Vài lời kết luận về cuộc tranh luận về Biển Đông
23/04/2009 | 12:15 sáng | 62 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: văn hoá tranh luận
Cuộc tranh luận vài tuần nay trên talawas về các vấn đề chủ quyền của VN tại bãi Tư Chính – Vũng Mây và về các phương pháp phân chia Biển Đông hình như vì «lý do kỹ thuật» nên đã đi ra ngoài quá xa các điểm cần bàn luận. Tôi không có lý do để phàn nàn việc này vì mọi người có quyền có ý kiến của mình. Chỉ xin, trước khi có một vài ý kiến phản biện về nguồn gốc ông Valencia đang đặt ra, được tóm lược lại một số điểm đã bàn luận để mọi người thấy rõ các bên đang nói với nhau về các vấn đề gì, điểm nào chưa sáng tỏ, điểm nào cần góp ý thêm, sau đó cần có một kết luận để chấm dứt việc tranh luận này.
Tôi đã đặt vấn đề Biển Đông qua bài viết «Chủ quyền của Việt Nam tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn», sau đó là các bài «Góp ý cùng ông Phạm Quang Tuấn về vấn đề ông Dương Danh Huy và giải pháp Biển Đông», bài «Sơ lược hiện trạng tranh chấp Biển Đông và các phương pháp giải quyết», cuối cùng là vài bài về kỹ thuật góp ý với ông Dương Danh Huy về các bằng chứng về hiệu lực các đảo nhỏ xa bờ; các ý kiến của tôi tóm lược như sau:
1. Bài «Chủ quyền của Việt Nam tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn»
– Tôi cho rằng chủ quyền của VN tại vùng này bị phía Trung Quốc đe dọa. Việc tập đoàn ExxonMobil ngưng hoạt động tại vùng Tư Chính – Vũng Mây và tập đoàn BP tuyên bố hủy bỏ hợp đồng tại các lô 5.2 và 5.3 là một biến cố quan trọng. Tôi nghĩ rằng các học giả VN không thể không đầu tư suy nghĩ về chủ quyền của VN ở các vùng này. Theo tôi, «hội thảo về Biển Đông» vừa qua không có tầm sâu, không có đề án đáp ứng những yêu cầu cấp bách của tình hình tranh chấp hiện tại.
– Tôi cho rằng các tập đoàn BP và ExxonMobil rút lui một mặt là do các áp lực về kinh tế và quân sự của TQ nhưng mặt khác, quan trọng hơn, là lý lẽ TQ về chủ quyền của họ tại vùng Tư Chính – Vũng Mây đã thuyết phục được các tập đoàn này cũng như dư luận thế giới. Tôi cho rằng lập luận của TQ (để giành chủ quyền vùng Tư Chính – Vũng Mây) là do hiệu lực các đảo TS mà họ nói là của họ, nhất là đảo mang tên Trường Sa, đảo này hiện nay do quân đội VN trấn giữ, có đủ điều kiện để đòi hỏi vùng ZEE 200 hải lý, có chồng lấn thềm lục địa với bãi Tư Chính – Vũng Mây, chứ không phải do các giả thuyết về hiệu lực biển chữ U của TQ.
– Tôi có báo động rằng hầu hết các Atlas của các nước lớn trên thế giới năm 2007 và 2008 mà tôi có tham khảo, đều có ghi nhận, cách này hay cách khác, ý nghĩa công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Tôi cho rằng việc này rất nguy hiểm cho VN nếu các học giả VN không sớm ý thức và tìm cách ngăn chặn việc phổ biến tai hại này.
– Tôi cho rằng phía VN nếu muốn dành lại chủ quyền của mình tại Tư Chính – Vũng Mây và bãi Nam Côn Sơn thì phải thỏa mãn điều kiện sau : Chủ quyền của VN tại các đảo thuộc TS phải được quốc tế nhìn nhận và hiệu lực các đảo này tùy thuộc theo qui định của nội dung luật biển 1982.
– Tôi cho rằng chủ quyền của VN tại các đảo thuộc HS và TS chỉ có thể khẳng định khi nào công hàm của ông Đồng bị hóa giải.
– Tôi phản bác lập luận của ông Dương Danh Huy qua bài viết có cùng tên («Chủ quyền của Việt Nam tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây») vì lập luận bài viết nguy hiểm cho VN. Ông Dương Danh Huy chủ trương các đảo TS có hải phận không quá 12 hải lý đồng thời các bằng chứng ông đưa ra để chứng minh (các đảo HSTS chỉ có hải phận không quá 12 hải lý) thì không trung thực. Xin ghi chú về từ «hải phận». Ông Huy thường bắt bẻ khi tôi viết «hải phận» thay vì lãnh hải. Thực ra từ «hải phận», vùng biển, có ý nghĩa chung chung, sử dụng khi người ta chưa xác quyết được đặc tính vùng biển ở nơi đó (nội hải, lãnh hải, vùng tiếp cận hay vùng kinh tế độc quyền).
2. Bài «Góp ý cùng ông Phạm Quang Tuấn về vấn đề ông Dương Danh Huy và giải pháp Biển Đông»
– Sau khi bài viết «Chủ quyền của VN tại các vùng Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn» của tôi được công bố thì nhận được sự phản hồi gay gắt từ ông Phạm Quang Tuấn qua bài «Giải pháp Biển Đông». Với bài viết này ông Phạm Quang Tuấn không nhằm phản biện các ý kiến của tôi trong bài nêu trên, mặc dầu, vì lợi ích của VN, có rất nhiều điểm cần phải bàn luận cho rốt ráo. Ông Phạm Quang Tuấn chỉ hoài nghi về một số dữ kiện hay biến cố mà tôi đã ghi nhận, như hiệu lực công hàm của ông Đồng và dư luận quốc tế, sau đó đề cao phương pháp phân chia Biển Đông của ông Dương Danh Huy.
– Trong bài góp ý của ông Phạm Quang Tuấn, đúng ra là bài đề cao phương pháp phân chia Biển Đông của ông Dương Danh Huy, tôi cho rằng ông đã phạm một sai lầm lớn. Phương pháp phân chia Biển Đông của ông Huy thực ra là một sản phẩm trí tuệ của học giả Mark Valencia (đôi khi tôi viết Marc chữ c thay vì Mark chữ k phía sau vì theo thói quen viết tiếng Pháp). Ông Phạm Quang Tuấn cho rằng nếu phương pháp này có lợi cho VN thì tại sao lại không sử dụng ? Điều này trước hết cho thấy đạo đức của ông Tuấn có vấn đề, nhưng sau đó phương pháp phân chia này không hề có lợi cho VN.
