Vài lời kết luận về cuộc tranh luận về Biển Đông
23/04/2009 | 12:15 sáng | 62 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: văn hoá tranh luận
Cuộc tranh luận vài tuần nay trên talawas về các vấn đề chủ quyền của VN tại bãi Tư Chính – Vũng Mây và về các phương pháp phân chia Biển Đông hình như vì «lý do kỹ thuật» nên đã đi ra ngoài quá xa các điểm cần bàn luận. Tôi không có lý do để phàn nàn việc này vì mọi người có quyền có ý kiến của mình. Chỉ xin, trước khi có một vài ý kiến phản biện về nguồn gốc ông Valencia đang đặt ra, được tóm lược lại một số điểm đã bàn luận để mọi người thấy rõ các bên đang nói với nhau về các vấn đề gì, điểm nào chưa sáng tỏ, điểm nào cần góp ý thêm, sau đó cần có một kết luận để chấm dứt việc tranh luận này.
Tôi đã đặt vấn đề Biển Đông qua bài viết «Chủ quyền của Việt Nam tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn», sau đó là các bài «Góp ý cùng ông Phạm Quang Tuấn về vấn đề ông Dương Danh Huy và giải pháp Biển Đông», bài «Sơ lược hiện trạng tranh chấp Biển Đông và các phương pháp giải quyết», cuối cùng là vài bài về kỹ thuật góp ý với ông Dương Danh Huy về các bằng chứng về hiệu lực các đảo nhỏ xa bờ; các ý kiến của tôi tóm lược như sau:
1. Bài «Chủ quyền của Việt Nam tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn»
– Tôi cho rằng chủ quyền của VN tại vùng này bị phía Trung Quốc đe dọa. Việc tập đoàn ExxonMobil ngưng hoạt động tại vùng Tư Chính – Vũng Mây và tập đoàn BP tuyên bố hủy bỏ hợp đồng tại các lô 5.2 và 5.3 là một biến cố quan trọng. Tôi nghĩ rằng các học giả VN không thể không đầu tư suy nghĩ về chủ quyền của VN ở các vùng này. Theo tôi, «hội thảo về Biển Đông» vừa qua không có tầm sâu, không có đề án đáp ứng những yêu cầu cấp bách của tình hình tranh chấp hiện tại.
– Tôi cho rằng các tập đoàn BP và ExxonMobil rút lui một mặt là do các áp lực về kinh tế và quân sự của TQ nhưng mặt khác, quan trọng hơn, là lý lẽ TQ về chủ quyền của họ tại vùng Tư Chính – Vũng Mây đã thuyết phục được các tập đoàn này cũng như dư luận thế giới. Tôi cho rằng lập luận của TQ (để giành chủ quyền vùng Tư Chính – Vũng Mây) là do hiệu lực các đảo TS mà họ nói là của họ, nhất là đảo mang tên Trường Sa, đảo này hiện nay do quân đội VN trấn giữ, có đủ điều kiện để đòi hỏi vùng ZEE 200 hải lý, có chồng lấn thềm lục địa với bãi Tư Chính – Vũng Mây, chứ không phải do các giả thuyết về hiệu lực biển chữ U của TQ.
– Tôi có báo động rằng hầu hết các Atlas của các nước lớn trên thế giới năm 2007 và 2008 mà tôi có tham khảo, đều có ghi nhận, cách này hay cách khác, ý nghĩa công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Tôi cho rằng việc này rất nguy hiểm cho VN nếu các học giả VN không sớm ý thức và tìm cách ngăn chặn việc phổ biến tai hại này.
– Tôi cho rằng phía VN nếu muốn dành lại chủ quyền của mình tại Tư Chính – Vũng Mây và bãi Nam Côn Sơn thì phải thỏa mãn điều kiện sau : Chủ quyền của VN tại các đảo thuộc TS phải được quốc tế nhìn nhận và hiệu lực các đảo này tùy thuộc theo qui định của nội dung luật biển 1982.
– Tôi cho rằng chủ quyền của VN tại các đảo thuộc HS và TS chỉ có thể khẳng định khi nào công hàm của ông Đồng bị hóa giải.
– Tôi phản bác lập luận của ông Dương Danh Huy qua bài viết có cùng tên («Chủ quyền của Việt Nam tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây») vì lập luận bài viết nguy hiểm cho VN. Ông Dương Danh Huy chủ trương các đảo TS có hải phận không quá 12 hải lý đồng thời các bằng chứng ông đưa ra để chứng minh (các đảo HSTS chỉ có hải phận không quá 12 hải lý) thì không trung thực. Xin ghi chú về từ «hải phận». Ông Huy thường bắt bẻ khi tôi viết «hải phận» thay vì lãnh hải. Thực ra từ «hải phận», vùng biển, có ý nghĩa chung chung, sử dụng khi người ta chưa xác quyết được đặc tính vùng biển ở nơi đó (nội hải, lãnh hải, vùng tiếp cận hay vùng kinh tế độc quyền).
2. Bài «Góp ý cùng ông Phạm Quang Tuấn về vấn đề ông Dương Danh Huy và giải pháp Biển Đông»
– Sau khi bài viết «Chủ quyền của VN tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn» của tôi được công bố thì nhận được sự phản hồi gay gắt từ ông Phạm Quang Tuấn qua bài «Giải pháp Biển Đông». Với bài viết này ông Phạm Quang Tuấn không nhằm phản biện các ý kiến của tôi trong bài nêu trên, mặc dầu, vì lợi ích của VN, có rất nhiều điểm cần phải bàn luận cho rốt ráo. Ông Phạm Quang Tuấn chỉ hoài nghi về một số dữ kiện hay biến cố mà tôi đã ghi nhận, như hiệu lực công hàm của ông Đồng và dư luận quốc tế, sau đó đề cao phương pháp phân chia Biển Đông của ông Dương Danh Huy.
