và các phương pháp giải quyết»
Ông Phạm Quang Tuấn viết bài phản biện, nhưng nội dung chỉ chú trọng vào các vấn đề lặt vặt như đá Rockall, vùng nước quần đảo, về nguồn gốc ông Valencia v.v… ngoài ra thì không đả động gì đến các vấn nạn cần phải thảo luận, cho dầu nó quan hệ đến quyền lợi và tương lai đất nước VN. Ngoài ra, ông Tuấn tự cho mình quyền phê bình phương pháp của người khác; ông phê bình, đúng hơn là mạt sát, phương pháp hóa giải công hàm của ông Đồng do tôi đưa ra, trong lúc theo lẽ tự nhiên, muốn phê bình một phương pháp nào đó của ai thì trước tiên mình phải đề xuất phương pháp của mình. Trường hợp cá nhân tôi, khi phê bình phương pháp của ông Valencia mà ông Huy có khai triển lại, trước hết tôi cũng đề nghị phương pháp của mình.
Dầu vậy, tôi cũng viết bài trình bày sơ lược về lịch sử và tình hình tranh chấp các đảo HSTS, giữa VN với các nước chung quanh, nhằm giúp mọi người có một cái nhìn sơ lược về tình hình tranh chấp, để việc thảo luận còn có chút lợi ích. Ý kiến của tôi, để VN không bị mất quyền lợi, vấn đề tranh chấp phải được phân giải bằng một trọng tài quốc tế.
Qua bài này, ông Phạm Quang Tuấn có phản biện, nhưng thực ra là kêu gào, vu tội cho tôi là «xúi VN bỏ Biển Đông», qua vụ hồ sơ «thềm lục địa mở rộng». Tôi có viết bài phản biện lại, thực ra là cắt hai đoạn ngắn trong hai bài viết cũ của tôi, cắt nghĩa cho ông Tuấn biết thế nào là hồ sơ «thềm lục địa mở rộng» của VN. Nhưng nhờ bài viết này mà người ta biết ông Tuấn không có một khái niệm gì về Luật Biển 1982.
Vài nhận xét về hình thức phản biện của ông Phạm Quang Tuấn, tôi thấy ông đã rất xuất sắc trong việc xách động quần chúng. Ông cũng tỏ ra rất khéo léo về các phương pháp che giấu cái sai, cái thiếu hiểu biết vấn đề của mình bằng cách xé to các chuyện lặt vặt của đối phương, rồi đánh lạc hướng, lôi kéo mọi người qua một tranh luận khác, nóng bỏng hơn. Ông Phạm Quang Tuấn mở màn cho cuộc phỉ báng tôi trên talawas. Nhưng về thảo luận khoa học thì hoàn toàn không có gì. Nếu phải chấm điểm thì tôi sẽ cho ông Phạm Quang Tuấn một con zéro to tướng.
Tuy nhiên, ông Phạm Quang Tuấn có thể chứng minh là tôi sai, bằng cách đề ra phương cách hóa giải công hàm của ông Phạm Văn Đồng, hay đưa ra một cái nhìn chiến lược về Biển Đông, hoặc đề ra một phương pháp phân chia Biển Đông với trí tuệ của mình mà không ăn theo, nói leo theo sản phẩm trí tuệ người khác. Tôi sẵn sàng cúi đầu xin lỗi ông và rút lại lời nói trên.
4. Về các bài viết qua lại với ông Dương Danh Huy, chỉ tựu trung hai điểm: Ông Huy cố gắng giải thích việc ông không cầm nhầm sản phẩm trí tuệ của người khác và giải thích các bằng chứng về hiệu lực các đảo nhỏ, xa bờ.
– Về việc cầm nhầm sản phẩm trí tuệ của người khác, ông Huy đưa bằng chứng vòng vo, cho rằng phương pháp này không phải của ông Valencia mà là của người khác. Nhưng tựu trung ông Huy không chứng minh được đó là sản phẩm trí tuệ của mình.
– Về các dẫn chứng, ông Huy đã đưa các thí dụ: «thềm lục địa Bắc Hải, Lybia và Malta, Vịnh Maine, Guniea và Guniea-Bisseau» để chứng minh các đảo TS không có hiệu lực ZEE theo qui định của Luật Biển 1982. Tất cả các dẫn chứng này đều bị tôi chứng minh là sai, vì chúng chỉ nhằm áp dụng cho các đảo nhỏ cận bờ. Trong khi trên thực tế, các đảo xa bờ, có đảo còn nhỏ hơn cả các đảo TS (như đảo Aves của Vénézuela là thí dụ), phần lớn đều có hiệu lực ZEE 200 hải lý.
– Các bài phản biện của ông Huy hầu hết đều không đi vào vấn đề. Ông này vào internet «bưng» nguyên các bài viết của các học giả khác về dẫn chứng, chứng tỏ ta đây hiểu biết, và nhiều người cũng tưởng là như vậy, lên tiếng khen ngợi. Nhưng các dẫn chứng đó đã không sử dụng vào việc gì, ngoài việc làm hoa mắt những người không hiểu biết, tất cả đều không quan hệ đến việc chính là: chứng minh các đảo nhỏ, xa bờ không có hiệu lực ZEE theo luật biển 1982. Người ta chỉ muốn ông đưa các bằng chứng cụ thể về tính vô hiệu lực của các đảo nhỏ xa bờ và không muốn đọc các bằng chứng, các bản án chỉ sử dụng cho các đảo nhỏ, cận bờ.