– Về việc phân chia Biển Đông, phương pháp của ông Dương Danh Huy có nhiều khuyết điểm. Việc phân chia bất khả thi, nếu chia theo hình của Ông Dương Danh Huy ở đây. Việc phân chia đã xâm phạm trái phép vùng biển và thềm lục địa của nhân loại. (Nhưng nếu các đảo HSTS có hiệu lực theo qui định của Luật Biển 1982 thì vùng biển còn lại và thềm lục địa của nó sẽ thuộc về VN.) Điều này cho thấy, lúc viết bài này, ông Dương Danh Huy không am tường phần «thềm lục địa mở rộng» của Luật Biển 1982 về Biển. Ông chỉ «copy» công trình của ông Valencia và khai triển một cách máy móc.

– Sau này ông Huy cùng bạn bè điều chỉnh lại, nhưng vấn đề vẫn không thay đổi: Đó cũng là công trình của ông Valencia và VN vẫn là nước duy nhất bị nhiều thiệt hại theo phương pháp phân chia này. Lý do: phương pháp phân chia hải phận các nước đặt giả thuyết lên sự đồng thuận của các bên VN, Phi và Mã Lai. Các bên đồng ý để qua một bên tranh chấp chủ quyền các đảo và các đảo chỉ có hiệu lực 12 tối đa hải lý, sau đó mỗi nước có ZEE 200 hải lý tính từ bờ (hay đường cơ bản). Tôi cho rằng việc phân chia như thế phía VN chịu thiệt thòi nhiều nhất vì các đảo phần lớn thuộc VN. Trong khi đó chỉ có Phi là hưởng lợi nhất theo phương pháp phân chia này. Nghi vấn đương nhiên đặt ra vì sao Phi lại được các ưu đãi này? Mặt khác, phương pháp phân chia không giải quyết hoàn toàn vấn đề, sự bất ổn vẫn tồn đọng, TQ có thể gây hấn bất cứ lúc nào. Do hiệu lực của công hàm của ông Đồng, TQ có thể tấn công các đảo của VN bất cứ lúc nào.

– Tôi cho rằng muốn giải quyết vấn đề Biển Đông trước hết là phải giải quyết chủ quyền các đảo thuộc HS và TS. Các đảo này theo lịch sử thì thuộc Việt Nam nhưng hiệu quả của công hàm của ông Phạm Văn Đồng đã làm cho vô hiệu. Vì cần cảnh báo một đe dọa ảnh hưởng đến quyền lợi đất nước, tôi phân tích ý nghĩa pháp lý của công hàm này, theo đó, công hàm này vẫn còn hiệu lực về pháp lý và lưu ý cần phải hóa giải nó.
– Tôi cho rằng việc hóa giải công hàm này là cần thiết. Tôi đã đề nghị phương pháp hóa giải.
3. Bài «Sơ lược hiện trạng tranh chấp Biển Đông và các phương pháp giải quyết»
Ông Phạm Quang Tuấn viết bài phản biện, nhưng nội dung chỉ chú trọng vào các vấn đề lặt vặt như đá Rockall, vùng nước quần đảo, về nguồn gốc ông Valencia v.v… ngoài ra thì không đả động gì đến các vấn nạn cần phải thảo luận, cho dầu nó quan hệ đến quyền lợi và tương lai đất nước VN. Ngoài ra, ông Tuấn tự cho mình quyền phê bình phương pháp của người khác; ông phê bình, đúng hơn là mạt sát, phương pháp hóa giải công hàm của ông Đồng do tôi đưa ra, trong lúc theo lẽ tự nhiên, muốn phê bình một phương pháp nào đó của ai thì trước tiên mình phải đề xuất phương pháp của mình. Trường hợp cá nhân tôi, khi phê bình phương pháp của ông Valencia mà ông Huy có khai triển lại, trước hết tôi cũng đề nghị phương pháp của mình.
Dầu vậy, tôi cũng viết bài trình bày sơ lược về lịch sử và tình hình tranh chấp các đảo HSTS, giữa VN với các nước chung quanh, nhằm giúp mọi người có một cái nhìn sơ lược về tình hình tranh chấp, để việc thảo luận còn có chút lợi ích. Ý kiến của tôi, để VN không bị mất quyền lợi, vấn đề tranh chấp phải được phân giải bằng một trọng tài quốc tế.
Qua bài này, ông Phạm Quang Tuấn có phản biện, nhưng thực ra là kêu gào, vu tội cho tôi là «xúi VN bỏ Biển Đông», qua vụ hồ sơ «thềm lục địa mở rộng». Tôi có viết bài phản biện lại, thực ra là cắt hai đoạn ngắn trong hai bài viết cũ của tôi, cắt nghĩa cho ông Tuấn biết thế nào là hồ sơ «thềm lục địa mở rộng» của VN. Nhưng nhờ bài viết này mà người ta biết ông Tuấn không có một khái niệm gì về Luật Biển 1982.
Vài nhận xét về hình thức phản biện của ông Phạm Quang Tuấn, tôi thấy ông đã rất xuất sắc trong việc xách động quần chúng. Ông cũng tỏ ra rất khéo léo về các phương pháp che giấu cái sai, cái thiếu hiểu biết vấn đề của mình bằng cách xé to các chuyện lặt vặt của đối phương, rồi đánh lạc hướng, lôi kéo mọi người qua một tranh luận khác, nóng bỏng hơn. Ông Phạm Quang Tuấn mở màn cho cuộc phỉ báng tôi trên talawas. Nhưng về thảo luận khoa học thì hoàn toàn không có gì. Nếu phải chấm điểm thì tôi sẽ cho ông Phạm Quang Tuấn một con zéro to tướng.
Tuy nhiên, ông Phạm Quang Tuấn có thể chứng minh là tôi sai, bằng cách đề ra phương cách hóa giải công hàm của ông Phạm Văn Đồng, hay đưa ra một cái nhìn chiến lược về Biển Đông, hoặc đề ra một phương pháp phân chia Biển Đông với trí tuệ của mình mà không ăn theo, nói leo theo sản phẩm trí tuệ người khác. Tôi sẵn sàng cúi đầu xin lỗi ông và rút lại lời nói trên.