– Trong bài góp ý của ông Phạm Quang Tuấn, đúng ra là bài đề cao phương pháp phân chia Biển Đông của ông Dương Danh Huy, tôi cho rằng ông đã phạm một sai lầm lớn. Phương pháp phân chia Biển Đông của ông Huy thực ra là một sản phẩm trí tuệ của học giả Mark Valencia (đôi khi tôi viết Marc chữ c thay vì Mark chữ k phía sau vì theo thói quen viết tiếng Pháp). Ông Phạm Quang Tuấn cho rằng nếu phương pháp này có lợi cho VN thì tại sao lại không sử dụng ? Điều này trước hết cho thấy đạo đức của ông Tuấn có vấn đề, nhưng sau đó phương pháp phân chia này không hề có lợi cho VN.
– Về việc phân chia Biển Đông, phương pháp của ông Dương Danh Huy có nhiều khuyết điểm. Việc phân chia bất khả thi, nếu chia theo hình của Ông Dương Danh Huy ở đây. Việc phân chia đã xâm phạm trái phép vùng biển và thềm lục địa của nhân loại. (Nhưng nếu các đảo HSTS có hiệu lực theo qui định của Luật Biển 1982 thì vùng biển còn lại và thềm lục địa của nó sẽ thuộc về VN.) Điều này cho thấy, lúc viết bài này, ông Dương Danh Huy không am tường phần «thềm lục địa mở rộng» của Luật Biển 1982 về Biển. Ông chỉ «copy» công trình của ông Valencia và khai triển một cách máy móc.

– Sau này ông Huy cùng bạn bè điều chỉnh lại, nhưng vấn đề vẫn không thay đổi: Đó cũng là công trình của ông Valencia và VN vẫn là nước duy nhất bị nhiều thiệt hại theo phương pháp phân chia này. Lý do: phương pháp phân chia hải phận các nước đặt giả thuyết lên sự đồng thuận của các bên VN, Phi và Mã Lai. Các bên đồng ý để qua một bên tranh chấp chủ quyền các đảo và các đảo chỉ có hiệu lực 12 tối đa hải lý, sau đó mỗi nước có ZEE 200 hải lý tính từ bờ (hay đường cơ bản). Tôi cho rằng việc phân chia như thế phía VN chịu thiệt thòi nhiều nhất vì các đảo phần lớn thuộc VN. Trong khi đó chỉ có Phi là hưởng lợi nhất theo phương pháp phân chia này. Nghi vấn đương nhiên đặt ra vì sao Phi lại được các ưu đãi này? Mặt khác, phương pháp phân chia không giải quyết hoàn toàn vấn đề, sự bất ổn vẫn tồn đọng, TQ có thể gây hấn bất cứ lúc nào. Do hiệu lực của công hàm của ông Đồng, TQ có thể tấn công các đảo của VN bất cứ lúc nào.

– Tôi cho rằng muốn giải quyết vấn đề Biển Đông trước hết là phải giải quyết chủ quyền các đảo thuộc HS và TS. Các đảo này theo lịch sử thì thuộc Việt Nam nhưng hiệu quả của công hàm của ông Phạm Văn Đồng đã làm cho vô hiệu. Vì cần cảnh báo một đe dọa ảnh hưởng đến quyền lợi đất nước, tôi phân tích ý nghĩa pháp lý của công hàm này, theo đó, công hàm này vẫn còn hiệu lực về pháp lý và lưu ý cần phải hóa giải nó.
– Tôi cho rằng việc hóa giải công hàm này là cần thiết. Tôi đã đề nghị phương pháp hóa giải.
3. Bài «Sơ lược hiện trạng tranh chấp Biển Đông và các phương pháp giải quyết»
Ông Phạm Quang Tuấn viết bài phản biện, nhưng nội dung chỉ chú trọng vào các vấn đề lặt vặt như đá Rockall, vùng nước quần đảo, về nguồn gốc ông Valencia v.v… ngoài ra thì không đả động gì đến các vấn nạn cần phải thảo luận, cho dầu nó quan hệ đến quyền lợi và tương lai đất nước VN. Ngoài ra, ông Tuấn tự cho mình quyền phê bình phương pháp của người khác; ông phê bình, đúng hơn là mạt sát, phương pháp hóa giải công hàm của ông Đồng do tôi đưa ra, trong lúc theo lẽ tự nhiên, muốn phê bình một phương pháp nào đó của ai thì trước tiên mình phải đề xuất phương pháp của mình. Trường hợp cá nhân tôi, khi phê bình phương pháp của ông Valencia mà ông Huy có khai triển lại, trước hết tôi cũng đề nghị phương pháp của mình.
Dầu vậy, tôi cũng viết bài trình bày sơ lược về lịch sử và tình hình tranh chấp các đảo HSTS, giữa VN với các nước chung quanh, nhằm giúp mọi người có một cái nhìn sơ lược về tình hình tranh chấp, để việc thảo luận còn có chút lợi ích. Ý kiến của tôi, để VN không bị mất quyền lợi, vấn đề tranh chấp phải được phân giải bằng một trọng tài quốc tế.
Qua bài này, ông Phạm Quang Tuấn có phản biện, nhưng thực ra là kêu gào, vu tội cho tôi là «xúi VN bỏ Biển Đông», qua vụ hồ sơ «thềm lục địa mở rộng». Tôi có viết bài phản biện lại, thực ra là cắt hai đoạn ngắn trong hai bài viết cũ của tôi, cắt nghĩa cho ông Tuấn biết thế nào là hồ sơ «thềm lục địa mở rộng» của VN. Nhưng nhờ bài viết này mà người ta biết ông Tuấn không có một khái niệm gì về Luật Biển 1982.