5. Kết luận về cuộc tranh luận
Vấn đề ông Huy thì đã giải quyết. Chính ông Huy thú nhận phương pháp phân chia Biển Đông mà ông Phạm Quang Tuấn đã viết bài đề cao, là của ai đó chứ không phải của ông Valencia. Việc này cũng có nghĩa là nó không phải là sản phẩm trí tuệ của ông Huy.
Về các bằng chứng các đảo xa bờ không có hiệu lực ZEE, ông Huy không có khả năng đưa ra, vì trên thực tế chỉ có các bằng chứng chứng minh ngược lại, vì thế ông chỉ biện luận loay hoay. Kết luận là ông Huy đã đưa bằng chứng gian, làm thiệt hại cho quyền lợi của VN. Tôi đã kết luận công việc của ông Huy, nay nhắc lại, là dọn sân cho nhà nước «cống» các đảo và phần Biển Đông của VN cho TQ. Việc này hôm nay còn có sự tiếp tay nồng nhiệt của ông Phạm Quang Tuấn.
Về các vấn đề Biển Đông và chủ quyền các đảo, tôi nhận thấy có nhiều điều chưa được tranh luận đến nơi đến chốn. Tôi đặt rất nhiều vấn đề, phản biện rất nhiều điểm, muốn nghe các ý kiến phản biện lại. Thí dụ: Nếu để nguyên trạng như thế công hàm của ông Đồng có làm cho VN bị mất Biển Đông và các đảo HSTS hay không? Giả sử VN thỏa hiệp với hai nước Phi và Mã Lai, việc phân chia Biển Đông diễn ra êm đẹp. Câu hỏi đặt ra: dựa trên tinh thần công hàm của ông Đồng, TQ đưa quân «giải phóng» các đảo VN thì VN sẽ làm gì? Phản ứng các nước kia ra sao? Giả sử VN (hay Phi hay Mã Lai) khám phá được mỏ dầu rất lớn trong vùng biển đã phân chia, lúc đó TQ lên tiếng đòi phần, phản ứng các nước ra sao? Nếu TQ dùng vũ lực thì sẽ ra sao? Có phương cách nào khác để vô hiệu hóa công hàm của ông Đồng? Câu hỏi khác, tại sao lại phản đối hiệu lực các đảo xa bờ thuộc TS, trong lúc nhờ hiệu lực các đảo này VN chiếm hầu hết vùng biển còn lại (sau khi tôn trọng vùng ZEE của các nước)? Người ta có thể thỏa thuận với Phi, Mã Lai nhưng vẫn giữ phần lợi cho VN. Vùng Tu Chính – Vũng Mây sẽ trở thành hoàn toàn của VN nếu đảo Trường Sa có hiệu lực v.v… Nói chung, có rất nhiều giải pháp cho HSTS có lợi cho VN, nhưng không ai tranh luận.
6. Về nguồn gốc ông Valencia
Tôi có dữ kiện cho rằng ông Valencia là người Phi từ nhiều năm trước. Ông Dương Danh Duy cũng vừa nhắc là tôi đã đề cập việc này từ 8 tháng nay. Chấp nhận rằng tôi chỉ mới nói việc này từ 8 tháng nay cho tiện.
Ông Phạm Quang Tuấn có ý nói rằng tôi mới «bịa» ra mấy ngày hôm nay. Vấn đề đã không là như vậy. Nếu tôi «bịa» thì bịa từ tám tháng trước. Nhưng tám tháng trước tôi bịa ra việc này để làm gì? Có ích lợi gì? Tám tháng trước tôi đâu có tranh cãi với ai?
Khi tôi đặt nghi vấn về sự khả tín email của ông Phạm Quang Tuấn thì ông viết một bài về vụ Valencia, cho là tôi «gái đĩ già mồm». Ở đây ai là gái đĩ? Ai già mồm?
Qua các phản biện hay phê bình của các bài hay các góp ý của ông Phạm Quang Tuấn, tất cả đều rỗng về học thuật nhưng rất phong phú về các chuyện lặt vặt. Tôi nhận thấy rằng ông Phạm Quang Tuấn không nắm vững về tình hình Biển Đông, ông chỉ «già mồm» vạch lá tìm sâu, phê bình rất hỗn xược như một thứ «chị em ta» ở chính những điểm mà ông ta cũng biết mình không biết, như vụ «thềm lục địa mở rộng» hay phương pháp hóa giải công hàm của ông Đồng v.v… Ở đây ai là đĩ già mồm? Những điều đó lý ra tôi đã bỏ qua, không nhắc lại.
Tôi vẫn hoài nghi các email của ông Phạm Quang Tuấn, một người mà hôm nay tôi đã chấm điểm zéro về tinh thần khoa học. Tôi cho rằng các email như thế rất dễ ngụy tạo, ai biết chút ít xảo thuật tin học đều có thể làm được. Nhưng điều đáng tiếc là dường như mọi người trên talawas (không vơ đũa cả nắm, những người lên tiếng về việc này) hầu hết đều đứng về phe ông Phạm Quang Tuấn, ngoại trừ một hai người như ông Hòa Nguyễn, Tôn Thất Tuệ…. Việc này cho thấy tinh thần học thuật của người Việt rất kém, chỉ phê phán theo cảm tính, thích các chuyện nhỏ nhưng hiếu động, lánh xa các chuyện lớn do thiếu hiểu biết hay sợ liên lụy, phê phán theo thành kiến, không biết phải trái ra sao. Đất nước nào thì con người ấy. Đất nước VN đã không ra gì vì có quá nhiều những con người không ra gì. Nhân – quả cũng đúng thôi!