4. Về các bài viết qua lại với ông Dương Danh Huy, chỉ tựu trung hai điểm: Ông Huy cố gắng giải thích việc ông không cầm nhầm sản phẩm trí tuệ của người khác và giải thích các bằng chứng về hiệu lực các đảo nhỏ, xa bờ.
– Về việc cầm nhầm sản phẩm trí tuệ của người khác, ông Huy đưa bằng chứng vòng vo, cho rằng phương pháp này không phải của ông Valencia mà là của người khác. Nhưng tựu trung ông Huy không chứng minh được đó là sản phẩm trí tuệ của mình.
– Về các dẫn chứng, ông Huy đã đưa các thí dụ: «thềm lục địa Bắc Hải, Lybia và Malta, Vịnh Maine, Guniea và Guniea-Bisseau» để chứng minh các đảo TS không có hiệu lực ZEE theo qui định của Luật Biển 1982. Tất cả các dẫn chứng này đều bị tôi chứng minh là sai, vì chúng chỉ nhằm áp dụng cho các đảo nhỏ cận bờ. Trong khi trên thực tế, các đảo xa bờ, có đảo còn nhỏ hơn cả các đảo TS (như đảo Aves của Vénézuela là thí dụ), phần lớn đều có hiệu lực ZEE 200 hải lý.
– Các bài phản biện của ông Huy hầu hết đều không đi vào vấn đề. Ông này vào internet «bưng» nguyên các bài viết của các học giả khác về dẫn chứng, chứng tỏ ta đây hiểu biết, và nhiều người cũng tưởng là như vậy, lên tiếng khen ngợi. Nhưng các dẫn chứng đó đã không sử dụng vào việc gì, ngoài việc làm hoa mắt những người không hiểu biết, tất cả đều không quan hệ đến việc chính là: chứng minh các đảo nhỏ, xa bờ không có hiệu lực ZEE theo luật biển 1982. Người ta chỉ muốn ông đưa các bằng chứng cụ thể về tính vô hiệu lực của các đảo nhỏ xa bờ và không muốn đọc các bằng chứng, các bản án chỉ sử dụng cho các đảo nhỏ, cận bờ.
5. Kết luận về cuộc tranh luận
Vấn đề ông Huy thì đã giải quyết. Chính ông Huy thú nhận phương pháp phân chia Biển Đông mà ông Phạm Quang Tuấn đã viết bài đề cao, là của ai đó chứ không phải của ông Valencia. Việc này cũng có nghĩa là nó không phải là sản phẩm trí tuệ của ông Huy.
Về các bằng chứng các đảo xa bờ không có hiệu lực ZEE, ông Huy không có khả năng đưa ra, vì trên thực tế chỉ có các bằng chứng chứng minh ngược lại, vì thế ông chỉ biện luận loay hoay. Kết luận là ông Huy đã đưa bằng chứng gian, làm thiệt hại cho quyền lợi của VN. Tôi đã kết luận công việc của ông Huy, nay nhắc lại, là dọn sân cho nhà nước «cống» các đảo và phần Biển Đông của VN cho TQ. Việc này hôm nay còn có sự tiếp tay nồng nhiệt của ông Phạm Quang Tuấn.
Về các vấn đề Biển Đông và chủ quyền các đảo, tôi nhận thấy có nhiều điều chưa được tranh luận đến nơi đến chốn. Tôi đặt rất nhiều vấn đề, phản biện rất nhiều điểm, muốn nghe các ý kiến phản biện lại. Thí dụ: Nếu để nguyên trạng như thế công hàm của ông Đồng có làm cho VN bị mất Biển Đông và các đảo HSTS hay không? Giả sử VN thỏa hiệp với hai nước Phi và Mã Lai, việc phân chia Biển Đông diễn ra êm đẹp. Câu hỏi đặt ra: dựa trên tinh thần công hàm của ông Đồng, TQ đưa quân «giải phóng» các đảo VN thì VN sẽ làm gì? Phản ứng các nước kia ra sao? Giả sử VN (hay Phi hay Mã Lai) khám phá được mỏ dầu rất lớn trong vùng biển đã phân chia, lúc đó TQ lên tiếng đòi phần, phản ứng các nước ra sao? Nếu TQ dùng vũ lực thì sẽ ra sao? Có phương cách nào khác để vô hiệu hóa công hàm của ông Đồng? Câu hỏi khác, tại sao lại phản đối hiệu lực các đảo xa bờ thuộc TS, trong lúc nhờ hiệu lực các đảo này VN chiếm hầu hết vùng biển còn lại (sau khi tôn trọng vùng ZEE của các nước)? Người ta có thể thỏa thuận với Phi, Mã Lai nhưng vẫn giữ phần lợi cho VN. Vùng Tu Chính – Vũng Mây sẽ trở thành hoàn toàn của VN nếu đảo Trường Sa có hiệu lực v.v… Nói chung, có rất nhiều giải pháp cho HSTS có lợi cho VN, nhưng không ai tranh luận.
6. Về nguồn gốc ông Valencia
Tôi có dữ kiện cho rằng ông Valencia là người Phi từ nhiều năm trước. Ông Dương Danh Duy cũng vừa nhắc là tôi đã đề cập việc này từ 8 tháng nay. Chấp nhận rằng tôi chỉ mới nói việc này từ 8 tháng nay cho tiện.
Ông Phạm Quang Tuấn có ý nói rằng tôi mới «bịa» ra mấy ngày hôm nay. Vấn đề đã không là như vậy. Nếu tôi «bịa» thì bịa từ tám tháng trước. Nhưng tám tháng trước tôi bịa ra việc này để làm gì? Có ích lợi gì? Tám tháng trước tôi đâu có tranh cãi với ai?
Khi tôi đặt nghi vấn về sự khả tín email của ông Phạm Quang Tuấn thì ông viết một bài về vụ Valencia, cho là tôi «gái đĩ già mồm». Ở đây ai là gái đĩ? Ai già mồm?
Qua các phản biện hay phê bình của các bài hay các góp ý của ông Phạm Quang Tuấn, tất cả đều rỗng về học thuật nhưng rất phong phú về các chuyện lặt vặt. Tôi nhận thấy rằng ông Phạm Quang Tuấn không nắm vững về tình hình Biển Đông, ông chỉ «già mồm» vạch lá tìm sâu, phê bình rất hỗn xược như một thứ «chị em ta» ở chính những điểm mà ông ta cũng biết mình không biết, như vụ «thềm lục địa mở rộng» hay phương pháp hóa giải công hàm của ông Đồng v.v… Ở đây ai là đĩ già mồm? Những điều đó lý ra tôi đã bỏ qua, không nhắc lại.