Vài nhận xét về hình thức phản biện của ông Phạm Quang Tuấn, tôi thấy ông đã rất xuất sắc trong việc xách động quần chúng. Ông cũng tỏ ra rất khéo léo về các phương pháp che giấu cái sai, cái thiếu hiểu biết vấn đề của mình bằng cách xé to các chuyện lặt vặt của đối phương, rồi đánh lạc hướng, lôi kéo mọi người qua một tranh luận khác, nóng bỏng hơn. Ông Phạm Quang Tuấn mở màn cho cuộc phỉ báng tôi trên talawas. Nhưng về thảo luận khoa học thì hoàn toàn không có gì. Nếu phải chấm điểm thì tôi sẽ cho ông Phạm Quang Tuấn một con zéro to tướng.
Tuy nhiên, ông Phạm Quang Tuấn có thể chứng minh là tôi sai, bằng cách đề ra phương cách hóa giải công hàm của ông Phạm Văn Đồng, hay đưa ra một cái nhìn chiến lược về Biển Đông, hoặc đề ra một phương pháp phân chia Biển Đông với trí tuệ của mình mà không ăn theo, nói leo theo sản phẩm trí tuệ người khác. Tôi sẵn sàng cúi đầu xin lỗi ông và rút lại lời nói trên.
4. Về các bài viết qua lại với ông Dương Danh Huy, chỉ tựu trung hai điểm: Ông Huy cố gắng giải thích việc ông không cầm nhầm sản phẩm trí tuệ của người khác và giải thích các bằng chứng về hiệu lực các đảo nhỏ, xa bờ.
– Về việc cầm nhầm sản phẩm trí tuệ của người khác, ông Huy đưa bằng chứng vòng vo, cho rằng phương pháp này không phải của ông Valencia mà là của người khác. Nhưng tựu trung ông Huy không chứng minh được đó là sản phẩm trí tuệ của mình.
– Về các dẫn chứng, ông Huy đã đưa các thí dụ: «thềm lục địa Bắc Hải, Lybia và Malta, Vịnh Maine, Guniea và Guniea-Bisseau» để chứng minh các đảo TS không có hiệu lực ZEE theo qui định của Luật Biển 1982. Tất cả các dẫn chứng này đều bị tôi chứng minh là sai, vì chúng chỉ nhằm áp dụng cho các đảo nhỏ cận bờ. Trong khi trên thực tế, các đảo xa bờ, có đảo còn nhỏ hơn cả các đảo TS (như đảo Aves của Vénézuela là thí dụ), phần lớn đều có hiệu lực ZEE 200 hải lý.
– Các bài phản biện của ông Huy hầu hết đều không đi vào vấn đề. Ông này vào internet «bưng» nguyên các bài viết của các học giả khác về dẫn chứng, chứng tỏ ta đây hiểu biết, và nhiều người cũng tưởng là như vậy, lên tiếng khen ngợi. Nhưng các dẫn chứng đó đã không sử dụng vào việc gì, ngoài việc làm hoa mắt những người không hiểu biết, tất cả đều không quan hệ đến việc chính là: chứng minh các đảo nhỏ, xa bờ không có hiệu lực ZEE theo luật biển 1982. Người ta chỉ muốn ông đưa các bằng chứng cụ thể về tính vô hiệu lực của các đảo nhỏ xa bờ và không muốn đọc các bằng chứng, các bản án chỉ sử dụng cho các đảo nhỏ, cận bờ.
5. Kết luận về cuộc tranh luận
Vấn đề ông Huy thì đã giải quyết. Chính ông Huy thú nhận phương pháp phân chia Biển Đông mà ông Phạm Quang Tuấn đã viết bài đề cao, là của ai đó chứ không phải của ông Valencia. Việc này cũng có nghĩa là nó không phải là sản phẩm trí tuệ của ông Huy.
Về các bằng chứng các đảo xa bờ không có hiệu lực ZEE, ông Huy không có khả năng đưa ra, vì trên thực tế chỉ có các bằng chứng chứng minh ngược lại, vì thế ông chỉ biện luận loay hoay. Kết luận là ông Huy đã đưa bằng chứng gian, làm thiệt hại cho quyền lợi của VN. Tôi đã kết luận công việc của ông Huy, nay nhắc lại, là dọn sân cho nhà nước «cống» các đảo và phần Biển Đông của VN cho TQ. Việc này hôm nay còn có sự tiếp tay nồng nhiệt của ông Phạm Quang Tuấn.
Về các vấn đề Biển Đông và chủ quyền các đảo, tôi nhận thấy có nhiều điều chưa được tranh luận đến nơi đến chốn. Tôi đặt rất nhiều vấn đề, phản biện rất nhiều điểm, muốn nghe các ý kiến phản biện lại. Thí dụ: Nếu để nguyên trạng như thế công hàm của ông Đồng có làm cho VN bị mất Biển Đông và các đảo HSTS hay không? Giả sử VN thỏa hiệp với hai nước Phi và Mã Lai, việc phân chia Biển Đông diễn ra êm đẹp. Câu hỏi đặt ra: dựa trên tinh thần công hàm của ông Đồng, TQ đưa quân «giải phóng» các đảo VN thì VN sẽ làm gì? Phản ứng các nước kia ra sao? Giả sử VN (hay Phi hay Mã Lai) khám phá được mỏ dầu rất lớn trong vùng biển đã phân chia, lúc đó TQ lên tiếng đòi phần, phản ứng các nước ra sao? Nếu TQ dùng vũ lực thì sẽ ra sao? Có phương cách nào khác để vô hiệu hóa công hàm của ông Đồng? Câu hỏi khác, tại sao lại phản đối hiệu lực các đảo xa bờ thuộc TS, trong lúc nhờ hiệu lực các đảo này VN chiếm hầu hết vùng biển còn lại (sau khi tôn trọng vùng ZEE của các nước)? Người ta có thể thỏa thuận với Phi, Mã Lai nhưng vẫn giữ phần lợi cho VN. Vùng Tu Chính – Vũng Mây sẽ trở thành hoàn toàn của VN nếu đảo Trường Sa có hiệu lực v.v… Nói chung, có rất nhiều giải pháp cho HSTS có lợi cho VN, nhưng không ai tranh luận.