Đương nhiên tôi không loại trừ nguồn tin của tôi sai. Vấn đề viết biên khảo không như làm khoa học thực nghiệm. Khoa học thực nghiệm người ta dễ dàng kiểm chứng việc đúng sai các kết quả, các dữ kiện. Trường hợp hai nhà nghiên cứu Đại Hàn Hwang Woo-Suk và Kim Tae Kook ngụy tạo thành quả khoa học đã bị lật mặt một cách dễ dàng qua một vài cuộc thử nghiệm. Các dữ kiện trong bài biên khảo có thể đúng, có thể sai nhưng không dễ dàng kiểm chứng ; vấn đề đặt ra là các dữ kiện sai là do tác giả cố ý ngụy tạo hay do nguồn dẫn sai? Giả sử nguồn dẫn của tôi về ông Valencia sai, các lý lẽ của tôi có ảnh hưởng gì hay không? Khẳng định là ông Valencia có là người Phi hay không thì không ảnh hưởng đến nội dung các lý lẽ của tôi: việc phân chia Biển Đông theo lối của ông Valencia mà ông Huy sử dụng lại vẫn dành nhiều ưu điểm phi lý cho Phi Luật Tân mà không ai giải thích được.
Tôi xác định là nguồn gốc của ông Valencia tôi biết từ nhiều năm trước, không phải «bịa» ra mới đây như ông Phạm Quang Tuấn đã mạt sát.
Tôi có thói quen ít khi «khảo cứu» trên internet, khác rất nhiều với ông Phạm Quang Tuấn và Dương Danh Huy, vì tôi cho rằng kết quả sẽ không đem lại việc gì mới – như tinh thần đòi hỏi của công tác nghiên cứu – mà điều không lường là mình «nhai lại» các ý kiến, các dữ kiện của người khác. Nhai lại cũng là một hình thức đạo văn, đúng, sai cũng có ngày lãnh đủ. Tôi chủ trương việc nghiên cứu nên tham khảo các tài liệu, các dữ kiện «gốc». Thỉnh thoảng tôi vắng nhà vài ngày để đi vào các thư viện, các văn khố các nước để tham khảo tài liệu. Lúc viết bài này, cũng như ở một hai bài trước, là viết lúc tôi vừa đi xa về. Các bài viết của tôi phần lớn khai thác các đề tài chưa ai viết, do tôi có các dữ kiện chưa từng được các học giả VN tham khảo, tôi tự hào về việc này. Hôm nay bị người phê bình là «gái đĩ già mồm», cũng đúng thôi, tôi sẽ còn tiếp tục già mồm như thế để bảo vệ đất nước cho con cháu mình, nếu có thể trên diễn đàn talawas này. Chỉ tiếc là, không biết do tình trạng ma cũ, ma mới – tôi chỉ mà ma mới trên talawas – hay là việc làm của tôi ảnh hưởng đến Đảng CSVN, mà đã có những phê phán rất kỳ thị, rất cá nhân. Tôi không mong có sự thay đổi, vì thái độ đó thể hiện rõ rệt tinh thần của người Việt. Phải biết mình mới hy vọng sửa chữa được.
Trương Nhân Tuấn
Bình luận
62 Comments (bài “Vài lời kết luận về cuộc tranh luận về Biển Đông”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 Trang sau »
Góp ý thêm với ông Phạm Quang Tuấn về việc ông cho rằng : « Chẳng hạn, tất cả các thương thuyết biên giới Việt-Trung trên đất cũng như trên biển đều dựa vào sự VN kế thừa Pháp qua những hiệp ước Pháp-Trung, ít ra là làm khởi điểm”.
Thực ra nguyên tắc “kế thừa” dựa lên tinh thần công ước Vienne 1969.
Xét các công ước Vienne 1969, ta thấy có hai công ước : “Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties” và “Vienna Convention on the Law of Treaties”.
Điều 11 của “Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties” viết như sau:
Article 11
Boundary regimes
A succession of States does not as such affect:
(a) a boundary established by a treaty; or
(b) obligations and rights established by a treaty and relating to the regime of a boundary.
Tạm dịch : “Thể lệ về biên giới: Một sự kế tục của quốc gia không đặt lại vấn đề về: a) biên giới xác định do một hiệp ước và b) nghĩa vụ và quyền lợi xác định do một hiệp ước có liên hệ với một thể lệ về biên giới.”
Ta thấy ở trường hợp VN và TQ, nếu việc phân định biên giới xảy ra trước 1969 thì nguyên tắc « kế thừa » chưa chắc đã được tôn trọng.
Sau 1969, VN và TQ đều công nhận và tôn trọng công ước quốc tế Vienne 1969, do đó việc « kế thừa » được đặt ra.
Tuy nhiên, thực tế hiệp ước phân định biên giới tháng 12 năm 1999 hai bên VN và TQ đã không tôn trọng hoàn toàn tinh thần công ước phân định biên giới 1887 ký kết giữa Pháp và nhà Thanh. Thí dụ, một số điểm tại Nam Quan, Bản Giốc… hoặc các cao điểm của VN bị TQ chiếm trong trận 1979 thì không được tôn trọng đúng như tinh thần công ước 1887 ; tại các nơi này VN mất đất cho TQ. Thí dụ khác, về việc phân định của sông Bắc Luân hai bên VN và TQ cũng không tôn trọng tinh thần công ước 1887, phía thiệt hại cũng là VN.