Tôi vẫn hoài nghi các email của ông Phạm Quang Tuấn, một người mà hôm nay tôi đã chấm điểm zéro về tinh thần khoa học. Tôi cho rằng các email như thế rất dễ ngụy tạo, ai biết chút ít xảo thuật tin học đều có thể làm được. Nhưng điều đáng tiếc là dường như mọi người trên talawas (không vơ đũa cả nắm, những người lên tiếng về việc này) hầu hết đều đứng về phe ông Phạm Quang Tuấn, ngoại trừ một hai người như ông Hòa Nguyễn, Tôn Thất Tuệ…. Việc này cho thấy tinh thần học thuật của người Việt rất kém, chỉ phê phán theo cảm tính, thích các chuyện nhỏ nhưng hiếu động, lánh xa các chuyện lớn do thiếu hiểu biết hay sợ liên lụy, phê phán theo thành kiến, không biết phải trái ra sao. Đất nước nào thì con người ấy. Đất nước VN đã không ra gì vì có quá nhiều những con người không ra gì. Nhân – quả cũng đúng thôi!
Đương nhiên tôi không loại trừ nguồn tin của tôi sai. Vấn đề viết biên khảo không như làm khoa học thực nghiệm. Khoa học thực nghiệm người ta dễ dàng kiểm chứng việc đúng sai các kết quả, các dữ kiện. Trường hợp hai nhà nghiên cứu Đại Hàn Hwang Woo-Suk và Kim Tae Kook ngụy tạo thành quả khoa học đã bị lật mặt một cách dễ dàng qua một vài cuộc thử nghiệm. Các dữ kiện trong bài biên khảo có thể đúng, có thể sai nhưng không dễ dàng kiểm chứng ; vấn đề đặt ra là các dữ kiện sai là do tác giả cố ý ngụy tạo hay do nguồn dẫn sai? Giả sử nguồn dẫn của tôi về ông Valencia sai, các lý lẽ của tôi có ảnh hưởng gì hay không? Khẳng định là ông Valencia có là người Phi hay không thì không ảnh hưởng đến nội dung các lý lẽ của tôi: việc phân chia Biển Đông theo lối của ông Valencia mà ông Huy sử dụng lại vẫn dành nhiều ưu điểm phi lý cho Phi Luật Tân mà không ai giải thích được.
Tôi xác định là nguồn gốc của ông Valencia tôi biết từ nhiều năm trước, không phải «bịa» ra mới đây như ông Phạm Quang Tuấn đã mạt sát.
Tôi có thói quen ít khi «khảo cứu» trên internet, khác rất nhiều với ông Phạm Quang Tuấn và Dương Danh Huy, vì tôi cho rằng kết quả sẽ không đem lại việc gì mới – như tinh thần đòi hỏi của công tác nghiên cứu – mà điều không lường là mình «nhai lại» các ý kiến, các dữ kiện của người khác. Nhai lại cũng là một hình thức đạo văn, đúng, sai cũng có ngày lãnh đủ. Tôi chủ trương việc nghiên cứu nên tham khảo các tài liệu, các dữ kiện «gốc». Thỉnh thoảng tôi vắng nhà vài ngày để đi vào các thư viện, các văn khố các nước để tham khảo tài liệu. Lúc viết bài này, cũng như ở một hai bài trước, là viết lúc tôi vừa đi xa về. Các bài viết của tôi phần lớn khai thác các đề tài chưa ai viết, do tôi có các dữ kiện chưa từng được các học giả VN tham khảo, tôi tự hào về việc này. Hôm nay bị người phê bình là «gái đĩ già mồm», cũng đúng thôi, tôi sẽ còn tiếp tục già mồm như thế để bảo vệ đất nước cho con cháu mình, nếu có thể trên diễn đàn talawas này. Chỉ tiếc là, không biết do tình trạng ma cũ, ma mới – tôi chỉ mà ma mới trên talawas – hay là việc làm của tôi ảnh hưởng đến Đảng CSVN, mà đã có những phê phán rất kỳ thị, rất cá nhân. Tôi không mong có sự thay đổi, vì thái độ đó thể hiện rõ rệt tinh thần của người Việt. Phải biết mình mới hy vọng sửa chữa được.
Trương Nhân Tuấn
Bình luận
62 Comments (bài “Vài lời kết luận về cuộc tranh luận về Biển Đông”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 Trang sau »
Bác Lưu Linh đặt câu hỏi rất là độc đáo, nhưng phần « độc » nhiều hơn phần « đáo ».
Xin phép trả lời câu hỏi đến cá nhân tôi trước, phần câu hỏi về « lịch sử » và « pháp lý » HS&TS xin được góp ý sau.
Tôi có viết như sau : « Các bài viết của tôi phần lớn khai thác các đề tài chưa ai viết, do tôi có các dữ kiện chưa từng được các học giả VN tham khảo, tôi tự hào về việc này. »
Tôi không có viết là tôi « chỉ nghiên cứu và bàn luận những đề tài người khác chưa nói tới ».
Nhưng tôi viết những dòng này không nhằm việc đính chánh này kia.
Thực ra là do may mắn, nhà tôi ở gần Trung Tâm Văn Khố Hải Ngoại (Centre des Archives d’Outre-Mer) tại Aix-En-Provence, Pháp Quốc, do đó tôi có cơ hội thường trực để tiếp cận với các hồ sơ về VN mà phần lớn các học giả VN chưa khai thác (vì không có thì giờ hay vì không có điều kiện).
Tuy nhiên, nhân câu hỏi này, tôi nhìn nhận là tôi viết như thế là quá lố, viết trong một giây phút do nông nỗi hơn là lúc có suy nghĩ. Tôi viết bài đó chỉ trong một đêm và không coi lại. Xin quí vị và bác Lưu Linh bỏ qua cho.
Cảm ơn bác Trương Nhân Tuấn hồi đáp những thắc mắc của tôi về những đụng độ trong quá khứ giữa hải quân TQ và các nước trong khu vực Biển Đông, sự kiện 14/3/1988 khi được chiếu lại trên băng video cho thấy một sự thật hết sức đau lòng về sự tàn ác của Hải quân TQ, đặc biệt là đối với “người anh em” Việt nam, họ bắn giết không tiếc tay, những người lính VN không có trang bị vũ khí nặng và không khiêu khích…Tôi nghĩ, theo tinh thần luật pháp quốc tế, đây có thể gọi là tội ác chiến tranh, hay tội thảm sát (masacre), vì vậy tôi nghĩ những công bố hình ảnh và tư liệu về vụ 14/3/88 rộng rãi là một cách làm mất tư cách và uy tín của TQ trên trường quốc tế, ngày trước VN áp dụng những đòn vận động dư luận thế giới rất tài với Mỹ, mà nay im như thóc,…xấu hổ thật và nhục nhã thật khi những kẻ tàn sát đồng bào, của mình mà vẫn phải gọi là đồng chí.