6. Về nguồn gốc ông Valencia
Tôi có dữ kiện cho rằng ông Valencia là người Phi từ nhiều năm trước. Ông Dương Danh Duy cũng vừa nhắc là tôi đã đề cập việc này từ 8 tháng nay. Chấp nhận rằng tôi chỉ mới nói việc này từ 8 tháng nay cho tiện.
Ông Phạm Quang Tuấn có ý nói rằng tôi mới «bịa» ra mấy ngày hôm nay. Vấn đề đã không là như vậy. Nếu tôi «bịa» thì bịa từ tám tháng trước. Nhưng tám tháng trước tôi bịa ra việc này để làm gì? Có ích lợi gì? Tám tháng trước tôi đâu có tranh cãi với ai?
Khi tôi đặt nghi vấn về sự khả tín email của ông Phạm Quang Tuấn thì ông viết một bài về vụ Valencia, cho là tôi «gái đĩ già mồm». Ở đây ai là gái đĩ? Ai già mồm?
Qua các phản biện hay phê bình của các bài hay các góp ý của ông Phạm Quang Tuấn, tất cả đều rỗng về học thuật nhưng rất phong phú về các chuyện lặt vặt. Tôi nhận thấy rằng ông Phạm Quang Tuấn không nắm vững về tình hình Biển Đông, ông chỉ «già mồm» vạch lá tìm sâu, phê bình rất hỗn xược như một thứ «chị em ta» ở chính những điểm mà ông ta cũng biết mình không biết, như vụ «thềm lục địa mở rộng» hay phương pháp hóa giải công hàm của ông Đồng v.v… Ở đây ai là đĩ già mồm? Những điều đó lý ra tôi đã bỏ qua, không nhắc lại.
Tôi vẫn hoài nghi các email của ông Phạm Quang Tuấn, một người mà hôm nay tôi đã chấm điểm zéro về tinh thần khoa học. Tôi cho rằng các email như thế rất dễ ngụy tạo, ai biết chút ít xảo thuật tin học đều có thể làm được. Nhưng điều đáng tiếc là dường như mọi người trên talawas (không vơ đũa cả nắm, những người lên tiếng về việc này) hầu hết đều đứng về phe ông Phạm Quang Tuấn, ngoại trừ một hai người như ông Hòa Nguyễn, Tôn Thất Tuệ…. Việc này cho thấy tinh thần học thuật của người Việt rất kém, chỉ phê phán theo cảm tính, thích các chuyện nhỏ nhưng hiếu động, lánh xa các chuyện lớn do thiếu hiểu biết hay sợ liên lụy, phê phán theo thành kiến, không biết phải trái ra sao. Đất nước nào thì con người ấy. Đất nước VN đã không ra gì vì có quá nhiều những con người không ra gì. Nhân – quả cũng đúng thôi!
Đương nhiên tôi không loại trừ nguồn tin của tôi sai. Vấn đề viết biên khảo không như làm khoa học thực nghiệm. Khoa học thực nghiệm người ta dễ dàng kiểm chứng việc đúng sai các kết quả, các dữ kiện. Trường hợp hai nhà nghiên cứu Đại Hàn Hwang Woo-Suk và Kim Tae Kook ngụy tạo thành quả khoa học đã bị lật mặt một cách dễ dàng qua một vài cuộc thử nghiệm. Các dữ kiện trong bài biên khảo có thể đúng, có thể sai nhưng không dễ dàng kiểm chứng ; vấn đề đặt ra là các dữ kiện sai là do tác giả cố ý ngụy tạo hay do nguồn dẫn sai? Giả sử nguồn dẫn của tôi về ông Valencia sai, các lý lẽ của tôi có ảnh hưởng gì hay không? Khẳng định là ông Valencia có là người Phi hay không thì không ảnh hưởng đến nội dung các lý lẽ của tôi: việc phân chia Biển Đông theo lối của ông Valencia mà ông Huy sử dụng lại vẫn dành nhiều ưu điểm phi lý cho Phi Luật Tân mà không ai giải thích được.
Tôi xác định là nguồn gốc của ông Valencia tôi biết từ nhiều năm trước, không phải «bịa» ra mới đây như ông Phạm Quang Tuấn đã mạt sát.
Tôi có thói quen ít khi «khảo cứu» trên internet, khác rất nhiều với ông Phạm Quang Tuấn và Dương Danh Huy, vì tôi cho rằng kết quả sẽ không đem lại việc gì mới – như tinh thần đòi hỏi của công tác nghiên cứu – mà điều không lường là mình «nhai lại» các ý kiến, các dữ kiện của người khác. Nhai lại cũng là một hình thức đạo văn, đúng, sai cũng có ngày lãnh đủ. Tôi chủ trương việc nghiên cứu nên tham khảo các tài liệu, các dữ kiện «gốc». Thỉnh thoảng tôi vắng nhà vài ngày để đi vào các thư viện, các văn khố các nước để tham khảo tài liệu. Lúc viết bài này, cũng như ở một hai bài trước, là viết lúc tôi vừa đi xa về. Các bài viết của tôi phần lớn khai thác các đề tài chưa ai viết, do tôi có các dữ kiện chưa từng được các học giả VN tham khảo, tôi tự hào về việc này. Hôm nay bị người phê bình là «gái đĩ già mồm», cũng đúng thôi, tôi sẽ còn tiếp tục già mồm như thế để bảo vệ đất nước cho con cháu mình, nếu có thể trên diễn đàn talawas này. Chỉ tiếc là, không biết do tình trạng ma cũ, ma mới – tôi chỉ mà ma mới trên talawas – hay là việc làm của tôi ảnh hưởng đến Đảng CSVN, mà đã có những phê phán rất kỳ thị, rất cá nhân. Tôi không mong có sự thay đổi, vì thái độ đó thể hiện rõ rệt tinh thần của người Việt. Phải biết mình mới hy vọng sửa chữa được.