Nhắc lại công hàm của ông Đồng, đây không phải là một « kết ước » như anh Huy đã có nói, do đó nó sẽ không có hiệu lực lên việc kế tục quốc gia. Tuy nhiên, đến nay, theo tôi công hàm này vẫn có hiệu lực vì người kế tục quốc gia VN hôm nay chính là người đã chủ trương nội dung công hàm của ông Đồng. Đảng CSVN đã chủ trương như thế thì TQ buộc họ phải tôn trọng ; không tôn trọng thì họ đánh. Tôi đã có nói, việc vô hiệu hóa công hàm ông Đồng là một vấn đề cấp bách. Nhiều người đề nghị đưa ra quốc hội để làm thủ tục tuyên bố hủy bỏ công hàm này, đây cũng là một phương pháp, nhưng theo tôi cũng có nhiều điều không ổn.
Về trường hợp Anh và Argentine, ta thấy thuyết « kế thừa » của Argentine rất gượng ép. Anh đã « chinh phục » được Malouines, như đã chinh phục nhiều phần đất khác. Sau này Anh có chủ trương trả lại độc lập cho tất cả các thuộc địa, kể cả Malouines, nếu dân ở đây muốn vậy. Nhưng như đã nói, các đảo Malouines không có dân « gốc » sinh sống, chỉ có dân di cư từ Anh sang, do đó « ý dân là ý trời », phía Argentine khó làm được việc gì. Nên nhớ, lúc Argentine đưa quân chiếm đảo năm 1982, Anh đã thành công nhóm họp được Hội Đồng Bảo An LHQ và LHQ có ra quyết định yêu cầu Argentine rút quân về (nhưng nước này không rút nên Anh quyết định đánh).
Ông Phạm Quang Tuấn viết thế này : « Kế thừa là một tiêu chuẩn vô cùng quan trọng chứ không “yếu” như TNTuấn nghĩ. »
Tôi chưa bao giờ nói tiêu chuẩn « kế thừa » là quan trọng hay không quan trọng như ông PQ Tuấn đã viết.
Tuy nhiên, về tranh chấp Malouines (Falkland) giữa Anh và Argentine vấn đề « kế thừa » của Argentine không đứng vững. Nguyên tắc về « kế thừa » hay nguyên tắc « liên tục quốc gia » chỉ mới có sau Thế Chiến Thứ II, qua công ước Vienne 1969. Vào năm 1833 chủ quyền của một vùng đất được xác định theo « luật » của thời đó mà tôi có nói sơ lược trong góp ý vừa rồi. Các điều ước của công ước Vienne 1969 có nguyên tắc « bất hồi tố », làm sao có thể lấy yếu tố « kế thừa » (1969) để phủ nhận « quyền chinh phục đất mới » (1833) của Anh ?
Xin được có một vài ý kiến về câu hỏi của bác Lưu Linh liên quan đến hai lãnh vực lịch sử và pháp lý về chủ quyền của VN tại HS và TS.
Bác Lưu Linh nhận xét : « Về bằng chứng lịch sử thì Việt Nam có nhiều bằng chứng nói lên chủ quyền của hai quần đảo. Nhưng về bằng chứng pháp lý thì hầu như không thấy nói tới. » Bác đặt câu hỏi như sau : « nếu Việt Nam có những bằng chứng pháp lý để chứng minh rằng Việt Nam có chủ quyền đối hai quần đảo HSTS, thì những bằng chứng đó là gì » ?
Câu hỏi rất hay, xin được phép góp vài ý kiến.
Theo tôi thì trước hết chúng ta nên phân biệt thế nào là « bằng chứng lịch sử » và thế nào là bằng chứng « pháp lý » (nhưng thực ra tất cả các bằng chứng về lịch sử đều chỉ nhằm mục đích củng cố một yếu tố hay một giả thuyết về pháp lý). Chủ quyền một quốc gia ở một vùng đất nào đó được xác định tùy theo luật lệ ở thời kỳ đó. Ta có thể chia ra làm ba thời kỳ :
1/ Từ thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 16 : do hiệu lực của sắc lệnh (bulle) ngày 4 tháng 5 năm 1493 do Giáo Hoàng Alexandre VI, theo đó « thiên hạ », tức những vùng đất đã và sẽ tìm thấy, được « chia » như sau : nếu vùng đất ở về phía đông của đường thẳng đi qua hai địa cực (tức là đường kinh tuyến theo nghĩa bây giờ) cách đảo Cap Vert 100 hải lý, thì chúng thuộc về Bồ Đào Nha ; những vùng đất đã và sẽ tìm thấy ở phía Tây đường này thì thuộc Tây Ban Nha.