Không quốc gia có tự trọng nào có thể dung thứ những hành động ngang ngược như thế của TQ.
Bác Hà Minh có ba câu hỏi, thực ra là ba chủ đề mà không chủ đề nào có thể tóm tắt trong vài ba dòng chữ góp ý.
Về câu hỏi thứ nhứt, sự đe dọa của TQ lên dân tộc VN, thực ra việc này phải chia ra làm nhiều thời kỳ lịch sử, sự đe dọa thay đổi tùy theo hoàn cảnh quốc tế và quan niệm địa lý chiến lược của TQ. Nếu chỉ xét thời đại hôm nay, tôi có một bài viết hồi tháng 2 năm 2009, viết về chủ đề « 30 năm nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung », trong đó trình bày rất sơ lược và chủ quan về cái nhìn của TQ đối với VN, đăng ở : http://thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3543 .
Về câu hỏi thứ hai, TQ chưa có gây « thảm sát » tương tự nào ở Biển Đông, nhưng việc này khong phải là sẽ không xảy ra. Giữa TQ và Phi đã có một vài « đụng độ » trong quá khứ do tranh chấp các đảo (rạng đá ) như đá Mischief Reef vào tháng giêng năm 1995. Sau đó, tháng 3 cùng năm, trả đũa, hải quân Phi đã vây bắt 4 thuyền đánh cá của TQ tại đá Alicia Annie Reef . Nhưng vài tháng sau TQ đổ quân bao vây các đảo Loai Ta, Cay Lan Kiam có quân Phi chiếm đóng…
Sau các vụ thách thức leo thang giữa Phi và TQ, VN được nhận vào làm thành viên chính thức của khối ASEAN.
Thêm một hai lời về vị trí và hình thể địa lý của Mischief Reef . Nhóm đá này rất đặc biệt, vốn là miệng của một núi lửa cũ, gồm có 6 « đá » tạo thành hình lục giác, bao quanh một vùng biển lặng (atoll). Các đá này đã được TQ xây dựng như những pháo đài, có mục đích bảo vệ một « hàng không mẫu hạm », đúng ra là một tàu sân bay, được kéo vào vùng biển lặng ở giữa. Việc này cho thấy TQ muốn sử dụng đá này để tạo một căn cứ thường trực cho một lực lượng không quân và hải quân để kiểm soát TS về mặt phía đông.
Về tranh chấp giữa Anh và Argentine ở quần đảo Malouines (Falkland), theo tôi nguyên nhân là do phe quân phiệt Argentine gây chuyện trước. Phe này muốn tạo « biến cố » để lấy lại lòng tin của dân Argentine vì lúc đó nước này bất ổn do tình trạng suy thoái kinh tế và người dân không có niềm tin vào chính quyền.
Thực ra quần đảo này đã thuộc Anh từ năm 1690, nhưng đến năm 1774 thì rút đi (nhưng không bỏ) vì lý do kinh tế. Quần đảo do Tây Ban Nha chiếm đóng cho đến năm 1811. Năm 1820, sau khi loại ảnh hưởng thực dân của Tây Ban Nha, nhà nước Argentine tổ chức một đơn vị hành chánh thuộc địa tại Malouines, nhưng đến năm 1833 thì đảo bị Anh chiếm lại.
Cuộc chiến hai bên xảy ra, có thể xem là lúc quân đội Argentine đưa quân ra chiếm đảo bắt đầu từ tháng 4 năm 1982.
Theo tôi thì không thể đem trường hợp Malouines (Falkland) để so sánh với HS và TS, nếu đồng hóa Anh với Trung Quốc. Ở Malouines, Anh có đầy đủ bằng chứng chúng minh chủ quyền, trong khi ở HS và TS, TQ không có bằng chứng cụ thể.
Khi nhà nước Việt Nam khẳng định chủ quyền về hai quần đảo HSTS, thường nêu dẫn câu đại khái như là Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để khẳng định về chủ quyền của hai quần đảo HSTS. Về bằng chứng lịch sử thì Việt Nam có nhiều bằng chứng nói lên chủ quyền của hai quần đảo. Nhưng về bằng chứng pháp lý thì hầu như không thấy nói tới. Việt Nam lẫn Trung Quốc đều khẳng định chủ quyền của hai quần đảo dựa trên những bằng chứng lịch sử nhiều hơn là pháp lý.
Xin được hỏi Ông Tuấn, Huy và những ai có kiến thức về đề tài HSTS, nếu Việt Nam có những bằng chứng pháp lý để chứng minh rằng Việt Nam có chủ quyền đối hai quần đảo HSTS, thì những bằng chứng đó là gì. Những bằng chứng pháp lý có những điểm mạnh gì và yếu điểm nào.
Riêng câu hỏi này xin được hỏi Ông Huy, đã có những trường hợp hay tiền lệ nào trong đó một quốc gia xin được ý kiến tư vấn(advisory opinion) từ Toà Án Công Lý Quốc Tế để từ đó sử dụng thành cơ sở của hồ sơ pháp lý trong mình. Nếu có, những trường hợp hay tiền lệ đó có thể sử dụng trong trường hợp HSTS hay không.
Đặc biệt, câu hỏi này xin được hỏi Ông Tuấn, như ông đã có nói tới, ông chỉ nghiên cứu và bàn luận những đề tài người khác chưa nói tới, theo như ông, thì những đề tài và khía cạnh gì và sự quan trọng của nó trong vấn đề HSTS mà cần phải được nghiên cứu, bàn luận hay để ý tới ngoài những đề tài đã được nói tới hay bàn luận.
Rất mong được hai ông phúc đáp để mở mang sự hiểu biết.