Trương Nhân Tuấn
Bình luận
62 Comments (bài “Vài lời kết luận về cuộc tranh luận về Biển Đông”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 Trang sau »
@Bác Trần Văn Tích
Cho tôi nói lại cho chính xác hơn:
Nước X có quyền đơn phương tuyên bố mình thừa kế gì, không thừa kế gì, vô hiệu hoá gì. Nhưng không nhất thiết nước Y phải chấp nhận. Nếu ra Toà thì không nhất thiết Toà chấp nhận.
Toà có thể chấp nhận X vô hiệu hoá hiệu hoá hiệp ước Z nếu Toà cho đó là hiệp ước bất bình đẳng.
Nước Y có thể chấp nhận nếu không làm gì được (eg không đủ sức mạnh, hay nghĩ là nếu ra Toà thì sẽ thua, hay nghĩ không worth it).
Tôi không rành về vụ bác nói nhưng có lẽ không có gì bắt buộc Pháp phải chấp nhận Bảo Đại xé hiệp ước. Nếu Pháp có đủ sức mạnh và ý chí, có lẽ họ đã áp đặt việc không chấp nhận.
V/d không chỉ là X có đơn phương vô hiệu hóa hay không mà còn là Y có chấp nhận hay không và ne6’u ra Toà thì Toà có chấp nhận hay không.
@Bác Chaien
Quan tòa có thể không cần ghé nơi tranh chấp – nhưng nhiều trường hợp cũng được mời đến tận nơi để xem,
Trường hợp xử chủ quyền nào quan toà được mời tới tận nơi để xem?
nhưng những bên kiện tụng nếu không có những bức hình của mình chụp ở nơi đó chắc chắn sẽ bị yếu thế rồi.
Trường hợp xử chủ quyền nào mà đoàn kiện tụng bị yếu thế vì không có hình mình tự tới nơi chụp?
Hi vọng bác có thể đọc thêm về vụ kiện Preah Vihear giữa Campuchia và Thái Lan.
Trong phiên toà đền thờ Preah Vihear, có phải Thái Lan yếu thế vì đoàn tranh tụng Thái chưa thăm đền thờ đó, đoàn Cam đã thăm không? Không.
Trong một vụ kiện không ai cấm các bên mời chuyên gia về ngành khảo cổ, hay quan trọng nhất, là địa chất và trắc địa cho ý kiến…
Tôi không hề nói “cấm”.
Nếu bác cho rằng những bài của bác đang bàn về lịch sử thì rất buồn phải kết luận là chúng không phải là cách hiểu lịch sử theo lối chuyên nghiệp của dân nghiên cứu, hoặc ít nhất là cách hiểu trong ngành từ sau thời Fukuyama.
Những bài của tôi không thiên về về lịch sử. Mà ra HSTS, Côn Đảo, giàn khoan cũng không làm cho lời bàn về lịch sử thời Nguyễn, Pháp, vv, mạnh hơn.
khi bàn về tính pháp lý của vùng Lưỡi Bò hay XYZ phần nào cũng cần tới đó để coi hình dạng nó như thế nà
Đi trên biển cũng không thấy hình dạng lưỡi bò rõ hơn xem bản đồ.
Xin có thêm 1 câu hỏi:
Cách hóa giải Công hàm PVĐ được TNT tóm tắt như sau: “một nước Việt Nam mới… long trọng tuyên bố trước cộng đồng thế giới kế thừa di sản VNCH. Trên căn bản như thế Việt Nam đương nhiên có chủ quyền tại HS và TS, như VNCH, từ đó làm căn bản giải quyết các tranh chấp chủ quyền HS và TS bằng một trọng tài quốc tế…” Nếu tôi hiểu đúng ý của TNT thì việc giải quyết vấn đề chủ quyền HSTS không phải chỉ là một hành động đơn phương của VN, mà còn cần sự công nhận của một trọng tài quốc tế. Vì TQ không bao giờ chịu chấp nhận một sự phân xử như vậy, nên chúng ta chỉ còn cách chờ đến ngày thế giới trở nên văn minh hơn mới có thể giải quyết một cách tận gốc vấn đề chủ quyền HSTS. Tôi hiểu như vậy đúng không?
Dù sao đi nữa thì vẫn phải thay thế chế độ “thực dân nội tuyến” (Tạ C. Đ. Trường) đang cai trị tuyệt đại đa số dân VN hiện nay. Sự tồn tại của chế độ ký sinh của một thiểu số này không những ngăn cản sự phát triển kinh tế của VN, mà còn giúp cho những phần tử vốn chẳng tốt lành gì có một đòn bẩy để nâng cao ảnh hưởng chính trị của họ bằng cách chống lại chế độ nói trên.