2/ Từ đầu thế kỷ 16 đến thế kỷ thứ 19 thì có nhiều nước mới được mở mang như Anh, Hòa Lan, Pháp… hải quân của các nước này hùng mạnh, họ cũng có tham vọng bành trướng tìm thuộc địa và do đó phản đối « luật » của Vatican. Để tránh việc xung đột giữa các cường quốc, cách thức « phân chia thiên hạ » được định nghĩa lại. Theo « luật » mới này, nước nào khám phá đầu tiên thì vùng đất đó thuộc nước đó. Việc « khám phá » được xác định bằng cách « cắm cờ » lên vùng đất vừa khám phá. Luật này được bổ túc thêm sau đó qua các là hành vi như cắm bia, dựng mốc chủ quyền. Nhưng các việc này vẫn chưa cụ thể vì có những tranh chấp do việc cờ hay bia biến mất, các nước khác đến cắm cờ và dựng bia khác, do đó việc chiếm hữu phải được bổ túc thêm việc quản lý thường trực trên vùng đất (tức có người đến quản lý). Trở lại thí dụ tranh chấp quần đảo Malouines (Falkland) giữa Anh và Argentine, ta thấy Anh đã hội đủ các yếu tố pháp lý về việc thết lập chủ quyền của họ tại đây.
3/ Thời kỳ thứ 3 bắt đầu từ năm 1885 đến ngày hôm nay. Thực ra ta phải phân chia làm nhiều thời kỳ khác trong gian đoạn này, vì có rất nhiều luật lệ sau này đã được đặt ra.
Theo Hội Nghị Berlin về Châu Phi năm 1885 giữa các cường quốc, việc chiếm hữu phải được bổ túc thêm một số các việc như phải thông báo việc chiếm hữu đến các cường quốc khác và vùng đất đó phải có một « lực lượng » trú phòng. Đến năm 1888 thì được bổ túc thêm các chi tiết như : chỉ có tư cách quốc gia mới có quyền chiếm hữu một vùng đất ; việc chiếm hữu phải được tiến hành bằng một phương pháp hòa bình, trên những vùng đất vô chủ hay đã có chủ nhưng từ bỏ chủ quyền. Mở một dấu ngoặc để nói về trường hợp của TQ và Phi chiếm các đảo của VN. TQ chiếm bằng vũ lực thì việc chiếm hữu không có giá trị (nhưng họ viện cớ đất HS&TS là đất của VN nhưng đã công nhận của TQ). Phi thì lên tiếng đòi chủ quyền các đảo TS dựa lên việc một cá nhân người Phi tên Thomas Cloma năm 1956 tuyên bố làm « chúa đảo » các đảo mà trước đó là của VN, sau đó xác định đầu thập niên 30 qua việc tuyên bố chủ quyền của Pháp.
Đến năm 1919 thì có công ước St Germain ký kết giữa các cường quốc nhằm thay đổi nội dung hội nghị Berlin vì lý do không còn đất vô chủ nữa trên địa cầu, nhưng các điều lệ của hội nghị Berlin vẫn được tôn trọng. Từ đó đến nay đã có rất nhiều luật lệ quốc tế mới đã được thiết lập, nhất là bộ luật về Biển 1982 v.v…
Như thế, VN muốn xác định chủ quyền của mình ở HS và TS thì phải có những « bằng chứng lịch sử » vào các thời kỳ đã dẫn trên, để xác quyết chủ quyền của mình. Vì thế, bằng chứng lịch sử là nhằm bổ túc hay củng cố bằng chứng pháp lý.
Việc này tôi sẽ viết tiếp theo để trả lời câu hỏi : « Xin được hỏi Ông Tuấn, Huy và những ai có kiến thức về đề tài HSTS, nếu Việt Nam có những bằng chứng pháp lý để chứng minh rằng Việt Nam có chủ quyền đối hai quần đảo HSTS, thì những bằng chứng đó là gì. Những bằng chứng pháp lý có những điểm mạnh gì và yếu điểm nào. » (nếu không thấy ai viết tiếp).
Ông TN Tuấn viết “Lịch sử quần đảo Malouines có nhiều nguồn giải thích khác nhau, đôi khi trái ngược nhau”. Điều đó đúng. Vấn đề là những khám phá đầu tiên không chắc chắn lắm, nên mỗi phe nói một khác. Những nguồn Argentina nói rằng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tìm ra đầu tiên: Vespucci (1501), Gómez (1520), de Alcazaba (1535), de Camargo (1540). Tuy nhiên, tôi đã viết “Hòa Lan tìm ra Falklands đầu tiên” là dẫn ở ngay từ điển bách khoa Britannica CỦA ANH: “it was the Dutchman Sebald de Weerdt who made the first UNDISPUTED sighting of them about 1600″ (Sebald de Weerdt người Hòa Lan là người đầu tiên KHÔNG AI CHỐI CÃI đã nhìn thấy đảo này khoảng 1600” (http://www.britannica.com/EBchecked/topic/569422/John-Strong) (chữ hoa của tôi).
Dù sao, chỉ khám phá cũng không đủ để thiết lập chủ quyền, nếu có người khác đến lập nghiệp. Chẳng hạn người Hòa Lan đã khám phá ra Úc (dân Âu châu ngày xưa coi Úc là “đất vô chủ”, Terra nullius, vì không coi thổ dân là chủ đất), nhưng chủ quyền thuộc về Anh do người Anh đến lập nghiệp (settlement). Theo tiêu chuẩn chủ quyền do lập nghiệp trước, thì chủ quyền của Argentina không thể chối cãi được vì kế thừa TBN (1820), mà TBN đã mua lại một cách hợp pháp từ Pháp, nước gửi người định cư đầu tiên (1764).
Kế thừa là một tiêu chuẩn vô cùng quan trọng chứ không “yếu” như TNTuấn nghĩ. Chẳng hạn, tất cả các thương thuyết biên giới Việt-Trung trên đất cũng như trên biển đều dựa vào sự VN kế thừa Pháp qua những hiệp ước Pháp-Trung, ít ra là làm khởi điểm.