Ông DD Huy viết:
…giữa 2 thái cực này:
1. HSTS được 100% hiệu lực trong việc tính EEZ.
2. HSTS được 0% hiệu lực trong việc tính EEZ.
Có vô số giải pháp khác có thể hợp lý, eg,
và:…
4. VN + DNA + thế giới gây sức ép để TQ chấp nhận chủ trương đó.
Về lý thuyết hay toán học có vô số giải pháp giữa 0% và 100% EEZ, nhưng UNCLOS chỉ quy định hai trường hợp: Đảo tính như đất liền, tức được EEZ 200 HL, và Đá không được EEZ. UNCLOS không nói tới phương thức hay định chế nào có thẩm quyền sửa đối quy định trên. Không thể dùng toà án quốc tế phân xử theo luât khác với UNCLOS, cho những nước đã gia nhập UNCLOS. Ngay chuyện đi hỏi LHQ cái “lưỡi bò” của TQ như thế có hợp pháp không, chắc cũng không ai trả lời . VN và ĐNA với cả thế giới (nếu vận động được sự ủng hộ)cũng không thể làm TQ thay dổi chủ trương riêng của họ (như không thể làm Bắc Triều Tiên, Iran từ bỏ việc chế tạo vũ khí nguyên tử).
Trong thực tế, TQ đã áp dụng EEZ 200 HL cho các đảo họ chiếm ở Hoàng Sa, do đó đã chia vùng biển từ HS tới đảo Lý Sơn (tức cù lao Ré, Quảng Ngãi) theo trung tuyến (chính thức hay mặc nhiên chia thế tôi không biết). Nếu hải phận các đảo HS được quy định 12 HL (theo công hàm PVĐ công nhận thế), EEZ của VN sẽ ra gần sát đảo gần nhất ở HS (khi mà TQ còn chiếm giữ HS, bằng không sẽ còn rộng hơn).
Có thể TQ đã áp dụng EEZ 200 HL tính từ đảo ở TS, nên mới phản đối VN thăm dò dầu ven vùng Tư Chính- Vũng Mây. Về việc này ông Chaien từng ra chơi các giàn khoan dầu VN ỏ đó có thể biết rõ.
Tôi muốn sáng tỏ với ông Huy một điểm trong góp ý trước. Khi viết “Theo suy đoán…”, tôi đã viết ban đảu là “của ông…”,chớ không phải là suy đoán của tôi (tôi viết theo trí nhớ khi đọc những bài tranh luận dài và căng thẳng ). Vê sau, khi góp ý quá dài, không còn chỗ để thêm chữ , tôi phải cắt bớt mấy chữ đã viết ở trên. Thành ra không hết ý.
Có lẽ suy đoán gí về ngưới khác cũng dễ rơi vào chỗ không đúng, nên tôi muốn thành thật viết điều mình cảm nhận khi đọc người khác, và dù vẫn có sai trong nhận xét vội vàng nhưng dễ được thông cảm.
Tuy tôi không nói nhiều về khía cạnh này (dù có nói sơ sơ), nhưng thật ra giữa 2 thái cực này:
1. HSTS được 100% hiệu lực trong việc tính EEZ.
2. HSTS được 0% hiệu lực trong việc tính EEZ.
Có vô số giải pháp khác có thể hợp lý, eg,
3. Cho là các đảo được 24 HL EEZ (hay 36, 48, vv).
4. Cho mỗi đảo EEZ tuỳ theo kích thước của nó, eg,
_0.25 km2: 12 HL lãnh hải.
_0.5 km2: 24 HL EEZ.
_1 km2: 50 HL EEZ hay 25% hiệu lực.
Hay những con số khác theo nguyên tắc tương tự.
Thật ra giải pháp này khá “có lợi” cho VN vì những đảo lớn ở gần các nước khác hơn VN. VN được đòi nhiều biển trong các vùng 200 HL từ bờ những nước này, nhưng họ được đòi ít biển hơn trong các vùng 200 HL từ bờ VN.
Chỉ “có điều” các nước kia không ngu gì chịu. Cho nên khó thực hiện được điều “có lợi”.
5. Cho là bên ngoài vùng EEZ 200 HL EEZ từ lãnh thổ không bị tranh chấp (ie vùng giữa Biển Đông) thì các đảo được 25-100% hiệu lực trong việc tính EEZ. Nhưng bên trong vùng EEZ 200 HL EEZ từ lãnh thổ không bị tranh chấp thì các đảo được 0-25% hiệu lực trong việc tính EEZ.
6. Xin Toà ban ý kiến tư vấn là mỗi đảo được bao nhiêu HL EEZ.
Hê hê, thế thì tôi xin nhận đã sai và sẽ không mất thêm thời giờ cho mấy chuyện này nữa. Theo cách tôi hiểu thì bác Huy chỉ tập trung vào vấn đề pháp lý chủ quyền biển Đông/Nam Trung Hoa mà thôi, mà đó thì lại ngược với mối quan tâm mở rộng kiến thức của tôi. Chúc các bác khoẻ và hăng hái tranh luận tiếp.
À, bác nào muốn ra biển Đông chơi cho biết thì có thể liên hệ với 4so9.com nhé, hội trưởng là Nguyễn Anh Nguyên cũng là một thanh niên thuộc loại nổi tiếng ở Vn. Bây giờ đang là mùa đi biển tốt, trước trận bão số 1 vào cuối tháng 5 đầu tháng 6. Các bác có thể ra tận Hoàng Sa hoặc Trường Sa tùy mức độ chịu say sóng và tiền thuê ghe nhé.
@Bác TN Tuấn
Nếu VN đơn phương chủ trương các đảo TS chỉ có hiệu lực 12 hải lý thì đây là một quyết định dại dột, vì nó chỉ áp dụng cho VN mà không ảnh hưởng gì đến quyết định của TQ và các nước khác, do đó chỉ đem thiệt thòi riêng cho VN.
Tôi không nói VN đơn phương áp dụng “TS chỉ được 12 hải lý” cho mình (X).
Chủ trương của tôi là:
1. VN nên có chủ trương đó.
2. VN nên vận động DNA có chủ trương đó.
3. VN + DNA nên vận động thế giới ủng hộ chủ trương đó.
4. VN + DNA + thế giới gây sức ép để TQ chấp nhận chủ trương đó.
Nếu DNA hay TQ không chấp nhận thì không có gì trong luật quốc tế ràng buộc VN phải áp dụng cho mình.
Như vậy rất khác với (X).
Rõ ràng trong bức thư ngỏ trên báo Manila Times
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2008/11/081121_manilatimes_asean_sea.shtml
chúng tôi kêu gọi 5 nước VN, Phi, Mã, Bru, Indo có cùng quan điểm đó để đối trọng TQ.
@Bác Hà Minh
Cho tới nay TQ chưa giết binh lính của nước khác, chỉ giết binh lính Việt Nam. Binh lính VN, Phi, Mã chưa giết nhau.