Tôi nghĩ đã đồng ý “sang trang mới” thì dù bàn lại vấn đề cũ nên với giọng mới, và nếu có thể với cách nhìn mới. Trước hết, tôi nghĩ “công hàm TT Phạm Văn Đồng” dường như “ám ảnh” cả hai ông Tuấn và Huy. Ông Tuấn như muốn thay đối cả chế độ hiện nay để làm thay đổi hay vô hiệu hóa nội dung công hàm, và đề nghị này bị nhiều người chống. Ông Huy cho VN có 90% thắng nếu đưa vấn đề TS ra trước tòa án quốc tế, nhưng vì công hàm nên tỷ lệ thắng chỉ 60%.Theo suy đoán, ông Huy chủ trương các đảo ở HS và TS (nên) có lãnh hải 12 HL, theo công hàm khi công nhận đòi hỏi của TQ năm 1958. Ông Huy cũng nêu giả định nếu TS thuộc về TQ thì vùng Tư Chính-Vũng Mây vẫn thuộc về VN (nếu các đảo TS chỉ có lãnh hải 12 HL), và điều này mở đầu cho loạt bài của ông Tuấn.
Kế đến, chúng ta nên chú trọng sự chính xác khi sử dụng các tài liệu dẫn chứng, vì một chi tiết nêu lên không đúng làm cả một quan điểm bị đả kích nặng đến coi như không giá trị. Thi dụ rất nhỏ: câu tôi trích trong UNCLOS được ông Huy cung cấp ngay bản dịch, có lẽ đã được sử dụng ở chỗ khác:
3. Rocks which cannot sustain human habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone or continental shelf.
Ông Huy dịch: “Đá” không tự có đủ điều kiện cho sự cư trú và đời sống kinh tế riêng không được hưởng quy chế EEZ 200 HL và TLD.
Không chính xác bằng: “Đá không tự duy trì được sự cư trú hay đời sống kinh tế của con người không có EEZ hay thềm lục địa”. “Hay”(or) chứ không phải “Và”, chỉ cần một điều kiện.
@ Chaien:
Sao bác cứ đặt vấn đề phải ở đó mới nghiên cứu được? Sao Hoả, thiên hà, vũ trụ, ruột trái đất… có ai đã đến đấy đâu?
Tặng bác bài này:
“Nghiên cứu sao Hỏa thì phải ở trên sao Hỏa”
Nếu có bất kỳ nhà khoa học nào của Trái Đất muốn chứng tỏ rằng mình thật sự nghiên cứu sao Hỏa thì hãy lên sao Hỏa mà nghiên cứu, để loài người tin tưởng. Còn việc nghiên cứu sao Hỏa mà chỉ ngồi ở Trái Đất, rồi nhìn kính thiên văn, hay gởi mấy cái tàu thăm dò bé bé chỉ chứng tỏ sự yếu kém và không có khả năng nghiên cứu mà thôi.
Tôi sẽ chào đón những người nào thật sự bay đến sao Hỏa để nghiên cứu, còn những kẻ chỉ ngồi ở Trái Đất, rồi ba hoa, lếu láo, chế số liệu thì tôi sẽ bỏ qua họ và tôi tin rằng họ sẽ bị bánh xe khoa học nghiền nát.
Tóm lại, mong ước của tôi là những nhà khoa học, nghiên cứu ở NASA hãy nghiên cứu về Trái Đất, nơi mà chính các bạn đang sống hơn là đi lo cho sao Hỏa.
Bản thân họ cũng không biết được 100% về Trái Đất, thì lấy cái gì để mà nghiên cứu sao Hỏa, hay là Lỗ Đen, Vũ Trụ…
Các phi hành gia đang ở trên trạm ISS, hãy quay về Trái Đất của các bạn. Các bạn thuộc loài người, chỉ nên ở trên mặt đất. Việc của Vũ Trụ, hãy để Vũ Trụ tự lo, tôi phản đối các bạn xen vào việc của loài khác trong Vũ Trụ bao la.
Ông TN Tuấn lại trở lại lối ngụy biện rồi. DD Huy bảo đã nói câu X, TN Tuấn bảo “tôi có bằng chứng ở đây, trong bài A anh không nói câu X”. Nói vậy là ngụy biện: Ông Huy đâu có nói là ông đã nói câu X trong bài A?
Vẫn đợi ông nói sự thật về (a) Valencia và (b) 18 cuốn Atlas mà ông bảo đã ghi nhận công hàm PVĐ, để có thể mở sang trang mới.
Ông Hà Minh viết thế này : « ông Trương Nhân Tuấn đã không được sự đồng tình của đa số bởi vì ông đã là người “nổ” phát súng tấn công cá nhân đầu tiên, một phần vì tâm lý bức xúc với việc (dường như) phải chia sẻ chủ quyền HS-TS với các nước trong vùng hòng đối phó với TQ, phần vì quá tự tin vào những lập luận của mình, tuy nhiên những lập luận ấy cũng có những sơ hở nhất định ».
Xin được cám ơn và xin ghi nhận lời phê bình thẳng thắn của ông.
Thực ra, phản ứng của tôi trong các bài viết, vẫn thấy không ăn thua gì trước sự hy sinh xương máu của hàng trăm, hàng ngàn, có khi hơn… để bảo vệ một tất đất của tổ tiên.
Trường hợp phân định biên giới trên đất liền hay phân định vịnh Bắc Việt, chúng ta biết là quá trễ. Những lên tiếng của các học giả, với những bằng chứng cụ thể về đất ở Nam Quan, Bản Giốc v.v…vẫn không làm được gì vì ván đã đóng thuyền.
Chúng ta cần phản lên tiếng ngay bây giờ về Biển Đông, để tránh việc quá trễ, gây thiệt hại cho VN như đã thấy.
Anh Dương Danh Huy viết thế này : « Tôi không hề nói phương pháp phân chia Biển Đông là sản phẩm trí tuệ của tôi, tôi đã nói từ cách đây 7 tháng là nó là của người khác (không phải của Valencia). »
Tôi có bằng chứng ở đây :
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/08/080818_georgiaeastsea.shtml
Anh không hề ghi chú chi cả.