Lịch sử quần đảo Malouines có nhiều nguồn giải thích khác nhau, đôi khi trái ngược nhau. Điển hình nguồn của tôi trích dẫn và nguồn của ông Phạm Quang Tuấn :
« Quần đảo do John Davis (người gốc Sandridge, thuộc vùng Devonshire, Anh Quốc) khám phá năm 1592. Năm 1594 John Hawkins (cũng là người Anh) đổ bộ lên các đảo, nhân dịp đặt tên là Maidenland (đảo Trinh Nữ) để vinh danh nữ hoàng Elisabeth I. Ông Sebald de Weert người Hòa Lan chỉ biết đến đảo này năm vào 1600… Đảo được đặt tên Falkland do ông Strong vào năm 1690, trước đó là tên eo biển chia hai đảo (Đông và Tây Falkland…). Đến năm 1701 thì được mang tên Malouines, là tên của những người dân ở Saint-Malot (Pháp)… » (theo Atlas Imago-Mundi).
Như thế, nếu dựa lên tài liệu này, chủ quyền của Anh tại Malouines được thiết lập nhờ vào việc « khám phá đất vô chủ », « chiếm hữu đất vô chủ » và « chinh phục » một vùng đất cũng vô chủ. Vô chủ trong ý nghĩa là các đảo Malouines đầu tiên thì không có người sinh sống (do khí hậu khắc nghiệt). Argentine chỉ dựa lên lý thuyết « kế thừa » thì hơi yếu so với Anh.
Về chủ quyền của VN ở HS và TS tôi chưa bao giờ có ý kiến như ông PQ Tuấn viết sau đây : « Từ trước ông TN Tuấn vẫn cho là kế thừa là một lý lẽ rất mạnh. Bây giờ dường như lại cho kế thừa phải thua võ lực. » Tôi chưa bao giờ có ý kiến xác định như thế.
Tôi có một số bài viết về chủ quyền của VN tại HS và TS cũng như bài dịch là Bạch thư 1981 viết bằng tiếng Pháp của VN về HS và TS có lưu trữ tại CAOM (mã số Br 14279), nhưng chưa bao giờ khẳng định là thuyết « kế thừa » mạnh hay yếu hơn thuyết « khám phá » v.v… Pháp lý không thuộc lãnh vực của tôi, nhưng theo tôi, chủ quyền của VN tại HS được xác lập do lý thuyết « chiếm hữu, khai thác và quản lý thường trực » từ lâu đời, trước khi TQ có khái niệm về chủ quyền các đảo trên biển. Về TS thì VN cũng có chủ quyền như lý thuyết ở HS, nhưng sau đó khẳng định thêm qua lý thuyết « kế thừa ».
Cũng có thể là vụ Falklands/Malvinas có 1 điểm đáng suy nghĩ liên quan tới CH PVD.
Sau vụ đụng độ trong TK 18, Anh-TBN trao đổi công hàm thoả thuận về vụ này, trong đó TBN khẳng định chủ quyền mà Anh không khẳng định chủ quyền, mà cũng không nói là mình đồng ý ngoại trừ lời khẳng định chủ quyền của TBN đối với Falklands.
Điều này có phần giống CH PVĐ nói tán thành tuyên bố 1958 của TQ mà không nói “ngoại trừ những gì có thể liên quan tới HSTS” (*).
Nếu xem phía Anh lập luận về v/d đó thế nào, biết đâu có thể kiếm được điều gì có ích lợi.
(*) Việc này rõ ràng CP PVĐ có vấn đề về CH đó – một người bình thường cũng thấy được là nếu nói tán thành tuyên bố 1958 của TQ thì cũng nên thêm 1 câu kiểu “ngoại trừ những gì có thể liên quan tới HSTS” vào cho chắc ăn.
Ngưng người thường cũng có thể thấy được là CP PVĐ quan tâm về “chắc ăn” về chuyện khác hơn.
@Bác TN Tuấn,
Tôi chưa đọc text của Treaty of Ultrecht (TK 18) nhưng thấy nhiều nguồn nói trong hiệp ước đó Anh từ bỏ tất cả các thuộc địa ở Nam Mỹ, không nói là ngoại trừ Falklands.
Sau đó, Anh không tôn trọng HƯ và tới tranh chấp.
Sau 1 vụ đụng độ Anh-TBN, Anh đồng ý rút lui và Anh-TBN trao đổi công hàm trong đó TBN khẳng định chủ quyền, Anh không phản đối.
Tới TK 19, Anh lợi dụng hỗn loạn gì đó, quay lại chiếm.
TN Tuấn: Một cách thật giản lược thì phía Argentine, chủ quyền của họ tại Malouines được thiết lập do « kế thừa », trong khi của Anh là do « khám phá » (1690), « chiếm đóng » (1765) và « chinh phục » (1833).
Anh không khám phá Fallands mà Hòa Lan khám phá. Anh chiếm đóng Falklands sau Pháp. Chỉ có “chinh phục” và sau đó là bảo vệ bằng võ lực là đúng. Vậy vẫn đúng như tôi nói.