Ngư dân thì, trước đây tôi có theo dõi 1 website quốc tế về tranh chấp nghề cá, thỉnh thoảng các nước (kể cả VN) vẫn bắt ngư dân của nhau, trong vài năm qua có 1 vài trường hợp ngư dân VN bị Indo hay Mã bắn chết, nhưng báo chí chỉ đăng rầm rộ trường hợp ngư dân VN bị TQ bắn chết.
Về quan hệ Việt-Trung, ngày xưa Nhật có “Thoát Á Luận”, ngày nay VN cần một “Thoát Trung Luận”.
@Bác Hoà & TN Tuấn
Tôi nói là nếu CH PVD có hiệu lực ràng buộc về lãnh thổ đối với CHXHCNVN thì dân chủ hoá, hoà hợp hoà giải dân tộc cũng không vô hiệu hoá được hiệu lực của nó.
Tôi cho rằng những người chống lại việc « dân chủ hóa VN » là vì họ sống nhờ chế độ này, họ có bổn phận bảo vệ, bất kể ảnh hưởng tồi tệ của một chế độ độc tài lên đất nước này ra sao.
Điều tôi nói không phải là chống dân chủ hoá, HHHG. Điều tôi nói rất khác chống dân chủ hoá, HHHG. Trong cuộc thảo luận này chưa có ai chống dân chủ hoá, HHHG.
Tôi cũng không nói không cần xử lý CH PVD. Ông Lê Minh Phiếu (sinh viên TS luật ở Pháp, người viết thư phản đối bản đồ rước đuốc Olympic) và tôi có bàn rất nhiều về việc này. Chưa tới lúc để nói ra thôi.
Nhân việc được chứng kiến tận mắt cảnh “tàn sát” (masacre) trên đảo Gạc Ma 14/3/88 với đồng bào mình, tôi muốn hỏi các bác rằng, một nước đã ỉ mạnh hiếp yếu một cách trắng trợn như thế (không thương thảo, không ong đơ gì hết… bắn) thì thử hỏi liệu đến ngày nào tháng nào trong tương lai, tất cả các đảo của VN hiện đang chiếm giữ sẽ lần lượt bị “cướp” trắng như vậy, ngoài ra câu hỏi thứ hai (rất bức xúc) của tôi, đã có hải quân nước nào trong tất cả các nước tham gia tranh chấp ở Trường Sa (Brunei, Indo, Malai, Phi, Đài loan) bị TQ dùng hải quân “tàn sát” (kể cả ngư dân) như trường hợp của Việt Nam hay chưa? Thế giới, LHQ phản ứng ra sao, những tiền lệ chiến tranh biển đảo như vụ Falkland/Malvinas có kết thúc đẫm máu (theo wikipedia: 258 British and 649 Argentine deaths). Đề nghị những vị nào đã nghiên cứu về vấn đề này cho lời giải đáp, không hiểu sao lại có thứ láng giềng “khốn nạn” như vậy và những dân tộc chịu cúi đầu như vậy? Và tại sao chỉ VN bị xử “ép” như vậy?
Xin góp ý với bạn Hòa Nguyễn : Về hải phận của các đảo HS và TS, theo tôi sẽ khó mà đơn phương đòi hỏi nó chỉ có lãnh hải 12 hải lý, nếu dựa vào ý nghĩa của công hàm ông Đồng. Theo tôi hiệu lực các đảo chỉ được qui định do các bộ luật quốc tế về biển, mới nhất là bộ luật năm 1982.
Công hàm của ông Đồng là ý kiến, là quan điểm của một nước, một chính phủ về tuyên bố của một nước khác, ở đây là tuyên bố về lãnh hải của TQ năm 1958. Do đó nó không có tư cách để xác định giá trị nội tại hay những qui luật quốc tế áp dụng cho các đảo.
Trong vấn đề tranh chấp hiện nay về chủ quyền các đảo HS&TS và hải phận biển Đông giữa các nước trong vùng, tôi nghĩ việc quan trọng nhất là VN nên tìm hiểu đối thủ các « đối thủ » của mình, xem các đòi hỏi của họ như thế nào ? Các quyết định của VN phải uyển chuyển cheo các đòi hỏi đó.
Theo tôi, đối thủ nguy hiểm nhất của VN là TQ. Đòi hỏi của TQ là « tất cả » các đảo với hải phận được xác định khoảng 80% biển Đông, bao gồm hầu hết đảo và biển của VN. Đòi hỏi của họ đặt lên nền tảng cho rằng họ có chủ quyền các đảo HS&TS. Nền tảng này được xây dựng phần lớn do dư luận quốc tế và công hàm của ông Đồng cùng các tuyên bố của các viên chức ngoại giao khác của VN dưới thời VNDCCH. Ta thấy « nền tảng » đòi hỏi của TQ rất yếu, mặc dầu ở đây tôi không nói đến mảng « lịch sử » của TQ, nhưng họ đã tận dụng để xoa dịu dư luận sau khi đánh chiếm các đảo của VN năm 1974 và 1988.
Như thế, theo tôi, thuơng thuyết vói TQ là cần thiết, nhưng với lập trường « ăn cướp » của họ ta không thể để lộ các ý tưởng hèn yếu hay những toan tính nhưọng bộ. Để lộ ra là thua lớn. Thay vào đó ta phải khai thác các việc nhằm phá bỏ « nền tảng » lý luận về chủ quyền của TQ, bằng đủ mọi cách.
Do đó việc trước tiên theo tôi là phải vô hiệu hóa công hàm của ông Đồng cùng ảnh hưởng của chế độ VNDCCH. Các việc này tôi đã khai triển trong các bài trước của tôi, không nhắc lại.
Nếu VN đơn phương chủ trương các đảo TS chỉ có hiệu lực 12 hải lý thì đây là một quyết định dại dột, vì nó chỉ áp dụng cho VN mà không ảnh hưởng gì đến quyết định của TQ và các nước khác, do đó chỉ đem thiệt thòi riêng cho VN. Sau này VN muốn tuyên bố ngược lại thì không phải dễ dàng. Mặt khác, quyết định về hiệu lực các đảo TS cũng là quyết định chiến lược của VN trong hồ sơ thềm lục địa mở rộng.