Về vấn đề kế thừa, anh Huy viết rằng : « Một nước không có quyền đơn phương tuyên bố mình thừa kế từ đâu, không thừa kế từ đâu, vô hiệu hoá bất cứ gì mình muốn. »
Xin dẫn lại một đoạn trong bài viết trước của tôi :
« Bà Monique Chemillier-Gendreau, tác giả cuốn La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys có cho rằng công hàm của ông Đồng không có giá trị pháp lý vì lý do «người ta không thể cho cái mà người ta không có». Ý kiến này dựa trên tinh thần Hiệp định Genève, ông Nguyễn Mạnh Cầm có nhắc lại. Hai quần đảo HS và TS trong giai đoạn 1954-1975 thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hoà (sau đây viết tắt là VNCH). VNDCCH không có thẩm quyền gì ở HS và TS nên tuyên bố của ông Đồng không có giá trị….
Bà M. Chemillier-Gendreau dựa trên thuyết «liên tục quốc gia» để cho rằng VNDCCH có thể kế thừa VNCH để có quyền chủ quyền tại HS và TS. »
Như thế, theo bà Monique Chemillier-Gendreau nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN có thể lực chọn để kế thừa VNCH mà không kế thừa VNDCCH.
Về hiệu lực công hàm của ông Đồng, anh Huy viết rằng : « Cụ thể là nếu CH PVD có hiệu lực làm cho CHXHCNVN mất chủ quyền đối với HSTS thì VN trong tương lai luôn luôn bị ràng buộc bởi CH đó, bất kể CP VN là CP gì.
Chẳng có chính quyền VN nào trong tương lai được luật quốc tế cho phép đơn phương vô hiệu hoá một công hàm có tính chất ràng buộc về lãnh thổ. »
Nếu CHXHCNVN chọn kế thừa VNCH thì công hàm của ông Đồng không có giá trị, nhưng việc này đã không xảy ra. Xem lại bài viết của tôi : http://www.talawas.org/?p=1944
Công hàm của ông Đồng không phải là một « hiệp ước » về biên giới nên không có giá trị ràng buộc (theo công ước Vienne 1969). Công hàm này là « ý kiến » của nhà nước VNDCCH và cũng là ý kiến của đảng CSVN. Khi mà một trong hai thực thể chính trị này còn cầm quyền ở VN thì công hàm đó vẫn còn giá trị.
Là người ngoại cuộc, tôi thấy trong vụ đối thoại tay ba, ông Dương Danh Huy có thái độ chững chạc hơn cả.
Hôm nay tôi xin phép được nghi ngờ lời khẳng định của ông, theo đó : “Một nước không có quyền đơn phương tuyên bố mình thừa kế từ đâu, không thừa kế từ đâu, vô hiệu hoá bất cứ gì mình muốn.”
Tôi đọc sử Việt Nam cận đại, nhớ đại khái rằng vua Bảo Đại từng tuyên bố hiệp uớc Patenôtre vô hiệu quả.
Một hiệp ước ắt phải có giá trị hơn một công hàm, nhất là một công hàm do một ông Thủ tướng từng “thành khẩn khai báo” là mình làm Thủ tướng vào hàng lâu nhất thế giới nhưng không có quyền hành gì(?!?!).
Rất mong ông Huy dẫn giải cho về điểm thắc mắc nhỏ bé này. Xin đa tạ trước.
@Dương Danh Huy
Rất hoan nghênh và vui khi thấy bác rút lại tuyên bố chưa hợp lý. Hi vọng bác sẽ rút thêm một số quan điểm chưa phù hợp sau khi đọc tiếp các trình bày của tôi về chuyện cần thiết phải ra biển Đông/Nam Trung Hoa trong quá trình tranh luận.
Quan tòa có thể không cần ghé nơi tranh chấp – nhưng nhiều trường hợp cũng được mời đến tận nơi để xem, nhưng những bên kiện tụng nếu không có những bức hình của mình chụp ở nơi đó chắc chắn sẽ bị yếu thế rồi. Hi vọng bác có thể đọc thêm về vụ kiện Preah Vihear giữa Campuchia và Thái Lan. Trong một vụ kiện không ai cấm các bên mời chuyên gia về ngành khảo cổ, hay quan trọng nhất, là địa chất và trắc địa cho ý kiến – ví dụ như đường đứt gãy tự nhiên, hay luồng nước, tuyến hàng hải quen thuộc…
Nếu bác cho rằng những bài của bác đang bàn về lịch sử thì rất buồn phải kết luận là chúng không phải là cách hiểu lịch sử theo lối chuyên nghiệp của dân nghiên cứu, hoặc ít nhất là cách hiểu trong ngành từ sau thời Fukuyama. Và nếu hiểu lịch sử theo cách hiện nay thì sự (từng) có mặt của chuyên gia ở nơi đang bàn cãi là vô cùng quan trọng.
Như vậy hi vọng bác sẽ rút lại quan điểm của bác, mà đồng ý phần nào với tôi rằng, khi bàn về tính pháp lý của vùng Lưỡi Bò hay XYZ phần nào cũng cần tới đó để coi hình dạng nó như thế nà
Cảm ơn các bác Huy (DD), Tuấn (PQ) đã hồi âm, thực ra những độc giả của talawas theo dõi cuộc tranh luận không khoan nhượng về vấn đề HSTSBĐ đã rất cảm phục tinh thần nghiên cứu tận tụy của các vị, không quản vất vả gian lao thời gian quý báu của mình để đóng góp tiếng nói vào sự nhận thức chung của đồng bào và giới lãnh đạo, (nếu họ có theo dõi) Tuy nhiên dù có những bất đồng nhưng cả ba vị đều có điểm chung là tranh luận thẳng thắn, nhiệt tình không khoan nhượng. Các vị không nhận là “học giả” nhưng với độc giả như tôi, các vị còn đáng trân trọng hơn cả các học giả bàng quan khác. Xin một lần nữa trân trọng cảm ơn tinh thần ấy của cả ba vị. Mới xem video của Trương Thái Du upload lên (sự kiện 14.3.88) Tôi thấy thấm thía câu nói của tiền nhân: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “…ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa”, bất lực khoanh tay trước cảnh giang sơn chìm đắm.