Từ trước ông TN Tuấn vẫn cho là kế thừa là một lý lẽ rất mạnh. Bây giờ dường như lại cho kế thừa phải thua võ lực. Áp dụng cho TS, VN kế thừa chủ quyền từ Pháp (giống như Argentine kế thừa từ TBN), còn ưu thế võ lực thì thuộc về TQ (giống như Anh).
Nói tóm lại, nếu cho rằng “Anh có đầy đủ bằng chứng chúng minh chủ quyền” là sai. Nói rằng “không thể so sánh tranh chấp Malouines với tranh chấp HS và TS giữa VN và TQ” cũng không đúng. Điểm chung là yếu tố võ lực rất quan trọng.
Theo tôi lịch sử tranh chấp Malouines (Falkland) rất phức tạp, hiện nay có nhiều cái nhìn đối nghịch nhau, phe nào cũng có hồ sơ lịch sử và pháp lý vững chắc. Nếu viết cho rõ rệt từng chi tiết lịch sử và pháp lý để làm so sánh thì việc này đòi hỏi rất nhiều thì giờ, nó ở ngoài sức lực và khả năng của tôi.
Một cách thật giản lược thì phía Argentine, chủ quyền của họ tại Malouines được thiết lập do « kế thừa », trong khi của Anh là do « khám phá » (1690), « chiếm đóng » (1765) và « chinh phục » (1833). Về hiệp ước mà anh Huy có đề cập, nếu xét cho tường tận, thì chưa chắc nó đã bao gồm luôn Malouines (Falkland). Khi Argentine đặt chính quyền tại đây năm 1820 là « chính quyền thuộc địa », tức nước này xem Malouines là thuộc địa chứ không phải là vùng đất « bất khả phân » của mình.
Tôi chỉ muốn nhấn mạnh điểm chánh là không thể so sánh tranh chấp Malouines với tranh chấp HS và TS giữa VN và TQ. Phía TQ chỉ mới biết tới HS vào năm 1909 mà thôi (trong khi VN thì đã khai thác và quản lý các đảo này từ trăm năm trước).
Về lý thuyết hay toán học có vô số giải pháp giữa 0% và 100% EEZ, nhưng UNCLOS chỉ quy định hai trường hợp: Đảo tính như đất liền, tức được EEZ 200 HL, và Đá không được EEZ. UNCLOS không nói tới phương thức hay định chế nào có thẩm quyền sửa đối quy định trên.
UNCLOS cũng quy định là việc phân định EEZ và TLD phải công bằng (equitable), eg, Điều 74.
1 số tác giả nổi tiếng, eg, Clagett, Valencia cho là các án lệ, tập quán ngoại giao có thể indicate sự công bằng. TACLQT đã từng cho 1 số đảo hiệu lực giữa 0% và 100%.
Nếu chỉ nhìn UNCLOS mà không bổ cung bằng các án lệ, tập quán ngoại giao trước vàu sau 1982 thì khó làm sáng tỏ vấn đề.
Không có gì cấm mình chọn điều mà mình cho là công bằng và đề nghị với các nước khác.
@Bác Hà Minh
Lúc đó lính VN chưa đầu hàng nên khó có thể kiện TQ tội “tội phạm chiến tranh”. Không có luật nào cấm bất cứ nước nào dùng hoả lực áp đảo trong 1 trận đánh. Nhưng cũng có thể cần nghĩ tới khía cạnh tuyên truyền về sự dã man của TQ.
Và hiến chương LHQ có cấm dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp.
@Bác Lưu Linh
Việt Nam lẫn Trung Quốc đều khẳng định chủ quyền của hai quần đảo dựa trên những bằng chứng lịch sử nhiều hơn là pháp lý.
Đối với đảo, lịch sử là bằng chứng pháp lý.
nếu Việt Nam có những bằng chứng pháp lý để chứng minh rằng Việt Nam có chủ quyền đối hai quần đảo HSTS, thì những bằng chứng đó là gì. Những bằng chứng pháp lý có những điểm mạnh gì và yếu điểm nào.
Xin phép trả lời bác bằng cách “lười” là giới thiệu với bác quyển của GS Monique Chemillier-Grendreau (dịch từ bản gốc tiếng Pháp):
http://books.google.co.uk/books?id=58q1SMZbVG0C
Tôi nghĩ điểm yếu nhất của VN là công hàm PVĐ.
Riêng câu hỏi này xin được hỏi Ông Huy, đã có những trường hợp hay tiền lệ nào trong đó một quốc gia xin được ý kiến tư vấn(advisory opinion) từ Toà Án Công Lý Quốc Tế để từ đó sử dụng thành cơ sở của hồ sơ pháp lý trong mình.
Tôi không biết tới trường hợp nào như vậy.
Khi tôi nói về ý kiến tư vấn của TACLQT thì là cho những mục đích:
1. Để chính ta biết thế nào là công bằng.
2. Để ta thuyết phục các nước khác.
3. Để ta dùng trong tuyên truyền.
Chủ quyền của Anh ở Falklands không vững chắc như ông TN Tuấn viết…Chủ quyền Anh đặt trên hai căn bản: 1. Dân Falkland (căn bản là gốc Anh) muốn thuộc về Anh, và 2. Sức mạnh quân sự của Anh.
Ông PQ Tuấn viết rất chính xác.
Phía Argentina cho là Anh có ký hiệp ước công nhận chủ quyền lãnh thổ của Tây Ban Nha ở Nam Đại Tây Dương, và cho là có nghĩa công nhận chủ quyền TBN đối với Falklands/Malvinas.