Về hiệu lực của ông Đồng trước một tòa án quốc tế tôi cũng đã từng phân tích. TQ hiện nay không cần phải đưa ra tòa án quốc tê phân xử vì họ mạnh. Họ có thể dựa theo công hàm của ông Đồng để « giải phóng » các đảo thuộc VN bất cứ lúc nào. Theo tôi, việc này sẽ xảy ra trong tương lai rất gần, nếu VN không có lực đối trọng lại. Do đó VN cần phải nhanh chóng « vô hiệu hóa » công hàm này để TQ không còn lý do xâm lược. (Nhưng không phải vì vậy mà họ từ bỏ tham vọng xâm lược ! Chung cuộc vẫn là một tòa án quốc tế, nhưng lúc đó TQ không dại gì đưa vụ tranh chấp ra tòa, vì họ chắc chắn thua. VN nhờ có được một căn bản vững chắc, sẽ được hậu thuẩn của quốc tế trong các dự án tương lai).
Về chủ trương dân chủ hóa VN của tôi, tôi vẫn nghĩ đây là một cần thiết để VN có thể tiến bộ. Nhưng dân chủ hóa thế nào ? theo quá trình nào ?
Nhiều người lo ngại việc dân chủ hóa sẽ đem lại hỗn loạn và làm VN suy yếu. Đièu này hoàn toàn thuyết phục, do đó VN phải có một lịch trình dân chủ hóa ổn, vững để hỗn loạn không xảy ra. Tôi có đề nghị giải pháp « hòa giải dân tộc » trong bài trước. Đương nhiên còn có nhiều giải pháp khác nhưng chưa thấy ai đề nghị ra ?
Tôi cho rằng những người chống lại việc « dân chủ hóa VN » là vì họ sống nhờ chế độ này, họ có bổn phận bảo vệ, bất kể ảnh hưởng tồi tệ của một chế độ độc tài lên đất nước này ra sao. Nhưng đây là chủ đề khác, tôi không lạm bàn.
@Bác TN Tuấn
Thực ra, phản ứng của tôi trong các bài viết, vẫn thấy không ăn thua gì trước sự hy sinh xương máu của hàng trăm, hàng ngàn, có khi hơn… để bảo vệ một tất đất của tổ tiên.
…Chúng ta cần phản lên tiếng ngay bây giờ về Biển Đông, để tránh việc quá trễ, gây thiệt hại cho VN như đã thấy.
Thật ra không ai có độc quyền, độc tài, độc năng để nhận định thế nào là gây thiệt hại cho Việt Nam.
Thí dụ như tôi cũng có quyền cho là theo đuổi cái lưỡi bò liếm ngang là gây thiệt hại cho VN, sẽ dẫn tới việc TQ chiếm nhiều thêm, tôi phải lên tiếng ngay kẻo quá trễ.
Nhưng tôi vẫn không có quyền đả kích cá nhân người đối thoại với lý do tôi thì bảo vệ lãnh thổ tổ tiên để lại, người đối thoại thì gây thiệt hại.
Nếu tôi đả kích cá nhân người đối thoại thì tôi không thể so sánh việc làm của tôi với việc những anh hùng hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước.
Theo suy đoán, ông Huy chủ trương các đảo ở HS và TS (nên) có lãnh hải 12 HL, theo công hàm khi công nhận đòi hỏi của TQ năm 1958.
Tôi theo chủ trương các đảo TS chỉ được 12 HL lãnh hải, không phải là vì theo CH PVD.
Tôi cho CH đó là 1 CH đáng bị phê phán.
Ông Huy cũng nêu giả định nếu TS thuộc về TQ thì vùng Tư Chính-Vũng Mây vẫn thuộc về VN (nếu các đảo TS chỉ có lãnh hải 12 HL), và điều này mở đầu cho loạt bài của ông Tuấn.
Mục đích của giả định đó là nêu ra tính chà đạp lên công lý của TQ, chứ không phải để nói không cần TS, cho TQ cũng được, như nhiều người hiểu lầm.
Thi dụ rất nhỏ: câu tôi trích trong UNCLOS được ông Huy cung cấp ngay bản dịch, có lẽ đã được sử dụng ở chỗ khác:
3. Rocks which cannot sustain human habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone or continental shelf.
Ông Huy dịch: “Đá” không tự có đủ điều kiện cho sự cư trú và đời sống kinh tế riêng không được hưởng quy chế EEZ 200 HL và TLD.
Không chính xác bằng: “Đá không tự duy trì được sự cư trú hay đời sống kinh tế của con người không có EEZ hay thềm lục địa”. “Hay”(or) chứ không phải “Và”, chỉ cần một điều kiện.
Cảm ơn bác đính chính điều đó. Tôi hoàn toàn nhận là tôi đã nhớ và paraphrased sai ở từ bác chỉ.
Nhưng cũng xin nói thêm là đó là paraphrase cho bài trên Talawas chứ không phải bản dịch.
Cảm ơn bác.
@Bác TN Tuấn
Anh Dương Danh Huy viết thế này : « Tôi không hề nói phương pháp phân chia Biển Đông là sản phẩm trí tuệ của tôi, tôi đã nói từ cách đây 7 tháng là nó là của người khác (không phải của Valencia). »
Tôi có bằng chứng ở đây :
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/08/080818_georgiaeastsea.shtml
Anh không hề ghi chú chi cả.
Trong bài đó, hay ở bất cứ nơi nào khác, tôi không hề nói nó là sản phẩm trí tuệ của tôi, tôi đã nói từ cách đây 7 tháng là nó là của người khác (không phải của Valencia).
Tồn tại 2 quan điểm thái cực về HSTS:
1. HSTS được 100% hiệu lực trong việc tính EEZ.
2. HSTS được 0% hiệu lực trong việc tính EEZ.
Tôi không cho là mỗi lần ai nêu ra quan điểm (2), kể cả trên 1 kênh đại chúng như BBC thay vì 1 kênh học thuật, thì phải chú thích nó là sản phẩm trí tuệ của ai.
Thật sự khó biết được quan điểm/giả thuyết (2) là sản phẩm trí tuệ của ai để mà ghi chú (tôi chỉ biết chắc nó không phải của tôi, mà Valencia cũ không phải là người đầu tiên công bố nó).
Như thế, theo bà Monique Chemillier-Gendreau nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN có thể lực chọn để kế thừa VNCH mà không kế thừa VNDCCH.
Tôi không đồng ý với giải thích của bác về những gì MCG viết.
Bà ấy viết CH PVD không có giá trị về chủ quyền d/v HSTS, chứ không viết là nó có giá trị nhưng CHXHCNVN có quyền chọn không thừa kế nó.