@Bác Chaien
Đúng là tôi nói hơi quá về người Việt chúng ta không thể ra Hoàng Sa chơi cho vui – cho tôi rút lại câu đó, và nếu ai cần xin lỗi về câu đó thì tôi xin lỗi.
Nhưng tôi không đồn ý với câu này của bác:
Tất nhiên là giá trị của luận văn sẽ giảm – nếu không nói là mất – nếu tác giả chưa bao giờ nhìn/sờ/ghé thăm nơi mình bàn cãi.
Nếu luận văn, vv, là về địa lý, địa chất, môi sinh, sinh học, thì đúng là việc ghé thăm HSTS có ảnh hưởng tới giá trị như bác nói.
Nhưng nếu luận văn, vv, là về lịch sử, pháp lý thì việc nhìn, sờ, ghé thăm HSTS (hay thăm Côn Đảo, giàn khoan) chỉ có giá trị cảm tính chứ không có nhiều giá trị cho lập luận.
Thí dụ như trong những phiên toà quốc tế xử tranh chấp chủ quyền không ai nói các quan toà chưa ghé thăm lãnh thổ bị tranh chấp cho nên phán quyết bị mất hay giảm giá trị, cũng như không ai nói đoàn tranh tụng bên này, bên kia chưa ghé thăm lãnh thổ bị tranh chấp cho nên lập luận bị mất hay giảm giá trị.
Bác có thể cho biết đi thăm HSTS, Côn Đảo, giàn khoan thì thấy được thêm gì về lịch sử, pháp lý không? Nếu đi để khảo cổ thì còn có thể thấy được di tích khảo cổ, nhưng khảo cổ tại HSTS cũng chỉ là 1 phần nhỏ của lập luận lịch sử, pháp lý.
Bàn tán về con voi khác với bàn tán về lịch sử, pháp lý.
@Dương Danh Huy:
Tất nhiên là giá trị của luận văn sẽ giảm – nếu không nói là mất – nếu tác giả chưa bao giờ nhìn/sờ/ghé thăm nơi mình bàn cãi. Bác nghĩ sao nếu trích một văn bản và nói nó nằm ở chỗ đó, nhưng thực ra chưa đọc nó bao giờ? Khi đó luận điểm đó có bị mất hoàn toàn giá trị hay không? Trong một số trường hợp rất giới hạn có thể nêu lý do là không thể lên được mặt trăng để quan sát từ xa, nhưng ít nhất quá trình nghiên cứu vẫn bao gồm đường hướng để đến đó.
Tôi đọc rất nhiều bài của bác về HS-TS và rất trân trọng hiểu biết của bác, nhưng liệu có tự tin quá mức khi nói “Hiện nay người Việt mình không thể ra Hoàng Sa chơi cho vui…”? Vấn đề là có người Việt nào muốn đi chơi cho vui hay không? Theo như tôi biết thì mới chỉ có duy nhất một người, bơi từ Hongkong về Đà Nẵng để qua Hoàng Sa chơi cho vui, đi theo một nhóm du thuyền của những người nước ngoài làm việc tại VN. Tại sao chúng ta cứ phải trích dẫn ông ‘Tây’ này bà ‘Á’ kia mà không trích dẫn chính những nghiên cứu điền dã của ông bà ‘Việt’?
Tôi biết chúng ta có thể đọc báo xem phim để bàn tán về con voi, nhưng kể cả tôi có là giáo sư về voi học tôi vẫn trân trọng quan sát của người trực tiếp sờ con voi. Trong khoa học có 4 mức đánh giá quan sát. Trước hết là quan sát của nhà khoa học.
@Bác Hà Minh
Nếu gọi tôi là học giả thì có lẽ không xứng đáng và không chính xác.
Theo tôi, chỉ có những người thường xuyên có xuất bản được peer reviewed (như luận văn tiến sĩ, bài trong tạp chí chuyên ngành) mới đáng gọi là học giả.
Thêm nữa, mục đích của tôi không phải là làm học giả mà là làm một hạt cát (mượn lời của một nhà báo nổi tiếng) trong những việc sau:
1. Đem thông tin, kiến thức về tranh chấp HSTSBD tới nhiều người VN.
2. Khuyến nghị với CP VN về tranh chấp HSTSBD.
3. Tranh thủ dư luận nước ngoài.
Tôi không mê, không muốn làm học giả.
Thưa ông Hà Minh
Tôi không “dị ứng” gì với ông TNT và hoàn toàn không để ý chuyện ông ấy gọi tôi là gì. Có dị ứng là dị ứng với sự dối trá. Tôi tin rằng khi một xã hội trí thức bị sự dối trá len vào thì xã hội đó sẽ xuống dốc. talawas là một trong những môi trường của trí thức, nên càng cần kỵ sự dối trá. Thử nhìn nền giáo dục ĐH Việt Nam, đầy những tiến sĩ dỏm, viện sĩ dỏm, nó đang đi đến đâu. Nếu talawas muốn trở thành một tờ báo đàng hoàng, cuộc tranh luận về Biển Đông hay những chuyện khác được kính nể, thì độc giả như chúng ta (tôi không phải là “học giả” mà chỉ là độc giả) lại càng cần “đề cao cảnh giác” và chỉ ra những sự dối trá. Hy vọng ông hiểu ý tôi.
Còn cứ “dĩ hòa vi quí”, “sweep under the carpet” mọi chuyện dối trá thì… cũng hợp với tính người VN lắm, nhưng chắc chúng ta đều thấy môi trường trí thức VN sẽ đi đến đâu.