Ngoài ra, sau 1 vụ xung đột/chiếm đóng, Anh và Argentina trao đổi công hàm trong đó Argentina khẳng định chủ quyền đối với Falklands/Malvinas và trong đó Anh không phản đối.
Xét theo lý lẽ pháp lý thuần tuý thì tôi thấy có vẻ là lý lẽ của Argentina đúng hơn.
Phía Anh thì cho là yếu tố quan trọng nhất là nhân quyền và quyền tự khẳng định (the right of self determination) của dân cư Falklands, đã có ở Falklands từ nhiều thế hệ.
Một số học giả nước ngoài (xin lỗi, tôi quên nguồn – tuỳ người đọc chọn tin hay không) cho là 2 tranh chấp đảo hóc búa nhất là Falklands/Malvinas và Trường Sa.
Vụ Falklands/Malvinas có 1 số bài học cho VN:
1) Argentina bị Anh chiếm đảo hơn 100 năm, vẫn không ngưng khẳng định chủ quyền. VN ta không biết có kiên cường bằng Argentina không.
2) Argentina có ngày Malvinas cho những liệt sĩ của họ. Việt Nam không có ngày Hoàng Sa, Gạc Ma.
3) Khi các đồng chí anh em cho dân cư tới Hoàng Sa, ở nhiều đời, thì càng khó đòi.
Xin góp ý với ông Lưu Linh về chủ quyền HS, TS.
Về lịch sử, VN có chứng cớ chủ quyền trên hai quần đảo HS và TS tuy việc ghi chép sử không minh bạch, kể cả có những bản đồ do hàng hải Tây phương vẽ vào giữa thế kỷ 18, tuy không chính xác do kỹ thuật đo đạc thời đó. Phi và Mã không đưa ra chứng cớ lịch sử (vì không có).
Về pháp lý, Pháp bảo hộ VN, đã đặt HS và TS thuộc các đơn vị hành chính ở miền Trung của triều đình Huế, tức VN (Quảng Nam, Khánh Hòa), xây đài khí tượng ở đảo Itu Aba ở TS (sau bị Nhật chiếm, và TQ giải giới Nhật, tạm chiếm năm 1946, rồi rút bỏ). Nhân cơ hội, TQ cũng chiếm vài đảo HS. Sau khi Tưởng Giới Thạch thua ở TQ, VN và Bắc Kinh chia nhau HS. Năm 1956, thời Ngô Đình Diệm, VN và Đài Loan củng đưa hải quân tới TS, cùng tuyên bố chủ quyền trên TS, cuối năm đó VN sáp nhập TS vào tỉnh Phước Tuy.
Về pháp lý, VN tuyên bố chủ quyền và chiếm đóng sớm nhất ở HS và TS, trước TQ. Dù cho các việc làm đó đồng thời với TQ, thì VN có ưu thế về địa lý và địa chất hơn, vì hai quần đảo HS, TS ở gần VN hơn và nằm trên thềm lục địa của VN (là ưu thế theo luật biển cũ, trước UNCLOS). Phi tuyên bố chủ quyền trên TS năm 1971, và Mã năm 1988 (nhưng TS nằm gần hai nước đó hơn nên họ có ưu thế theo luật biển cũ).
Thông thường, tuyên bố chủ quyền và thực sự chiếm giữ đảo là những điểm mạnh về pháp lý.
Chủ quyền của Anh ở Falklands không vững chắc như ông TN Tuấn viết.
– Được chắc chắn tìm ra và đặt tên bởi Hòa Lan 1598
– Anh đặt chân lên đầu tiên 1690
– Pháp chiếm đóng đầu tiên (settlement) 1764
– Anh chiếm đóng 1 phần khác sau, 1765
– Tây Ban Nha mua lại của Pháp 1767
– Suốt từ đó TBN và Anh, và sau đó là Argentina (kế vì TBN) và Anh tranh chấp, không bên nào nhượng bộ.
Chủ quyền Anh đặt trên hai căn bản: 1. Dân Falkland (căn bản là gốc Anh) muốn thuộc về Anh, và 2. Sức mạnh quân sự của Anh. Nếu Anh không có sức mạnh quân sự, Argentina sẽ nhanh chóng trục xuất dân Falkland về Anh, và căn bản 1 sẽ hết hữu hiệu. Do đó 2 là chính.
xem: http://www.falklands.info/history/timeline.html và rất nhiều chỗ khác.
Để sửa soạn đưa TQ ra Tòa án Quốc tế về vụ TS, tôi có vài câu hỏi cho quí vị experts. TS gồm 650 đá và đảo, trải trên 400 000 km vuông (nếu hình vuông thì mỗi cạnh 630 km).
1. Có nước nào có bằng chứng rõ rệt rằng mình đã tìm ra và chiếm cứ tất cả 650 hòn đó không?
2. VN có bằng chứng rõ rệt về bao nhiêu trong 650 hòn đó?
3. Thế nào là bằng chứng rõ rệt (nghĩa là được Tòa án Quốc tế chấp nhận)? Có cần tọa độ rõ ràng không? Nếu không thì độ chính xác chừng bao nhiêu km hay bao nhiêu %?
3. Theo thông lệ Tòa án Quốc tế thì tìm ra hoặc chiếm cứ bao nhiêu % của một quần đảo thì kể như sở hữu hoàn toàn quần đảo đó?
Cần biết rõ và chắc ăn trước khi kiện, kẻo lỡ thua thì lỗ to.